Mô hình phát triển khu kinh tế qua biên giới của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 57

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

---------------------

NGUYỄN THỊ TRÀ GIANG

MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ QUA BIÊN
GIỚI CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Hà Nội – 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

---------------------

NGUYỄN THỊ TRÀ GIANG

MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ QUA BIÊN
GIỚI CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
Mã số: 60 31 01 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành luận vănnày.
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến PGS.TS. Nguyễn Anh Thu – Phó Hiệu
trưởng Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp
đỡ về kiến thức, phương pháp nghiên cứu, phương pháp trình bày để em có thể hoàn
thiện luận văn này.
Cuối cùng, em xin dành lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài luận văn
này.
Em xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

ADB

Ngân hàng phát triển Châu Á

2


Nội dung

1

Bảng
1.1

2

Bảng
3.1

3

Bảng
3.2

4

Bảng
3.3

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang
Campuchia giai đoạn 2007 - 2016

64

5

Bảng

1

Hình
3.1

Dự báo 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới đến năm 2030

48

7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng như hiện nay thì xu
hướng hợp tác kinh tế khu vực biên giới cũng phát triển hơn trước nhằm tạo ra
các lợi ích chung giữa các quốc gia có chung đường biên giới. Thực tế, trên
thế giới đã có nhiều mô hình hợp tác kinh tế khu vực biên giới được hình
thành và phát triển, tạo ra nhiều lợi ích về kinh tế, xã hội cho các nước.
Các nghiên cứu về mối quan hệ hợp tác qua biên giới cho rằng ở mức
độ hội nhập cao nhất (vùng biên giới hội nhập), các quốc gia láng giềng đã
loại bỏ phần lớn các rào cản chính trị, cũng như các rào cản về mặt thương
mại và luân chuyển lao động qua biên giới

[2].

Mối quan hệ tương tác này

được thiết lập một cách thuận lợi trong điều kiện cả hai quốc gia đều có sự ổn
định về mặt chính trị, cũng như tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã

2. Câu hỏi nghiên cứu
Việt Nam cần phát triển mô hình khu kinh tế qua biên giới trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như thế nào?
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu mô hình phù hợp để phát triển khu kinh tế qua biên giới của
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
3.2.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ đặt ra của đề tài là:
- Thứ nhất, nghiên cứu những lý luận về xây dựng mô hình phát triển
khu kinh tế qua biên giới của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế.
- Thứ hai, nghiên cứu mô hình phù hợp để phát triển khu kinh tế qua
biên giới của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
9


-Thứ ba, đề xuất mô hình phù hợp để phát triển khu kinh tế qua biên
giới của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình phát triển khu kinh tế qua
biên giới của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

1.1.1. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu
1.1.1.1. Tình hình nghiên cứu trongnước
Ở trong nước, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về mô
hình khu kinh tế qua biên giới, được thể hiện qua các công trình nghiên cứu
tiêu biểu như sau đây:
- Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm
quốc tế trong việc xây dựng, quản lý và phát triển khu kinh tế xuyên biên
giới. Kỷ yếu gồm 14 bài viết của nhiều tác giả đến từ các trường đại học, các
Viện nghiên cứu khác nhau trên cả nước xung quanh các vấn đề về: Sự cần
thiết và vai trò của hợp tác kinh tế biên giới và khu kinh tế qua biên giới;
Các vấn đề lý luận, thực tiễn của các khu hợp tác qua biên giới của Việt Nam
với các nước láng giềng; Kinh nghiệm quốc tế và các khu hợp tác kinh tế
biên giới.
- Phạm Sỹ Thành, “Khu hợp tác kinh tế qua biên giới với Trung
Quốc: Mô hình “hai nước một khu đang đi tới đâu?”, thesaigontimes.vn,
2017. Trong công trình nghiên cứu này, tác đã trình bày tương đối đầy đủ
các nội dung liên quan đến khu hợp tác kinh tế qua biên giới của Việt Nam
với Trung Quốc, từ quá trình hình thành ý tưởng đến lộ trình thực hiện ý
tưởng xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới của Việt Nam với Trung
Quốc.
- Doãn Công Khánh, “Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Việt Nam Trung Quốc: Thực trạng và triển vọng, Tạp chí cộng sản, 2017. Công trình


nghiên cứu đã nêu một số nét tổng quan về khu hợp tác kinh tế qua biên
giới; Tiềm năng hợp tác kinh tế, thương mại qua biên giới Việt - Trung.
- Nguyễn Mạnh Hùng, “các mô hình phát triển khu kinh tế cửa
khẩu”, Tạp chí công thương, 2009: Tác giả đã đưa ra một số mô hình tiêu
biểu về các khu kinh tế cửa khẩu: Nguyên tắc chung và nội dung của các mô
hình đưa ra.

Nam và Quảng Tây (Trung Quốc), đề tài NCKH cấp Bộ, Bộ Công
Thương, TS. Nguyễn Văn Lịch, 2005. Công trình đã nghiên cứu cơ sở lý


luận cũng như thực tiễn phát triển quan hệ thương mại của Việt Nam,
đặc biệt là quan hệ thương mại của các tỉnh biên giới Việt Nam với 2
tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (Trung Quốc). Trên cơ sở đó, công trình
nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp để thúc đẩy phát triển quan hệ
thương mại với hai tỉnh của Trung Quốc nói chung và thúc đẩy phát triển
thương mại biên mậu với hai tỉnh của Trung Quốc nói riêng.
-

Đỗ Tiến Sâm (2013), Cơ chế hợp tác phát triển giữa các tỉnh Tây Bắc
(Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc): Với việc nghiên cứu cơ chế,
chính sách hiện tại cũng như nghiên cứu các điều kiện tác động, tác giả
đã có những đề xuất hợp tác phát triển giữa các tỉnh Tây Bắc (Việt Nam)
và Vân Nam (Trung Quốc).
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu ngoàinước
Ở ngoài nước, nghiên cứu về phát triển các khu kinh tế (KKT), KKT

nói chung, KKT qua biên giới được nhiều tác giả nước ngoài quan tâm, được
thể hiện qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau đây:
-

LORD, M. & TANGTRONGJITA, P. 2014. Scoping Study for the
Special Border Economic Zone (SBEZ) in

the Indonesia-Malaysia-

Thailand Growth Triangle (IMT-GT): Các tác giả đã nghiên cứu những

a. Khu kinh tế
Đặc khu kinh tế (SEZ)1 là một thuật ngữ dùng để chỉ một đơn vị hành
chính/vùng lãnh thổ được lập ra vì mục đích phát triển kinh tế rõ rệt hơn
những vùng còn lại của quốc gia. Các ngành nghề và doanh nghiệp hoạt
động trong đó được hưởng chính sách pháp luật và các ưu đãi đặc biệt hơn
những khu vực khác. Như vậy, các SEZ là một khu vực nằm trong lãnh thổ
một quốc gia, mục đích của SEZ bao gồm: Gia tăng thương mại, tăng cường
đầu tư, tạo việc làm và quản lý hiệu quả. Khi gia nhập hoạt động trong đặc
khu kinh tế, các doanh nghiệp có thể miễn nhiễm với pháp luật quốc gia liên
quan đến thuế, hạn ngạch, lao động và những nội dung pháp luật khác nhằm
tạo ra các hàng hóa có mức giá cạnh tranh trên qui mô toàn cầu.2
1 />hl=vi&sl=en&u= />2 />

Theo Nghị định Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm
2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế thì khu kinh
tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh
doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định,
được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định. Khu kinh tế được
tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu
chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư,
khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng
khu kinhtế.
Như vậy, hiểu một cách chung nhất, khu kinh tế là một khu vực có
ranh giới, diện tích, địa lý xác định được các quốc gia lập với nhiều chính
sách đặc biệt, đặc quyền để tạo ra giá trị lợi ích tối đa trong việc tăng
trưởng nền kinh tế khu vực. Với những đặc điểm như trên, mô hình khu kinh
tế đã được các nước áp dụng một cách linh hoạt, xây dựng các mô hình khu
kinh tế khác nhau phù hợp với các điều kiện của mình.
b. Khu kinh tế qua biên giới
Cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào về


định nghĩa là một khu vực

nằm dọc biên giới của hai quốc gia.

địa lý có ranh giới, với

Đây thường là một khu vực dự án song

chính sách quản lý duy nhất,

phương nhằm hướng tới một loạt các

có các ưu đãi đặc biệt và các

hoạt động như xây dựng cơ sở hạ tầng,

lợi ích khác đối với các

xây dựng trung tâm vận tải và logistics,

công ty nằm trong Khu,

thuận lợi hoá thương mại và đầu tư

đồng thời có khu vực thuế

xuyên biên giới. Trong một số trường

quan riêng biệt với lợi ích


tăng, loại bỏ hoàn toàn các

nhập khẩu (ii) được tạo thuận lợi trong

chi phí địa phương. Các ưu

việc xin giấy phép và các quy trình

đãi này là nhằm giảm chi

quản lý khác,(iii) các doanh nghiệp

phí sản xuất trong vùng, từ

thường được miễn thuế VAT, thuế

đó tạo cơ hội để bán các sản

doanh nghiệp và thuế địa phương. Tuy

phẩm này với giá rẻ hơn so

nhiên, SBEZ sẽ bao gồm các cấu phần

với việc sản xuất ởcác địa

khác để hỗ trợ sự kết nối giữa khu vực

bàn khác ở quốc gia đó.

cơ sở hạ tầng mềm liên quan đến (a)
quản trị (luật kinh doanh và các luật lệ
ảnh hưởng đến thuận lợi hoá thương
mại, đầu tư và tài chính); (b) cơ sở hạ
tầng kinh tế (bao gồm các cơ sở và hệ
thống hạ tầng logistics, tài chính và kho
bãi), và (c) hệ thống cơ sở hạ tầng xã
hội (các thị trấn biên giới, hệ thống giáo
dục và nghiên cứu, hệ thống ý tế và
phúc lợi xã hội). Phạm vi rộng bao gồm
cơ sở hạ tầng cứng và mềm cần thiết
trong khu vực lãnh thổ chung của hai
quốc gia cần có sự phối hợp chặt chẽ về
mặtthể chế cho việc lập kế hoạch
chung và quản lý luồng hànghoá và
dịch vụ qua biên giới cũng như sự di
chuyển của người dân qua biên giới.


Nguồn: Tác giả Nguyễn Anh Thu, Nguyễn Thị Thanh Mai, 2017
Trong khuôn khổ luận văn này, Khu kinh tế qua biên giới được hiểu là
khu kinh tế đặc biệt nằm ở khu vực biên giới giữa các nước láng giềng, là
khu kinh tế mở về không gian và thể chế kinh tế tạo điều kiện thuận lợi nhất
cho các quốc gia trong việc phát triển kinh tế, xã hội.
1.2.1.2. Mô hình phát triển khu kinh tế qua biên giới
Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá
trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật: từ trình độ thấp lên trình
độ cao hơn, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Sự phát triển của một sự
vật hiện tượng là sự biến đổi tốt lên, hoàn thiện hơn của sự vật hiện tượng
đó. Bởi vậy, thuật ngữ phát triển thường được dùng để miêu tả quá trình biến

Trung Quốc, Việt Nam đang chịu thâm hụt lớn trong cán cân thương mại;
hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung có năng lực cạnh tranh thấp
hơn Trung Quốc. Trong ngắn hạn, việc xây dựng khu kinh tế qua biên giới
với Trung Quốc có thể sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn cho Trung Quốc; nhưng
về dài hạn, lợi ích có thể cân bằng hơn nếu năng lực cạnh tranh của Việt
Nam được cải thiện và hai nước có được mô hình khu kinh tế qua biên giới
phù hợp và hài hòa lợi ích của hai nước. Do đó, vấn đề đặt ra là cần giải bài
toán về mối quan hệ lợi ích giữa Việt Nam và nước láng giềng, giữa lợi ích
ngắn hạn và dài hạn/ chiến lược, giữa lợi ích cục bộ (của địa phương) và lợi
ích tổng thể (của đất nước) [2].
(2)

Kết nối cơ sở hạ tầng.

Mô hình khu kinh tế qua biên giới có đặc thù là nằm trong khu vực
biên giới của hai nước, nên việc kết nối đồng bộ cơ sở hạ tầng, nhất là hạ
tầng giao thông, kho tàng, bến bãi…, vừa là yêu cầu bắt buộc vừa là tính
chất nổi trội của khu kinh tế qua biên giới so với các mô hình khu kinh tế
cửa khẩu. Vấn đề này đặt ra yêu cầu hai nước phải phối hợp xây dựng một
quy hoạch tổng thể chung về cơ sở hạ tầng của khu kinh tế qua biên giới để
bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất và kết nối hạ tầng. Nếu không làm được
điều này, việc xây dựng khu kinh tế qua biên giới sẽ lại quay trở về tính chất
của khu kinh tế cửa khẩu, dẫn đến hai nước đầu tư trùng lặp, thiếu đồng bộ,
thiếu kết nối, lãng phí nguồn lực [1].


Bên cạnh đó, mặc dù có thể có phạm vi và ranh giới địa lý, song khu
kinh tế qua biên giới cũng cần phải kết nối với nền kinh tế của mỗi nước, mà
trước hết là kết nối hạ tầng. Do đó, bên cạnh có một hệ thống cơ sở hạ tầng
đồng bộ và thống nhất trong phạm vi khu kinh tế qua biên giới, hệ thống hạ

triển khu kinh tế qua biên giới, theo đó xác định mỗi nước sẽ xác định những
hạng mục hạ tầng nào? nguồn vốn lấy ở đâu (nhà nước hay tư nhân hay
PPP)?... Đây thực chất là bài toán xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích- chi phí
của hai nước trong phát triển khu kinh tế qua biên giới mà trên thực tế không


dễ sớm đạt được thỏa thuận. [Nguyễn Anh Thu và Nguyễn Thị Thanh
Mai,2017]
1.2.3. Các nhân tố hình thành khu kinh tế qua biên giới
Mô hình CBEZ được Lalkaka và cộng sự (2011) đưa ra gồm 6 yếu tố:
-

Các điểm cửa khẩu có công nghệ tiên tiến bao gồm các dịch vụ hải quan,
kiểm dịch và xuất nhập cảnh.

-

Cơ sở hạ tầng hiện đại kết nối các CBEZ với các thị trường trong nước
chủ yếu bao gồm các đường cao tốc, đường sắt, đường thuỷ và cơ sở hạ
tầng về viễn thông và điện.

-

Các khu thương mại: Các CBEZ sẽ bao gồm các chợ kết nối các nền
kinh tế hai bên biên giới, các khu mua sắm hàng miễn thuế, các dịch vụ
hậu cần và thuận lợi hoá thươn gmại.

-

Các khu doanh nghiệp.

tham gia vào chuỗi giá trị vùng hoặc toàn cầu thông qua tăng hàm lượng
sản phẩm nhập khẩu vàbằng cách tạo ra nhiều giá trị hơn thông qua hàng
hoá dịch vụ trung gian xuất khẩu tới cácnước láng giềng [1].

-

Vận tải và logistics: Đây là một cấu phần quan trọng của SBEZ bởi vì
các chi phí thương mại liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá và con
người dọc hành lang là một phần quan trọng để các công ty quyết định
có sẽ sàng đặt tại khu vực biên giới hay không [1].

-

Khung khổ pháp lý: Để thu hút các doanh nghiệp tới khu vực biên giới
thì chính phủ phải được ra các chính sách hợp lý tạo điều kiện phát triển
phù hợp nhất cho các SBEZ.

-

Chiến lược phát triển kinh tế -xã hội cho khu vực: Điểm khác biệt giữa
SBEZ và SEZ chính là sự tích hợp chiến lược Khu với chiến lược phát
triển của khu vực biên giới xung quanh

[1].

Trong dài hạn, sự thành công

của SBEZ sẽ được đánh giá dựa trên sự liên quan của chiến lược phát
triển SBEZ với chiến lược phát triển vùng. Cùng với việc góp phần cải
thiện điều kiện kinh tế xã hội của vùng, chiến lược phát triển SBEZ bao

1.2.4.1. Mô hình liên kết
Mô hình liên kết Khu hợp tác kinh tế qua biên giới là mô hình hai
nước hình thành một khu chung có hàng rào khép kín, tự do thương mại vận
hành dưới sự quản lý của một Ban điều hành chung trên cơ sở sự thỏa thuận
hợp tác của Chính phủ hai nước.
* Nguyên tắc chung của mô hình
Mô hình liên kết Khu hợp tác kinh tế qua biên giới (sau đây gọi tắt là
Khu) được hình thành trên cơ sở:
- Thỏa thuận hợp tác trong khu giữa Chính phủ hai nước
- Mỗi bên dành ra một diện tích đất nhất định theo thỏa thuận để hình thành
một khu vực chung có hàng rào khép kín, không có dân thường sinh sống.
- Dựa trên thỏa thuận đóng góp ban đầu (về vốn, tài nguyên,..) và mục tiêu
hình thành khu, hai nước lựa chọn phương thức xây dựng nền tảng cơ sở
hạ tầng của khu.


- Hoạt động của Khu do một Ban điều hành liên quốc gia điều hành, quản
lý dựa theo các quy định trong thỏa thuận xây dựng, vận hành Khu của
Chính phủ hai nước;
- Doanh nghiệp hai nước và doanh nghiệp nước thứ ba có thể thuê đất kinh
doanh làm nhà máy lắp ráp, gia công, hoàn chỉnh sản phẩm, hoặc kinh
doanh siêu thị, mở chi nhánh ngân hàng, bảo hiểm, thuê cửa hàng, làm
khu vui chơi giải trí, triển lãm, hội thảo...
- Toàn bộ việc mua bán trong khu được miễn thuế. Các doanh nghiệp phải
trả tiền thuê đất, phí dịch vụ, chỉ nộp thuế nhập khẩu khi đưa hàng vào nội
địa mỗi bên.
- Khi khu trung tâm mở rộng có xu hướng hình thành một đặc khu kinh tế
ảnh hưởng mạnh đến kinh tế trong nội địa mỗi bên.
Nội dung mô phỏng của mô hình:
Khu sản xuất

kiểm

dịch

vụ

soát

giới;

Khu

vùng

soát

hành

hàng hóa

chính và
dịch

Đường

Khu sản xuất
Kho

vụ


Khu vui

chơi giải trí;

trung

trung tâm

chơi

triển lãm

tâm

thương

giải trí;

thương

mại,

mại, siêu

thị;

Khu

siêu


cần thiết khác.
- Khu hình thành một chính sách chung cho cả hai nước dựa trên sự
thỏa thuận ban đầu tuy nhiên hoạt động của mỗi nước do Ban quản lý
Khu kinh tế của nước đó quản lý.
- Giám sát việc thực thi chính sách chung của Khu hợp tác kinh tế biên
giới do một Hội đồng giám sát liên quốc gia (bao gồm các thành viên



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status