BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
PHẠM HỒNG MƠ
TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ
PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
(NHỮNG VẤN ĐỀ ĐỊA LÍ KT-XH THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM)
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
(NHỮNG VẤN ĐỀ ĐỊA LÍ KT-XH THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM)
TOÀN CẦU HÓA VÀ VẤN ĐỀ
PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP QUỐC TẾ
ngành du lịch Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định, bên cạnh đó cũng
còn bộc lộ nhiều hạn chế.
Vì vậy, bằng việc thực hiện đề tài tiểu luận “Toàn cầu hóa và vấn đề phát triển
ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” tác giả muốn làm rõ
những đặc điểm, bản chất, những biểu hiện và tác động của quá trình toàn cầu hóa
đến sự phát triển ngành du lịch Việt Nam; đồng thời, đưa ra một cái nhìn tổng quan
về du lịch nước nhà sau hơn 20 năm hội nhập, những mặt làm được, những mặt hạn
chế, cũng như những thời cơ và thách thức toàn cầu hóa đem lại cho du lịch Việt
Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp góp phần đưa ngành du lịch Việt Nam
phát triển sâu hơn về chất và rộng về quy mô, phát triển du lịch bền vững và hướng
Việt Nam trở thành điểm đến của khu vực và thế giới.
Đề tài được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp thu thập tài liệu, từ đó phân
tích và tổng hợp dựa trên quan điểm của tác giả về các vấn đề có liên quan. Nội
dung đề tài gồm 2 chương: cơ sở lí luận trong đó trình bài những lí thuyết về toàn
cầu hóa và du lịch, vấn đề phát triển ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội
4
nhập quốc tế trong đó tác giả trình bày các vấn đề về tiềm năng phát triển du lịch,
quá trình hội nhập quốc tế, những cơ hội và thách thức cũng như những thành tựu
và hạn chế mà ngành du lịch trong những năm qua đạt đươc; từ đó, nêu lên các vấn
đề mà ngành du lịch Việt Nam đang phải đối mặt khi tham gia vào quá trình toàn
cầu hóa và đề xuất giải pháp.
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định,
rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy và mọi người để bài viết được
hoàn thiện hơn.
5
1.1.2.1. Nguồn gốc của toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là bước phát triển mới của quốc tế hóa, đã hình thành và phát triển qua một chặng
đường lịch sử khá dài, bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ tính chất xã hội hóa sản
xuất trên phạm vi quốc tế. Trong các xã hội cổ xưa, từ chổ sống biệt lập, ít có quan hệ với nhau,
các quốc gia, dân tộc…đã dần hình thành các mối quan hệ vượt ra khỏi phạm vi ranh giới quốc gia,
hình thành các mối quan hệ quốc tế và đánh dấu sự bắt đầu của quá trình quốc tế hóa. Song, phải
đến thờ đại của các cuộc phát kiến địa lí vĩ đại vào thế kỉ XV-XVI thì quá trình này mới thực sự
biểu hiện rõ ràng. Đến thập niên 80 của thế kỉ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa
6
tư bản, sự phát triển mạnh mẽ về quy mô và tốc độ của các dòng thương mại, hàng hóa, dịch vụ, tài
chính, công nghệ và nhân công…giữa các nước, sự bùng nổ của các thể chế hợp tác kinh tế trên
phạm vi toàn cầu…Quá trình quốc tế hóa đã chuyển sang một giai đoạn mới – Toàn cầu hóa với
phạm vi rộng hơn và mức độ liên kết ngày càng chặt chẽ hơn.
1.1.2.2. Bản chất của toàn cầu hóa
Về bản chất của toàn cầu hóa, cần xem xét trong mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất, giữa kinh tế và chính trị…bên cạnh đó, còn dựa trên quan điểm mácxit
về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trên cơ sở đó, có thể thấy, bản chất toàn cầu hóa mang tính hai
mặt:
- Một mặt, toàn cầu hóa là xu thế khách quan gắn liền với xu thế phát triển của nền sản xuất xã hội,
là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế ngày càng sâu
rộng. Bản chất khách quan của toàn cầu hóa được quy định bởi tính tất yếu khách quan từ quá trình
quốc tế hóa.
- Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay toàn cầu hóa gắn liền với chủ nghĩa tư bản và hiện đang bị
chủ nghĩa tư bản, nhất là các nước tư bản phát triển và các tập đoàn xuyên quốc gia tư bản chi
phối, lợi dụng để phục vụ cho mục đích của họ.
1.1.2.3. Đặc điểm của toàn cầu hóa
Trong bối cảnh hiện nay, có thể khái quát một số đặc điểm chủ yếu của quá trình toàn cầu hóa
như sau:
- Sự sáp nhập và hợp nhất các công ti thành những tập đoàn lớn, nhất là các công
ti khoa học – kĩ thuật, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường trong
và ngoài nước.
- Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu
vực: WTO, IMF, APEC, EU, ASEAN,... Các tổ chức này có vai trò ngày càng quan
trọng trong việc giải quyết những vấn đề kinh tế chung của thế giới và khu vực.
- Gia tăng luồng dữ liệu xuyên biên giới thông qua việc sử dụng các công nghệ
như Internet, các vệ tinh liên lạc và điện thoại
- Gia tăng trao đổi văn hoá quốc tế, chẳng hạn như việc xuất khẩu các văn hoá
phẩm như phim ảnh hay sách báo.
- Gia tăng di cư, bao gồm cả nhập cư trái phép
- Sự tràn lan của chủ nghĩa đa văn hoá và việc cá nhân ngày càng có xu hướng
hướng đến đa dạng văn hoá, mặt khác, làm mất đi tính đa dạng văn hoá thông qua
sự đồng hoá, lai tạp hoá, Tây hoá, Mỹ hoá hay Hán hoá của văn hoá
- Toàn cầu hoá cũng tác động đến ý thức con người, khiến con người chú ý hơn
đến những vấn đề có ảnh hưởng toàn cầu như vấn đề nóng lên của khí hậu, khủng
bố, buôn lậu ma tuý và vấn đề nâng cao mức sống ở các nước nghèo.
- Sự phát triển hạ tầng viễn thông toàn cầu, các hệ thống tài chính quốc tế và số
lượng các chuẩn áp dụng toàn cầu, như luật bản quyền, tiêu chuẩn ISO…
1.1.4. Tác động của toàn cầu hóa đến sự phát triển kinh tế xã hội
1.1.4.1. Về mặt kinh tế
Quá trình toàn cầu hóa trên thế giới chủ yếu là toàn cầu hóa về kinh tế. Quá trình
này đã góp phần thúc đẩy rất nhanh sự phát triển và xã hội hóa của lực lượng sản
xuất, mang lại sự tăng trưởng kinh tế cao cho nền kinh tế thế giới, đặc biệt là vào
khủng hoảng là nguy cơ mà các nước phải đối mặt. Bên cạnh đó, nền kinh tế trong
nước bị phụ thuộc vào các nước khác và trở nên nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng bởi các
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
1.1.4.2. Về mặt văn hóa, xã hội
Toàn cầu hóa là quá trình ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống, xã hội.
Góp phần thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các quốc gia, dân tộc, tạo điều kiện để
các quốc gia giao lưu trao đổi, văn hóa, làm cho con người ở mọi châu lục ngày
9
càng hiểu biết nhau hơn, nắm bắt được mọi tình hình, cập nhật thông tin ở mọi nơi.
Toàn cầu hóa cũng góp phần vào sự nâng cao dân trí và sự tự khẳng định mình của
các dân tộc và của từng con người. Sự phát triển của công nghệ thông tin, nhất là
Internet và các trang mạng xã hội làm giảm đi khoảng cách địa lí giữa các quốc gia,
các châu lục. Không khó để nhận thấy, ngày này mạng xã hội tác động như thế nào
đến đời sống của người dân từ việc trao đổi, giao lưu đến cập nhật thông tin trên
toàn thế giới.
Toàn cầu hóa tạo điều kiện tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, các tư tưởng tiến
bộ góp phần tạo ra sự đa dạng trong nền văn hóa của các quốc gia. Tạo ra sự đa
dạng trong ngôn ngữ, trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống của người dân ngày
càng được nâng cao.
Như đã trình bày, toàn cầu hóa là quá trình mang tính hai mặt. Ngoài những tác
động tích cực đối với văn hóa, xã hội, t oàn cầu hóa làm tăng thêm sự bất công xã hội, khoét
sâu hố ngăn cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước. Trong 1 báo cáo mới đây của
UNDP đã khẳng định các thế lực của quá trình toàn cầu hóa đã mang lại sự giàu có vô độ cho
những người biết tận dụng lợi thế của các luồng hàng hóa, dịch vụ đang tràn qua các đường biên
giới quốc gia trong khi đa số dân chúng bị đẩy ra ngoài lề xã hội. Xét theo nhiều khía cạnh, dân
chúng ở gần 100 quốc gia trên thế giới đã có mức sống thấp hơn so với nhiều năm trước đây.
Khoảng cách giữa giàu và nghèo ngày càng lớn. Các nước công nghiệp phát triển với khoảng 1,2 tỷ
gia phải chung tay để giải quyết.
Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng tạo thêm những tiền đề rất quý cho xã hội mới hiện
đại. Xét từ góc độ này, ngay cả những khiếm khuyết của toàn cầu hóa tuy có hại
nhưng nó đã góp phần vào việc đặt ra hoặc cảnh báo những vấn đề lớn của tương
lai và mở ra các giải pháp. Sự phát triển bền vững kinh tế xã hội với sự tôn vinh con
người là nguồn lực chính, với mối quan tâm đặc biệt tới môi trường sinh thái cũng
xuất phát từ tiến trình toàn cầu hóa. Các vấn đề
1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DU LỊCH
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1. Du lịch
Ngày nay, du lịch là một hoạt động ngày càng trở nên phổ biến trên khắp thế
giới. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề nay, tuy nhiên cho đến nay
vẫn còn nhiều khái niệm khác nhau về du lịch.
Theo I.I.Pirojnic (1985): Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời
gian rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường
xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình
độ nhận thức, văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự
nhiên, kinh tế và văn hóa.
Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch tại Canada (1991): Du lịch là các hoạt động
của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên
của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian được các tổ chức du
lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là kiếm tiền trong phạm vi
vùng tới thăm.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization): Du lịch bao gồm
tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan,
khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư
11
Hiện nay, chưa có một khái niệm nào về toàn cầu hóa du lịch, tuy nhiên, có thể
hiểu, toàn cầu hóa ngành du lịch chỉ quá trình nhất thể hóa ngành du lịch trên toàn
thế giới, chủ yếu biểu hiện ở sự lưu chuyển của hàng hóa, dịch vụ, nguồn vốn, kỹ
thuật và con người trên trường quốc tế ngày càng sôi nổi, các quốc gia phụ thuộc
lẫn nhau ở mức độ cao, cạnh tranh mở rộng trên phạm vi đa quốc gia, các công ty
hoặc tập đoàn du lịch đặt mục tiêu cạnh tranh là giành được dịch vụ trên thị
12
trường toàn cầu, du khách quốc tế không ngừng gia tăng, số lượng các doanh
nghiệp du lịch kinh doanh đa quốc gia và các hạng mục du lịch ngày một nhiều lên.
Toàn cầu hóa ngành du lịch là là một bộ phận không thể tách rời của tiến trình
toàn cầu hóa kinh tế, là xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Việt
Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng du lịch lớn trong khu vực Đông
Nam Á, từ đó cũng chứng tỏ được xu thế toàn cầu hóa của ngành du lịch Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế sẵn có, ngành du lịch nước ta vẫn còn tồn tại
nhiều vấn đề về khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch, mô hình quản lý
ngành du lịch, giáo dục du lịch, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ cho du lịch v.v.
Do đó, chúng ta cần lấy trọng tâm là sức cạnh tranh quốc tế để thực hiện việc quy
hoạch và khai thác tài nguyên du lịch cũng như các sản phẩm du lịch, nâng cao hiệu
quả quản lý và kinh doanh du lịch, đưa Việt Nam nhanh chóng tiến vào quỹ đạo
chung của thế giới.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch
1.2.2.1. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển và phân bố du
lịch.
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công
trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp
ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô
“phượt”, du lịch mạo hiểm, thám hiểm,…Trong khi người lớn tuổi lại có xu hướng thích các tour
nghỉ dưỡng…
Khi nghiên cứu về khách du lịch, các công ty, tổ chức du lịch cần quan tâm đến các yếu tố như:
thị trường du khách, chi tiêu khách du lịch, thời gian lưu trú của khách. Nghiên cứu thị trường du
khách giúp các công ty, tổ chức có cơ sở để hoạch định chiến lược kinh doanh phù hợp, cũng như
tổ chức các tour phù hợp với từng đối tượng du khách cụ thể, góp phần đem lại hiệu quả kinh
doanh du lịch.
Thời gian lưu trú và chi tiêu khách du lịch là 2 yếu tố chính đem lại thu nhập cho ngành du lịch
sở tại. Những nơi có các khu vui chơi giải trí, trung tâm mua sắm, casino…là nơi có lượng chi tiêu
khách du lịch lớn nhất.
b. Dân cư và lao động
Đây là một nguồn lực để phát triển du lịch, là nguồn cung cấp lao động cho du
lịch, là thị trường để tiêu thụ sản phẩm du lịch. Đây chính là nhân tố con người,
nhân tố quyết định đến sự thành bại của mọi ngành kinh tế, trong đó có du lịch. Đội
ngũ nhân viên phục vụ du lịch chuyên nghiệp, hiếu khách, thân thiện cũng là yếu tố
ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh du lịch, sự hài lòng và khả năng
quay trở lại của du khách.
c. Tình hình chính trị, xã hội trong nước và thế giới
Sự ổn định của tình hình chính trị, an ninh trật tự trong nước ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa
chọn và tâm lý của khách du lịch. Những nơi có chính trị ổn định thường thu hút khách nhiều hơn
những nơi hay xảy ra những bất ổn, xung đột, khủng bố… Du khách sẽ không lựa chọn đi du lịch
đến những vùng đang xảy ra chiến tranh, xung đột. Ngoài ra, vấn đề an ninh trật tự, như nạn cướp
giật, hành hung du khách…cũng ảnh hưởng đến tâm lý và thời gian lưu trú của người đi du lịch.
Mặt khác, mọi diễn biến trên thế giới cũng có thể ảnh hưởng đến du lịch, trước hết là thị trường
khách du lịch. Ví dụ như chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, thắt chặt chi tiêu, dịch bệnh…cũng gây
nên tâm lý e ngại đi du lịch cho người dân từ đó ảnh hưởng đến lượt khách và doanh thu du lịch.
14
giáo dục phát triển sẽ thu hút sự chú ý của quốc tế. Các hội nghị, hội thảo, sự kiện
văn hoá, thể thao lớn cũng là nguồn lực quan trọng thúc đẩy ngành du lịch phát
triển.
1.3. TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DU
LỊCH
15
Trong quá trình phát triển, du lịch chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó,
toàn cầu hóa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành trên cả hai
phương diện tích cực và tiêu cực.
1.3.1. Tác động tích cực
Trước hết, toàn cầu hóa tạo điều kiện cho việc đi lại giữa các quốc gia dễ dàng
hơn, làm tăng số lượng du khách quốc tế đến các nước. Góp phần làm tăng nguồn
thu ngoại tệ cho đất nước.
Quá trình này tạo cơ hội cho các nước, nhất là nước đang phát triển thu hút đầu
tư, thu hút khoa học tiên tiến để quy hoạch, phát triển du lịch có kế hoạch và phát
triển bền vững.
Nhu cầu hội nhập và hợp tác quốc tế trong du lịch là tăng cường quan hệ để phát
triển; tiếp thu kinh nghiệm; xác lập vị thế trên trường quốc tế để phát triển và góp
phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Hội nhập quốc tế trong du lịch sẽ theo các
bước sau đây: tham gia các tổ chức quốc tế; thừa nhận và áp dụng các tiến bộ của
công nghệ thông tin; tăng cường toàn cầu hóa trong khai thác, bảo vệ và phát triển
tài nguyên du lịch; áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong hoạt động du lịch; đơn
phương tuyên bố tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch và các nhà đầu tư du
lịch, ký kết các hiệp định hợp tác song phương và đa phương về phát triển du lịch;
cam kết và mở cửa thị trường du lịch. Các công ty, doanh nghiệp có điều kiện, hợp
Khi tham gia vào phân công lao động du lịch toàn cầu, ngành du lịch của mỗi quốc gia trở nên
“nhạy cảm” hơn với mọi biến động của nền kinh tế thế giới. Ví dụ, khủng hoảng kinh tế ở một số
quốc gia, khu vực cũng ảnh hưởng đến số lượng khách du lịch của các quốc gia, đặc biệt là những
nước đó là thị trường du lịch lớn của các quốc gia khác.
Đối với môi trường sinh thái , toàn cầu hóa du lịch tạo ra việc khám phá và thưởng
thức trên phạm vi toàn cầu các vùng sinh quyển, các sản vật địa phương khác nhau,
điều ấy rất dễ làm tổn thương các hệ sinh thái, và làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên
thiên nhiên. Bên cạnh đó, việc xây dựng các khu du lịch sẽ làm mất đi vẻ tự nhiên
của môi trường du lịch.
17
CHƯƠNG II: PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM TRONG BỐI
CẢNH TOÀN CẦU HÓA
2.1. TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA VIỆT NAM
Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, với các
thế mạnh cả về tự nhiên lẫn nhân văn.
2.1.1. Tiềm năng du lịch tự nhiên
Về tiềm năng du lịch tự nhiên, vị trí địa lí cũng đem lại những lợi thế nhất định
về mặt giao lưu, trao đổi với các nước trong khu vực và trên thế giới, đây là ưu thế
để Việt Nam có thể dễ dàng đón khách từ khắp nơi trên thế giới. Với vị trí này tạo
hóa cũng ưu đãi cho Việt Nam một thiên nhiên đặc sắc, đa dạng có đồi núi, đồng
bằng, miền biển với nhiều danh thắng và phong cảnh có sức hút cả du khách trong
và ngoài nước.
Hiện nay Việt Nam có 30 vườn quốc gia trong đó phải kể đến là: Cúc Phương,
Phong Nha – Kẻ Bàng, Hoàng Liên, Bái Tử Long, Bạch Mã, Ba Vì, Yok Đôn, Phú
Quốc, Mũi Cà Mau…
trữ nước cho mùa khô và khai thác thủy điện, các hồ ở Việt Nam còn có giá trị du
lịch. Một số hồ nổi tiếng ở Việt Nam đã được khai thác du lịch như: Hồ Tây, hồ
Hoàn Kiếm, hồ Đại Lải, hồ Quan Sơn, hồ Suối Hai (Hà Nội); Hồ Ba Bể (Bắc
Kạn); Hồ Cấm Sơn (Bắc Giang);Hồ Đồng Chương, hồ Đồng Thái, hồ Yên
Thắng, hồ Mạc (Ninh Bình); hồ Tuyền Lâm, hồ Than Thở (Đà Lạt),...
2.1.2. Tiềm năng du lịch nhân văn
Về tiềm năng du lịch nhân văn, Việt Nam có các hệ thống các di tích lịch sử, di
sản văn hóa, lễ hội,…trải khắp cả nước, cùng với một nền văn hóa đa dạng, đậm đà
bản sắc dân tộc.
Tính đến tháng 8 năm 2010, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó
có hơn 3.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp
hạng cấp tỉnh. Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông
Hồng với tỉ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam.
Qua 6 đợt xếp hạng, Việt Nam hiện có 72 di tích được xếp hạng Di tích quốc gia
đặc biệt. Các di tích quốc gia đặc biệt có khă năng thu hút khách du lịch cao như:
Dinh Độc Lập, Hoàng thành Thăng Long, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ,
Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu di tích Tân Trào, Nhà tù Côn
Đảo, Quần thể di tích Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Thắng cảnh
Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia
Phong Nha - Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội An và Đền Hùng…
Việt Nam có 117 bảo tàng trong đó các bộ, ngành quản lý 38, các địa phương
quản lý 79. Hai bảo tàng lịch sử mang tính quốc gia là Bảo tàng Cách mạng Việt
Nam và Bảo tàng lịch sử Việt Nam hiện đang đề xuất thêm Bảo tàng Lịch sử Quốc
gia. Tuy nhiên, hầu hết các bảo tàng đều vắng khách tham quan, đất công đôi khi bị
lạm dụng và sử dụng trái mục đích.
19
Việt Nam có 54 thành phần dân tộc, mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng về
(Nam Định); Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang), Lễ hội Đền Trần (Nam Định)
…
20
Một trong những điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch trong và ngoài
nước, chính là các danh hiệu UNESCO. Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam gồm danh
sách các di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản tư liệu thế giới, công
viên địa chất toàn cầu, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại... đã được UNESCO
công nhận tại Việt Nam. Các danh hiệu này có tác động rất lớn trong việc quảng bá
hình ảnh của du lịch Việt Nam ra toàn thế giới.
Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh
giá nhất và lâu đời nhất. Thủ đô Hà Nội hiện sở hữu nhiều danh hiệu UNESCO trao
tặng nhất cho các đối tượng: Hoàng thành Thăng Long, Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng
Long, ca trù và Hội Gióng. Đến năm 2014, các tỉnh Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc
Ninh, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kiên Giang, Cà Mau mỗi tỉnh sở hữu từ 2 đến
3 danh hiệu UNESCO.
Tới năm 2015, có 8 di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới tại Việt
Nam bao gồm: Quần thể danh thắng Tràng An, Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng
Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố Cổ Hội An, Thánh địa Mỹ
Sơn, và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Các di sản thế giới hiện đều là
những điểm du lịch hấp dẫn. Tính đến hết năm 2015 Việt Nam được UNESCO
công nhận 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới đó là Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây
Nghệ An, Đồng Nai, Cù lao Chàm, Cần Giờ, Cà Mau và biển Kiên Giang. Có 9 di
sản văn hóa phi vật thể trên thế giới tại Việt Nam như Nhã nhạc cung đình
Huế, Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, Quan họ, Ca trù, Hội
Gióng, Hát xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Phú Thọ), đờn ca tài tử...
Có thể thấy, tiềm năng du lịch của Việt Nam là rất lớn so với nhiều nước trong
khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, cho đến nay, nước ta vẫn chỉ dựa trên việc khai
mại Việt Mỹ đã có hiệu lực từ năm 2001, một số cam kết theo BTA đã bắt đầu có
hiệu lực. Theo hiệp định thương mại Việt - Mỹ (BTA), doanh nghiệp Mỹ hiện tại đã
có thể đầu tư dưới dạng 100% vốn nước ngoài. Đây cũng là cơ hội cho ngành du
lịch để thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp Hoa Kỳ.
Năm 2007, Việt nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO). Việt Nam đã chính thức hoàn tất thủ tục gia nhập tổ
chức WTO vào 7/11 năm 2006 và chính thức gia nhập tổ chức WTO sau khi Quốc
hội phê chuẩn vào đầu tháng 01 năm 2007. Riêng trong lĩnh vực dịch vụ, Việt Nam
đã cam kết tất cả 11 ngành dịch vụ được phân loại theo Hiệp định chung về Thương
mại và Dịch vụ (GATS). Đối với dịch vụ du lịch, Việt Nam chỉ cam kết đối với các
phân ngành dịch vụ đại lý du lịch và kinh doanh lữ hành du lịch, dịch vụ sắp xếp
chỗ trong khách sạn, dịch vụ cung cấp thức ăn và đồ uống. Những cam kết này sẽ
được áp dụng tự động cho các thành viên ASEAN. GATS quy định có 4 phương
thức cung cấp dịch vụ, bao gồm:
1) Cung cấp qua biên giới (dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một Thành
viên này sang lãnh thổ của một Thành viên khác,);
2) Tiêu dùng ngoài lãnh thổ (người tiêu dùng của một Thành viên di chuyển sang
lãnh thổ của một Thành viên khác để tiêu dùng dịch vụ);
22
3) Hiện diện thương mại (nhà cung cấp dịch vụ của một Thành viên thiết lập các
hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi
nhánh v.v…trên lãnh thổ của một Thành viên khác để cung cấp dịch vụ);
4) Hiện diện thể nhân (thể nhân cung cấp dịch vụ của một Thành viên di chuyển
sang lãnh thổ của một Thành viên khác để cung cấp dịch vụ).
Trong các cam kết của mình với WTO, Việt Nam cam kết không hạn chế đối với
phương thức 1 và 2. Đối với phương thức 3, Việt Nam cũng cam kết xóa bỏ hạn chế
vốn sở hữu nước ngoài đối với các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
định hợp tác du lịch đa phương 10 nước ASEAN; tham gia tích cực trong hợp tác
du lịch tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS), khu vực (WEEC, Hai hành lang Một vành đai), liên khu vực và thế giới…Gần đây nhất, việc thành lập cộng đồng
ASEAN và Việt Nam tham gia vào Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
(TPP) cũng đã tạo một “cú hích” mạnh đối với ngành du lịch. Ngoài ra, chính phủ
đã có những quy định thông thoáng hơn về thủ tục xuất, nhập cảnh cũng tạo điều
kiện thuận lợi cho người nước ngoài vào Việt Nam du lịch cũng như người Việt
Nam du lịch ra nước ngoài.
Có thể nói, toàn cầu hóa đã mang lại cho ngành du lịch Việt Nam những bước
tiến đáng kể, với nhiều cơ hội phát triển, hứa hẹn mang lại nguồn lợi to lớn cho đất
nước. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, du lịch Việt Nam
cũng phải đối mặt với những thách thức không nhỏ, cần sự nỗ lực của cả nhà nước
và các doanh nghiệp hoạt động du lịch.
2.3. NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA DU LỊCH VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
Toàn cầu hóa du lịch đã mang lại cho ngành du lịch Việt Nam rất nhiều cơ hội để phát triển, tuy
nhiên cũng tạo ra không ít thách thức.
2.3.1. Những cơ hội
- Tăng thị phần du lịch quốc tế: Dựa trên phương pháp tính tổng cầu du lịch của
tài khoản vệ tinh (Tourism Satellite Account - TSA), là tiêu chuẩn thống kê quốc tế
được chấp nhận để đánh giá ảnh hưởng kinh tế du lịch, thì hoạt động du lịch bao
gồm các hoạt động kinh tế của ngành và các ngành kinh tế khác liên quan có đóng
góp cho hoạt động du lịch như sản xuất và phân phối hàng hóa phục vụ khách du
lịch, ngân sách của chính phủ cho hoạt động du lịch (kể cả tiêu dùng đầu tư cho bảo
tàng, nhà hát, an ninh, hải quan, dịch vụ hàng không, v.v.), đầu tư cho hạ tầng, cơ sở
vật chất kỹ thuật du lịch… Kết quả thống kê cho thấy tổng cầu du lịch của Việt
Nam năm 2006 lên tới 9,72 tỷ USD với mức độ tăng trưởng 9,7% - đứng đầu các
nước trong khu vực Đông Nam Á.
Việt Nam là quốc gia mới gia nhập thị trường du lịch quốc tế, tuy nhiên nước ta
sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp du lịch trong và
ngoài nước.
2.3.2. Những thách thức
- Cạnh tranh khốc liệt: Đó là vấn đề tất yếu diễn ra trong quá trình hội nhập
quốc tế. Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng thì yếu
tố này sẽ là thách thức lớn cho ngành du lịch khi xuất phát điểm của du lịch còn
thấp, kinh nghiệm tổ chức quản lí và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du
lịch hạn chế.
- Gia tăng sự phụ thuộc: Quá trình hội nhập làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh
tế Việt Nam nói chung và du lịch lịch nói riêng vào thị trường bên ngoài và, do vậy,
khiến ngành du lịch dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường quốc tế.
25