Làng nghề ở Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN VĂN TÙNG LÀNG NGHỀ Ở HẢI PHÒNG TRONG BỐI
CẢNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

1.1.1. Vai trò của làng nghề trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.2. Các điều kiện phát triển làng nghề.
1.2. Kinh nghiệm phát triển làng nghề của một số địa phƣơng
trong nƣớc và bài học cho Hải Phòng.
1.2.1. Phát triển làng nghề ở Hà Nội ( Hà Tây cũ ).
1.2.2. Phát triển nghề ở Bắc Ninh.
1.2.3. Bài học cho phát triển làng nghề ở Hải Phòng.

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HẢI PHÒNG
TỪ 2000 ĐẾN NAY
2.1. Các nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển sản xuất làng nghề
Hải Phòng .
2.1.1. Các nhân tố tự nhiên, kinh tế – xã hội.
2.1.2. Cơ chế chính sách phát triển làng nghề Hải Phòng.
2.1.3. Cơ sở vật chất, vốn lao động phát triển làng nghề Hải Phòng.
2.2. Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề Hải Phòng.
2.2.1. Những kết quả đạt được trong những năm qua.
2.2.2. Tồn tại và nguyên nhân.
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở
HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.
2
3.1. Định hƣớng phát triển làng nghề Hải Phòng trong bối cảnh mới của đất
nƣớc.
3.1.1. Bối cảnh Quốc tế và trong nước tác động phát triển làng nghề Hải Phòng.
3.1.2. Định hướng phát triển làng nghề Hải Phòng trong bối cảnh mới của đất
nước.
3.2. Một số giải pháp chủ yếu phát triển làng nghề ở Hải Phòng.

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp nhu cầu vốn đầu tư đến 2020.
Bảng 2.2: Hiện trạng phân bố làng nghề Hải Phòng.
Bảng 2.3: Kết quả sản xuất chế biến kết hợp chăn nuôi lợn năm 2007.
Bảng 2.4: Kết quả hạch toán sản xuất một hộ nông nghiệp kiêm nghề đan thúng
năm 2007.
Bảng 2.6: So sánh giá trị kinh tế của làng nghề trong kinh tế nông thôn Hải
Phòng.
Bảng 2.7: Sản lượng xuất khẩu thảm len Hải Phòng 2000 – 2007.
Bảng 2.8: So sánh lao động trong làng nghề với tổng số lao động vùng nông
thôn.
4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, kinh tế
tăng trưởng với tốc độ cao so với các nước trong khu vực và thế giới, cơ cấu
GDP chuyển dịch tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại
- dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Tuy nhiên, đến nay nước ta vẫn là nước
nông nghiệp, trong những năm tới nông nghiệp nông thôn vẫn đóng vai trò quan
trọng đối với đời sống kinh tế xã hội của đất nước. Khu vực nông thôn hiện nay,
nơi chiếm khoảng 70% dân số và 70% lực lượng lao động cả nước đang có biểu
hiện tụt hậu so với khu vực đô thị, nhất là về mặt thu nhập, điều kiện sống và cơ
hội việc làm. Do vậy, phát triển làng nghề là nội dung lớn của Đảng và Nhà
nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội nông thôn, thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Hải Phòng nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng và thuộc vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ, với diện tích 1,52 nghìn km2, dân số gần 1,8 triệu người,
mật độ dân số cao so với cả nước. Hải Phòng có nhiều tiềm năng lợi thế phát
triển kinh tế - xã hội, vừa là trung tâm công nghiệp của cả nước, lại là cửa ngõ
quan trọng bằng cảng biển để giao lưu thương mại với thế giới. Nông nghiệp
Hải Phòng không lớn, diện tích đất canh tác trong nông nghiệp thấp. Trong khi
hiện nay còn khoảng 60% dân số, lao động sống và làm việc ở nông thôn cùng
với sự chuyển đổi 100 ha đất nông nghiệp bình quân mỗi năm cho công nghiệp
và mục đích sử dụng khác đang là sức ép lớn về lao động và đời sống dân cư
Hải Phòng. Do vậy, phát triển làng nghề gắn với thị trường trong nước và xuất
khẩu; thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, bố trí lại lao động và sử
dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, xây dựng nông thôn, bố trí lại lao động và sử
dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, xây dựng nông thôn mới phát triển toàn diện
trong bối cảnh hiện nay là một đòi hỏi cấp thiết đối với Hải Phòng.

7
- Định hướng một số lĩnh vực ưu tiên phát triển làng nghề ở Hải Phòng
trong thời gian tới;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển làng nghề ở Hải
Phòng thời gian tới.
*Nhiệm vụ:
- Làm rõ vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội ở Hải
Phòng;
- Đánh gía thực trạng làng nghề ở Hải Phòng trong thời gian qua (giai
đoạn từ năm 2000 đến nay);
- Phân tích, tổng hợp, đánh giá điểm mạnh, cơ hội và thách đối với làng
nghề ở Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về phát triển làng
nghề;
- Trên cơ sở lý luận chung, luận văn đi nghiên cứu quá trình phát triển
làng nghề ở Hải Phòng (gồm 7 huyện và ở thành phố là: Vĩnh Bảo, Tiện Lãng,
Kiến Thuỵ, An Lão, An Dương, Thuỷ Nguyên, Cát Hải và thị xã Đồ Sơn);
- Sự khảo cứu của Luận văn được giới hạn trong khoảng thời gian từ năm
2000 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiện cứu
- Các phương pháp nghiên cứu cơ bản của môn kinh tế chính trị;
- Đặc biệt, Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền
thống: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, logic, xử lý số liệu.
6. Dự kiến đóng góp mới của Luận văn
- Làm rõ những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Hải
Phòng đến quá trình phát triển làng nghề;
- Các nhân tố tác động hoạt động phát triển sản xuất của làng nghề Hải
Phòng;

chúng ta vẫn gặp nhiều những câu nói có liên quan đến từ làng như luỹ tre làng,
người cùng làng. Ngoài ra, làng còn là phạm trù văn hoá vì văn hoá đặc trưng
của người Việt là văn hoá làng.
Cũng theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: “ Nghề là công việc
chuyên làm theo sự phân công lao động xã hội” như nghề dạy học, nghề nông,
nghề mộc, nghề ngão, tay nghề, nhà nghề, lâu năm trong nghề.
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm
trước đây, nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam. Việc
hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được dân cư tranh thủ
làm lúc nông nhàn, những lúc không phải vào vụ chính. Bởi lẽ kinh tế của người
Việt trước đây chủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa nước, mà nghề này chỉ bận
rộn vào những ngày đầu vụ và cuối vụ, còn giữa vụ thì khá nhàn rỗi. Từ đó, 10
nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằm mục đích ban
đầu là cải thiện bữa ăn, thoả mãn những nhu cầu thiết yếu hàng ngày và tiến tới
tăng thêm thu nhập cho gia đình
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó,
mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân. Như việc làm ra đồ dùng bằng mây, tre,
lụa…phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất. Nghề phụ từ chỗ
chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hoá trao đổi, đã mang lại lợi ích
kinh tế to lớn cho người dân vốn truớc đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa. Từ chỗ
một vài nhà trong làng làm, dần dần nhiều gia đình thấy có lợi cũng học làm
theo, nghề từ đó lan rộng ra phát triển trong cả làng hay nhiều làng gần nhau.
Và cũng chính nhờ vào những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem
lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hoá. Nghề nào đem lại lợi ích nhiều thì
phát triển mạnh dần; ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp
với làng thì dần bị mai một. Từ đó, bắt đầu hình thành nên những làng nghề
chuyên sâu vào một nghề nào đó. Nghĩa là mỗi làng có một sản phẩm đặc trưng

khái niệm khác nhau về làng nghề được tổng hợp từ các nguồn tài liệu:[3]; [4];
[6]; [7]; [8]; [9]; [10]; và [13]:
Khái niệm thứ nhất: Làng nghề là một thiết chế kinh tế – xã hội ở nông
thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian
địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ
công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hoá.
Khái niệm thứ hai: Làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch
sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ
các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm
nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức
tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc.
Khái niệm thứ ba: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều
hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu. Nhưng với khái niệm 12
này thì làng nghề đó hiện nay không còn nhiều. Ví dụ như nghề gốm chỉ có ở
Phù Lãng (Bắc Ninh), Bát Tràng (Hà Nội).
Đó là những làng thuần nhất không làm ruộng, còn đa số vừa làm nghề, vừa
làm ruộng, ở đây thủ công nghiệp đối với họ chỉ là nghề phụ để tăng thu nhập
mà thôi.
Khái niệm thứ tƣ: Làng nghề là trung tâm Sản xuất thủ công, nơi quy tụ các
nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự
liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống
doanh nghiệp vừa và nhỏ, và có cùng tổ nghề. Song ở đây chưa phản ánh đầy đủ
tính chất của làng nghề; nó là một thực thể sản xuất kinh doanh tồn tại và phát
triển lâu đời trong lịch sử là một đơn vị kinh tế TTCN có tác dụng to lớn đối với
đời sống kinh tế – văn hoá - xã hội một cách tích cực.
Từ cách tiếp cận này ta có thể thấy khái niệm làng nghề liên quan đến các

-2010 là mở rộng các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiêu thủ công
nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đưa công nghiệp sơ chế và chế biến
nông thôn và vùng nguyên liệu; phát triển lĩnh vực dịch vụ cung ứng vật tư kỹ
thuật, trao đổi nông sản hàng hoá ở nông thôn…tăng nhanh việc làm cho khu
vực phi nông nghiệp.
Đến nay nước ta cơ bản vẫn là nước nông nghiệp, phần lớn người dân sống ở
nông thôn và làm nông nghiệp. Bên cạnh nghề trồng trọt, chăn nuôi là chính thì
trong nông thôn còn hoạt động nhiều ngành nghề mà vẫn thường gọi là nghề
phụ. Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cả nước đến năm
2007 có 2017 làng nghề; 1,4 triệu hộ sản xuất ngành nghề, tăng 5,3 % so với
năm 2005; tạo ra giá trị sản xuất khoảng trên 40.000tỷ đồng/năm; tốc độ tăng
trưởng bình quân khoảng 9 -10%/năm; giá trị xuất khẩu đạt khoản 2,1tỷ USD;
giải quyết việc làm cho hơn 11 triệu lao động. Cơ cấu các nhóm ngành nghề ở
các làng nghề hiện nay là” Chế biến nông lâm thuỷ sản chiếm 17,26%, nhóm 14
tiểu thủ công nghiệp chiếm 32,5%, nhóm dịch vụ chiếm 49,88% và các ngành
nghề khác chiếm 0,36%.
Từ những vấn đề trên, ta hãy tìm hiểu làng nghề đã có vai trò gì đối với sự
phát triển kinh tế, ổn định xã hội trong tình hình hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay.
+ Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
công nghiệp hoá, đó là việc góp phần làm tăng tỉ lệ trọng của công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỉ trọng của nông nghiệp, chuyển lao động
từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có
thu nhập cao hơn. Sự phát triển lan toả của làng nghề đã mở rộng quy mô và địa
bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động.
Xét trên góc độ phân công lao động thì làng nghề truyền thống đã có tác
động tích cực tới sản xuất nông nghiệp. Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất

phân bố rộng khắp ở các vùng nông thôn, hàng năm các làng nghề luôn sản xuất
ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá khá lớn, đóng góp đáng kể cho nền kinh
tế quốc dân nói chung và cho Hải Phòng nói riêng. Sản phẩm của các làng nghề
tạo ra hàng hoá xuất khẩu để thu ngoại tệ, vài năm gần đây, tính riêng sản phẩm
của 300 làng nghề truyền thống đã có mặt ở trên 100 nước, giá trị xuất khẩu đạt
trên 2,1tỷ USD/năm, chiếm 2,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (năm
2007). Các mặt hàng xuất khẩu rất được ưa chuộng như gốm mỹ nghệ, mây tre
đan, hàng thêu ren, thổ cẩm, gỗ mỹ nghệ, gỗ dân dụng, thảm len. Năng lực sản
xuất, kinh doanh của các làng nghề là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản
xuất hàng hoá ở nông thôn. Qua số liệu của một số làng nghề điển hình ở một số
địa phương đã nói lên sự đóng góp quan trọng của các làng nghề trong việc làm
tăng tổng giá trị sản phẩm hàng hoá:
Tỉnh Nam Định có tổng giá trị sản phẩm hàng hoá của các làng nghề đạt 224
tỷ đồng/năm. Chỉ tính riêng ba làng nghề Vân Chàng, Đồng Côi, Thôn Tư của
xã Nam Giang (huyện Nam Trực) đạt giá trị hàng hoá 50tỷ đồng/năm, làng nghề 16
Xuân Tiến đạt 22,2 tỷ đồng/năm, làng nghề Yên Xá đạt 16 tỷ đồng/năm. Năm
2000, doanh thu từ ngành nghề phi nông nghiệp (trừ dịch vụ, thương mại) là
92,8tỷ đồng;
Tỉnh Bắc Ninh, năm 2006 giá trị sản phẩm hàng hoá của các làng nghề đạt
560 tỷ đồng. Năm 2007 là 620 tỷ đồng, tăng 10%, chiếm tổng giá trị sản xuất
công nghiệp ngoài quốc doanh. Riêng làng nghề Đông Kỵ đạt trên 150 tỷ
đồng/năm, chỉ tính riêng năm 2007, làng nghề ở Bắc Ninh đã nộp cho ngân
sách nhà nước là 66,500 tỷ đồng, trong khi các xí nghiệp quốc doanh chỉ thu
được 3,4 tỷ đồng;
Tỉnh Hải Dương giá trị công nghiệp của ngành nghề nông thôn đạt 1100 tỷ
đồng năm 2007, đạt gần gấp đôi so với năm 2000 là 637 tỷ đồng. Một số làng
nghề truyền thống tiêu biểu như làng nghề vàng bạc Châu Khê, sản phẩm sản

sống cho dân cư nông thôn là vấn đề quan trọng ở nước ta hiện nay. Với 80%
dân số và 73% lao động cả nước, đất đai canh tác lại bị hạn chế bởi giới hạn của
tự nhiên - đây là một thách đố lớn đối với sự phát triển nông nghiệp và kinh tế
nông thôn. Vấn đề đặt ra là phải làm sao giải quyết được công ăn việc làm cho
lực lượng lao động này, đồng thời tăng thu nhập cho các hộ gia đình trong nông
thôn còn khoảng 1/3 chưa sử dụng. Nghĩa là có khoảng trên 10 triệu lao động dư
thừa. Do vậy vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho lao động nông thôn trở nên
hết sức khó khắn, đòi hỏi sự hỗ trợ về nhiều mặt và đồng bộ của các ngành nghề
và các lĩnh vực.
Những năm gần đây hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp, trong đó bao
gồm các nghề truyền thống đã thu hút hơn 11 triệu lao động, chiếm 30,5% lực
lượng lao động nông thôn. Tỷ lệ này chưa phải là cao song cũng góp phần tạo
thêm việc làm cho người lao động. Hiện nay, trong các làng nghề truyền thống,
bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho 27 lao động
thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ, mỗi hộ chuyên nghề tạo việc làm cho 4-
6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ. Đặc biệt ở nghề dệt, thêu ren, 18
mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 – 250 lao động. Nhiều làng nghề thu
hút trên 60% lao động tham gia vào các hoạt động ngành nghề tăng thu nhập cho
người lao động, thu nhập từ ngành nghề ở các làng nghề có khi gấp từ 3-5 lần so
với lao động thuần nông và trở thành nguồn thu nhập chính.
Làng nghề mộc Đồng Kỵ Bắc Ninh: Nơi đây nhiều công đoạn của nghề đã sử
dụng được bằng máy móc do vậy đã giảm được chi phí giá thành, nhiều mẫu mã
được khai thác và kết hợp với phong cách hiện đại do vậy đáp ứng được nhu cầu
của thị trường trong nước và xuất khẩu. Thu nhập lao động bình quân làng nghề
này từ 1,2 – 1,7 triệu đồng/tháng, những người thợ có tay nghề đòi hỏi kỹ thuật
tinh xảo có thu nhập cao hơn;
Nghề dệt cói có từ thế kỷ thứ 10, hiện nay theo số liệu điều tra của Bộ Nông

phẩm chủ yếu là đăng, đó phục vụ sản xuất, nuôi trồng thuỷ sản. Nghề đã thu
hút 120 hộ tham gia với 200 lao động, giá trị sản xuất đạt 1,5 tỷ đồng, Thu nhập
bình quân lao động từ nghề này đối với lao động chuyên 1.000.000đồng/tháng,
lao động kiêm 500.000 đồng/tháng;
Làng nghề nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản Lập Lễ: nuôi trồng, đánh bắt và
chế biến thuỷ sản tập trung chủ yếu ở xã Lập Lễ, với 840 tàu cá thu hút 4000 lao
động, thu nhập bình quân từ 1,2 triệu – 1,5 triệu đồng;
Xã Mỹ Đồng có hai thôn (Đồng Lý và Phương Mỹ), nghề đúc chỉ tập trung ở
làng Phương Mỹ. Gía trị sản xuất năm 2006 là 148, 29 tỷ đồng, từ nông nghiệp
có 11,417 tỷ đồng (bằng 8,97%), thu nhập bình quân chung đạt 7,06 triệu
đồng/người/năm, những lĩnh vực nông nghiệp chỉ đạt 1,5 triệu đồng/người/năm.
Như vậy, có thể nói vai trò của làng nghề truyền thống rất quan trọng, nó là
một bộ phận hợp thành của công nghiệp nông thôn, được coi là động lực trực
tiếp giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm tăng thu
nhập cho người lao động nông thôn. Thực tế cho thấy nơi nào có ngành nghề
phát triển thì nơi đó có thu nhập cao và mức sống cao hơn so với các vùng thuần
nông. Nếu so sánh với mức thu nhập của lao động nông nghiệp thì lao động ở
các ngành nghề cao hơn từ 3 đến 5 lần, đặc biệt là so với chi phí về lao động và 20
diện tích sử dụng đất thấp hơn nhiều so với sản xuất nông thôn nghiệp. Bình
quân thu nhập của một lao động trong hộ chuyên ngành nghề phi nông nghiệp là
850.000 đồng đến 1.500.000 đồng/tháng, hộ kiêm nghề từ 500.000 đồng đến
750.000 đồng/tháng.
Từ những dẫn chứng trên chứng tỏ làng nghề vẫn đóng một vai trò quan
trọng trong giải quyết việc làm và tạo thêm thu nhập cho lao động ở vùng nông
thôn cả nước nói chung và Hải Phòng nói riêng.
+Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lƣợng lao động, hạn
chế di dân tự do:

lại cao hơn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thì họ sẽ không muốn đi tìm việc
nơi khác.
+ Nâng cao giá trị sử dụng các nguồn tài nguyên:
Những điều kiện tự nhiên và nguyên liệu thô chỉ có giá trị khi được khai thác
sử dụng đúng mục đích, khi chúng thành những sản phẩm hữu ích phục vụ cho
con người.
Làng nghề đóng vai trò lịch sử to lớn trong vấn đề này, các làng nghề đã biến
các nguyên liệu thô trở thành những sản phẩm hữu ích phục vụ con người. Ngày
nay, giá trị này không thay đổi, mà ngược lại còn đóng vai trò to lớn trong nền
kinh tế quốc dân nói chung, góp phần làm thay đổi các vùng nông thôn nói
riêng.
Hải Phòng có nguồn tài nguyên khá phong phú về chủng loại và tiềm năng
khá dồi dào về qui mô số lượng. Trước hết phải kể đến tiềm năng về nguồn
nguyên liệu cho chế biến nông, thuỷ sản, đó là gạo làm bún bành, cá tôm làm
nước mắm và sản phẩm chế biến khác. Qua tính toán sơ bộ, so với giá nguyên
liệu, sau khi sản xuất, chế biến (thành hay bán thành phẩm thì giá trị tài nguyên
được tăng lên).
Như chế biến gạo thành bún, bún khô, bánh đa ướt hay cốm khô thì giá trị
sản phẩm tăng lên gấp 1,2 – 1,6 lần; Tre nứa, mây, để sản xuất hàng gia dụng và 22
phục vụ sản xuất nông nghiệp tăng gấp 2,0 – 2,5 lần; ding để đan sọt, song tăng
gấp 2 – 3 lần; cá làm nước mắm tăng giá trị lên trên 1,5 lần.
* Hỗ trợ phát triển dịch vụ du lịch, bảo tồn văn hoá truyền thống:
Sản phẩm của nghề thủ công truyền thống là sự kết tinh của lao động vật chất
và lao động tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của
người thợ thủ công. Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, mỗi
sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật, trong đó chứa đựng những nét đặc sắc của
văn hoá dân tộc, đồng thời thể hiện những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi

lịch, đồng thời cũng là những cơ hội lớn để quảng cáo cho làng nghề.
1.1.2. Các điều kiện phát triển làng nghề
Qúa trình phát triển của làng nghề cần có nhiều điều kiện, nhưng những điều
kiện này có sự biến đổi trong từng thời kỳ và tác động theo chiều hướng khác
nhau. Chúng có thể là những điều kiện thúc đẩy nhưng cũng có thể là những
điều kiện kìm hãm sự phát triển.Ở mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi làng nghề do
có những đặc điểm khác nhau về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn
hoá nên những điều kiện này là không giống nhau. Tuy nhiên ta có thể tìm hiểu
và khái quát những điều kiện cơ bản sau:
1.1.2.1.Cơ chế chính sách phát triển làng nghề: Qúa trình đổi mới kinh tế
cùng với hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước đã có những tác động
to lớn có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển của làng nghề truyền thống. Sự
chuyển biến quan trọng này đã được tác động bởi các đường lối, chính sách:
Nghị định số 66/2006/NĐ - CP ngày 07/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ về
một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn; Thông tư
hướng dẫn số 116/2006/TT – BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số
66/2006/NĐ - CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông
thôn; Thông tư 113/2006/TT – BTC ngày 28/12/2006 của Bộ Tài chính hướng
dẫn một số nội dung về ngân sách Nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nông
thôn theo Nghị định số 66/NĐ - CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ. Với những

Trích đoạn Tỡnh trạn gụ nhiễm mụi trƣờng trong cỏc làng nghề Tồn tại và nguyờn nhõn *Tồn tại: Bối cảnh quốc tế và trong nƣớc tỏc động phỏt triển làng nghề Hải Phũng. Định hƣớng phỏt triển làng nghề Hải Phũng trong bối cảnh mới của đất nƣớc. Một số giải phỏp chủ yếu phất triển làng nghề ở Hải Phũng 1 Giải phỏp về cụng tỏc quy hoạch, kế hoạch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status