ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
_________________________
TRẦN NGỌC HƯƠNG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở HẢI PHÒNG
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
_________________________
TRẦN NGỌC HƯƠNG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở HẢI PHÒNG
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị
Mã số:
60 31 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. VŨ HỒNG TIẾN
1.1.3. Các xu hướng phát triển du lịch hiện nay ........................................... 22
1.2. Mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và phát triển du lịch ............................... 24
1.2.1. Hội nhập quốc tế .................................................................................. 24
1.2.2. Sự tác động qua lại giữa hội nhập quốc tế và phát triển du lịch ......... 27
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA HẢI PHÒNG TRONG
BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY ......................................... 38
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các nguồn lực để phát triển du
lịch của Hải Phòng ................................................................................. 38
2.1.1. Vị trí của Hải Phòng đối với cả nước và vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ.................................................................................................... 38
2.1.2. Điều kiện và tài nguyên du lịch tự nhiên............................................. 40
2.1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn ............................................................... 45
2.1.4. Điều kiện kinh tế - xã hội .................................................................... 49
2.2. Thực trạng phát triển du lịch ở Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2011 ................ 53
2.2.1. Tình hình thực hiện các chỉ tiêu phát triển du lịch chủ yếu ở Hải
Phòng ..................................................................................................... 53
2.2.2. Tình hình khai thác tài nguyên du lịch, phát triển các loại hình
sản phẩm du lịch .................................................................................... 63
2.2.3. Tình hình đầu tư phát triển du lịch tại Hải Phòng ................................ 69
2.2.4. Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch của ngành và các doanh
nghiệp hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố................................... 74
2.2.5. Nguồn nhân lực ngành du lịch Hải Phòng ........................................... 77
2.2.6. Công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hải Phòng ........... 81
2.2.7. Công tác phát triển đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân; xây dựng
hệ thống liên kết các doanh nghiệp trong và ngoài thành phố .............. 85
2.3. Đánh giá chung .............................................................................................. 86
2.3.1. Thành tựu ............................................................................................ 86
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế......................................................................... 87
Bảng 2. 9. Số sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành du lịch ................................... 81
BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT
CP
:
Cổ phần
TNHH
:
Trách nhiệm hữu hạn
TP
:
Thành phố
UBND
:
Ủy ban nhân dân
VH-TT-DL
nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế quan trọng của khu vực phía Bắc, đồng
thời cũng là một cực của tam giác động lực tăng trưởng du lịch vùng du lịch Bắc
Bộ: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Hải Phòng nằm ở vị trí giao lưu thuận
lợi với các tỉnh trong nước và quốc tế thông qua hệ thống giao thông đường bộ,
đường sắt, đường biển, đường sông và đường hàng không, có nguồn tài nguyên
thiên nhiên và nhân văn hết sức đa dạng và phong phú. Bộ Chính trị đã có Nghị
quyết số 32 NQ/TW ngày 05/08/2003 về Xây dựng và phát triển thành phố Hải
Phòng trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: “Phát triển Hải
Phòng thành trung tâm du lịch của vùng Duyên hải bắc bộ trong đó xây dựng
1
đảo Cát Bà cùng với Đồ Sơn, Hạ Long trở thành một trong những trung tâm du
lịch quốc tế của cả nước”.
Những năm gần đây, đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng
sâu rộng, Hải Phòng luôn là một điểm đến lý tưởng để du khách trong và ngoài
nước có cơ hội khám phá những nét độc đáo về du lịch sinh thái. Sản phẩm tour
du lịch của Hải Phòng ngày càng đa dạng và lôi cuốn, với hệ thống biển, đảo, di
tích đền miếu và giá trị văn hoá truyền thống lễ hội, tài nguyên di sản văn
hoá…điều đó đã góp phần làm phong phú các tour du lịch trên địa bàn. Sự phát
triển đó tạo ra hiệu quả kinh doanh đáng khích lệ, góp phần không nhỏ trong
tổng sản phẩm xã hội, cũng như ngân sách của thành phố. Hiện nay, Hải Phòng
đang tiến hành quy hoạch khu du lịch Đồ Sơn, đồng thời xây dựng đề án trình
UNESCO công nhận Cát Bà trở thành Di sản thiên nhiên thế giới.
Tuy nhiên, Du lịch Hải Phòng còn không ít hạn chế và yếu kém. Đó là:
chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế; công tác quy hoạch chưa theo kịp được đà
phát triển nhanh chóng, còn mang nặng tính tự phát. Du lịch Hải Phòng không
có sự quảng bá tốt, thiếu những sản phẩm du lịch độc đáo, những thương hiệu
mạnh để đủ sức cạnh tranh ngay ở trong nước, chứ chưa nói đến quốc tế. Thu
“Phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc - tiềm năng và giải pháp”,
Luận văn thạc sỹ kinh tế của Trần Ngọc Tư, 2000.
“Thị trường du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc
sỹ kinh tế của Trần Thanh Bình, 2005.
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong điều kiện hội
nhập quốc tế”, Luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Anh Tuấn, năm 2006.
“Tài nguyên du lịch” của tác giả Bùi Thị Hải Yến và Phạm Hồng Long
năm 2007, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
“Phát triển kinh tế du lịch Ninh Bình”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế chính trị
của Mai Thị Thanh, 2007.
“Phát triển du lịch ở tỉnh Bến Tre”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế chính trị của
Phan Văn Thạch, 2009.
3
Trong các công trình nghiên cứu ở trên, các tác giả đã góp phần hệ thống
hóa lý luận, phản ánh những vấn đề chung của du lịch Việt Nam và thực trạng
du lịch ở một số địa phương trong điều kiện mới của đất nước với nhiều góc độ
và cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, ở mỗi địa phương do có những đặc điểm
riêng về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội nên có những thế mạnh
cạnh tranh riêng cũng như những thách thức riêng trong việc phát triển du lịch
của địa phương. Việc áp dụng và phân tích cho từng địa phương cụ thể cũng cần
được phát triển thêm nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế như hiện nay.
Ngoài các công trình nghiên cứu đã dẫn ở trên còn phải kể đến những bài
viết trên các tạp chí như: “Du lịch Việt Nam trước thời cơ mới và thách thức
mới” (Thương mại năm 1995 - số 8 kỳ 2);
Bài viết “ Về hoạt động xuất khẩu và dịch vụ tại chỗ đối với khách du lịch
nước ngoài tại Việt Nam” (Thông tin kế hoạch số tháng 8/1994);
Bài viết “Về định hướng du lịch năm 1996 - 2000” của Đào Thùy Phi
tế chính trị vẫn còn ít công trình khoa học; đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay
khi nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra
nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với việc phát triển du
lịch ở Hải Phòng.
Do đó, đề tài “Phát triển du lịch ở Hải Phòng trong điều kiện hội nhập
quốc tế” vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu và vẫn còn ý nghĩa lý luận và thực
tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Làm sáng tỏ về phát triển du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế; phân
tích thực trạng phát triển du lịch ở Hải Phòng; đề xuất giải pháp phát triển du
lịch Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, góp phần đẩy nhanh sự
tăng trưởng kinh tế - xã hội của Hải Phòng.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về mối quan hệ giữa phát triển du
lịch và hội nhập quốc tế.
5
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Hải Phòng giai đoạn 2001 – 2011,
định hướng đến 2020.
- Phân tích về cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch ở Hải Phòng
trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Trên cơ sở đó đề xuất một số phương
hướng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng trong thời gian tới.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về phát triển du lịch Hải Phòng trong bối
cảnh hội nhập quốc tế hiện nay dưới góc độ kinh tế chính trị.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Phát triển du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch của Hải Phòng trong bối cảnh hội
nhập quốc tế hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển du lịch ở Hải Phòng
trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
7
Chương 1
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1. Du lịch và phát triển du lịch
1.1.1. Du lịch
1.1.1.1. Các khái niệm về du lịch
Du lịch là hoạt động đã có từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người.
Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống
xã hội và đang phát triển mạnh mẽ thành một ngành kinh tế mũi nhọn ở hầu hết
các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, khái niệm "Du lịch" được hiểu rất khác
nhau. Nguyên nhân là do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi
góc độ tiếp cận khác nhau lại có một cách hiểu về du lịch khác nhau.
- Xét từ góc độ ngữ nghĩa của từ "Du lịch" được dùng ở mỗi nước.
Du lịch là một thuật ngữ rất thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp:
“tonos” nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được latinh hóa thành Turnur và
sau đó thành “tour” (tiếng Pháp) nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, khởi
hành còn “touriste” là người đi dạo chơi. Theo Robert Langquar, từ “tourism”
(du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được
quốc tế hóa nên nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Ở Đức sử
dụng từ “Derfremdenverkehrs” có nghĩa nhìn nhận du lịch là mối quan hệ, vận
Organization) năm 1925 tại Hà Lan - tiền thân của WTO, đã có rất nhiều tổ chức và
cá nhân đưa ra các khái niệm khác nhau.
Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du
lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du
lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn
từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở
thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu
trú không phải là nơi làm việc của họ”.
9
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa toàn
thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần
riêng biệt.
Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là một
dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với
mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công
trình văn hoá, nghệ thuật,…
Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh
doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên,
truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất
nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh
tế, du lịch có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ.
Ở Mỹ, dựa trên quan điểm hoạt động du lịch phải có sự tiếp cận cộng
đồng mới đảm bảo cho sự phát triển lâu dài, ông Michael Coltman quan niệm
"Du lịch là sự kết hợp của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao
gồm: Du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi
đón khách du lịch" [28, tr.8].
Khi nghiên cứu các định nghĩa khác nhau về du lịch, tác giả nhận thấy có
- Du lịch là một hoạt động mang nội dung văn hóa, một cách mở rộng
không gian văn hoá của du khách trên nhiều mặt: thiên nhiên, lịch sử, văn hóa
qua các thời đại, của từng dân tộc v.v. làm phong phú thêm khả năng thẩm mỹ
của du khách khi họ được tham quan các kho tàng mỹ thuật của một đất nước.
Trong thời gian đi du lịch, khách hàng thường sử dụng các dịch vụ, hàng hóa và
tiếp xúc với dân cư địa phương. Thông qua các cuộc tiếp xúc đó, văn hóa của cả
khách du lịch và người bản xứ được trao đổi và nâng cao. Vì vậy, có cơ hội để
thông cảm, hiểu biết lẫn nhau và giảm đi những thành kiến giữa các dân tộc.
Hoạt động du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn và
nâng cao truyền thống của dân tộc. Thông qua các chuyến đi tham quan nghỉ
mát, vãn cảnh... người dân có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, hiểu hơn về lịch
sử và văn hóa dân tộc, qua đó khôi phục niềm tin, niềm tự hào dân tộc và thêm
yêu đất nước mình. Do đặc trưng này mà các hoạt động du lịch đã tạo ra các khả
năng hỗ trợ đắc lực cho việc bảo tồn các di tích lịch sử, khảo cổ đang có nguy cơ
bị lụi tàn như: các di sản kiến trúc, nghệ thuật, văn hóa, đồ thủ công, lễ hội,
13
trang phục, lối sống truyền thống; phục hưng các nền văn hóa bản xứ, các làng
nghề thủ công mĩ nghệ...; sự giao lưu các truyền thống văn hóa- lịch sử cũng
được đẩy mạnh.
1.1.1.2. Sản phẩm du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, do đó sản phẩm của ngành du lịch
chủ yếu là dịch vụ, không tồn tại dưới dạng vật thể, không lưu kho lưu bãi,
không chuyển quyền sở hữu khi sử dụng, tính không thể di chuyển, tính thời vụ,
tính trọn gói, tính không đồng nhất...
Sản phẩm du lịch gồm cả yếu tố hữu hình (là hàng hoá) và yếu tố vô hình
(là dịch vụ du lịch). Nhưng về cơ bản thì sản phẩm du lịch không tồn tại dưới
dạng vật thể, yếu tố vô hình thường chiếm 90%. Theo ISO 9004: 1991 "Dịch vụ
có sản phẩm du lịch là nhiệm vụ quan trọng của các nhà kinh doanh du lịch, đó
cũng là nhiệm vụ của chính quyền địa phương và nhân dân cư trú quanh vùng có
sản phẩm du lịch, đặc biệt trong điều kiện tiêu dùng các sản phẩm du lịch có tính
thời vụ (do tính đa dạng và trải rộng trên nhiều vùng của các sản phẩm đó).
1.1.2.3. Thị trường du lịch và các loại hình du lịch
- Thị trường du lịch
Để có quyết định đúng đắn trong tổ chức cung cấp các sản phẩm du lịch
phục vụ du khách thì không thể không nghiên cứu về thị trường du lịch, cơ chế
vận động của thị trường du lịch. Thông qua định hướng, điều tiết cung, cầu du
lịch nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch, thiết lập môi trường pháp lý thuận
lợi, nhưng chặt chẽ bảo đảm cho các hoạt động du lịch đạt hiệu quả kinh tế - xã
hội cao, bảo vệ môi trường thiên nhiên, cảnh quan du lịch.
“Thị trường du lịch là bộ phận của thị trường chung, một phạm trù của sản
xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi
giữa người mua và người bán, giữa cung cầu và toàn bộ các mối quan hệ, thông
tin kinh tế, kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch” [19, tr.23].
Thị trường du lịch là bộ phận của thị trường hàng hoá nói chung nên nó
có đầy đủ các đặc điểm của thị trường, cũng chịu sự chi phối của các quy luật
kinh tế của thị trường như: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá
trị. Tuy nhiên, do đặc thù của du lịch, nên thị trường du lịch có những đặc thù
riêng, thể hiện tính độc lập tương đối của nó như: thị trường du lịch xuất hiện
16
muộn; hàng hoá du lịch không thể vận chuyển đến nơi có nhu cầu du lịch; đối
tượng mua bán không có dạng vật chất hiện hữu trước người mua (chủ yếu
thông qua xúc tiến, quảng cáo); đối tượng mua bán rất đa dạng; quan hệ thị
trường giữa người mua, người bán bắt đầu từ khi mua cho đến khi khách về nơi
thường trú của họ. Sản phẩm du lịch không thể lưu kho, việc mua bán gắn với
hoá hiện vật và hàng hoá dịch vụ du lịch) mà người bán có khả năng và sẵn sàng
bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian và không gian xác định. Sản
phẩm du lịch bao gồm toàn bộ giá trị sử dụng thoả mãn nhu cầu du lịch nhất
định. Như vậy sự khác nhau là ở chỗ có những giá trị tiêu dùng được tạo ra
nhưng không qua thị trường thì chỉ là sản phẩm du lịch mà chúng không phải là
cung du lịch.
Cung du lịch có các đặc trưng cần phân biệt với các dạng hàng hoá thông
thường khác nhau: cung du lịch chủ yếu không tồn tại ở dạng hiện vật (chủ yếu
là dịch vụ), cung du lịch rất khó thay đổi tương ứng với biến động của thị
trường; cung du lịch thường có hạn trong một thời điểm nhất định, muốn giảm
thiểu ảnh hưởng của sự hạn chế đó cần có sự phối hợp giữa các doanh nghiệp
trong toàn ngành, doanh nghiệp du lịch có tính chuyên môn hoá cao.
Cung du lịch chịu sự tác động của các yếu tố như: sự phát triển của lực
lượng sản xuất, sự tiến bộ khoa học, kỹ thuật, sự phát triển quan hệ sản xuất, các
yếu tố của sản xuất, số lượng người sản xuất, các kỳ vọng của họ, mức độ tập
trung hoá của cung, các chính sách khuyến khích phát triển du lịch của mỗi quốc
gia, mỗi vùng, miền và đặc biệt ảnh hưởng của cầu du lịch đến sự gia tăng số
lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm du lịch.
- Các loại hình du lịch
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau mà hoạt động du lịch có thể được phân
thành nhiều loại hình du lịch khác nhau. Tuy nhiên, các tiêu chí lại phụ thuộc
vào quan điểm chủ quan và góc độ tiếp cận của các tác giả.
Căn cứ theo môi trường tài nguyên thì hoạt động du lịch được chia thành
hai nhóm là du lịch văn hóa (hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường
18