Phát triển du lịch ở hải phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế - Pdf 10

1

Phát triển du lịch ở Hải Phòng
trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Tourism development in Haiphong in the context of international integration
NXB H. : TTĐTBDGV, 2012 Số trang 140 tr. +

Trần Ngọc Hương Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận văn ThS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Vũ Hồng Tiến
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về mối quan hệ giữa phát triển du
lịch và hội nhập quốc tế. Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Hải Phòng giai đoạn 2001
– 2011, định hướng đến 2020. Phân tích về cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch
ở Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Trên cơ sở đó đề xuất một số
phương hướng và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng trong thời gian tới.

Keywords: Kinh tế chính trị; Kinh tế du lịch; Hội nhập quốc tế; Hải Phòng; Phát triển Du
lịch

Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch đang trở thành một trong những ngành kinh tế tổng hợp phát triển nhanh nhất, lớn
nhất trên bình diện thế giới, góp phần đặc biệt quan trọng vào sự phát triển và thịnh vượng của
nhiều quốc gia. Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển, du lịch được coi là ngành kinh tế trọng
yếu, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, tăng thu ngoại tệ, tạo nhiều việc làm và
nâng cao mức sống của người dân. Phát triển du lịch là một trong những công cụ xóa đói, giảm

đáo, những thương hiệu mạnh để đủ sức cạnh tranh ngay ở trong nước, chứ chưa nói đến quốc tế.
Thu hút và huy động vốn đầu tư vào lĩnh vực du lịch còn khiêm tốn, vì vậy chưa có những công
trình lớn làm điểm nhấn cho phát triển ngành. Là một thành phố lớn, đô thị loại 1, song đến nay
thành phố vẫn chưa có khách sạn 5 sao, hạn chế trực tiếp đến việc tổ thức các sự kiện quốc tế lớn
ở Hải Phòng. Lực lượng lao động du lịch vừa thiếu, vừa yếu ở hầu hết các lĩnh vực kỹ thuật,
nghiệp vụ, công tác quản lý du lịch tuy có cố gắng nhưng còn nhiều bất cập…
Hội nhập quốc tế là xu thế khách quan, đòi hỏi các quốc gia, các vùng lãnh thổ vừa thúc
đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn nhau, đặt ra những thời cơ và thách
thức mới cho ngành du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Hải Phòng nói riêng. Chính vì vậy,
phân tích hiện trạng du lịch Hải Phòng là cần thiết và quan trọng để tìm ra những mặt mạnh, mặt
yếu trong phát triển kinh tế du lịch, để trên cơ sở đó đưa ra giải pháp có tính khả thi cho phát triển
du lịch Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay. Do đó đề tài “Phát triển du lịch
ở Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế” có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Du lịch là lĩnh vực đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học nghiên cứu
dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, đến nay đã có nhiều tác giả, nhiều cuốn sách, bài báo, luận
văn và các công trình khoa học đề cập đến vấn đề phát triển du lịch như:
“Phát triển kinh tế du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế của Trần
Quốc Nhật, 1995.
“Kinh tế dịch vụ và du lịch tỉnh Ninh Bình”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế của Hoàng Đức
Cường, 1999.
3

“Du lịch Hải Phòng - Thực trạng, phương hướng và giải pháp”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế
của Phạm Thị Khánh Ngọc, 1999.
“Phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc - tiềm năng và giải pháp”, Luận văn thạc sỹ
kinh tế của Trần Ngọc Tư, 2000.
“Thị trường du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sỹ kinh tế của
Trần Thanh Bình, 2005.
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”,

4

càng sâu rộng đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với việc phát triển
du lịch ở Hải Phòng.
Do đó, đề tài “Phát triển du lịch ở Hải Phòng trong điều kiện hội nhập quốc tế” vẫn cần
được tiếp tục nghiên cứu và vẫn còn ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Vận dụng lý luận để đánh giá về thực trạng hoạt động của du lịch ở Hải Phòng, trên cơ sở
đó đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế
hiện nay, góp phần đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế - xã hội của Hải Phòng.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập quốc tế.
- Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Hải Phòng giai đoạn 2000 - 2011.
- Phân tích về cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch ở Hải Phòng trong bối cảnh
hội nhập quốc tế hiện nay. Trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp phát triển du
lịch Hải Phòng trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về phát triển du lịch Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập
quốc tế hiện nay dưới góc độ kinh tế chính trị.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu tại Hải Phòng
- Thời gian: Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2011
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Kế thừa và vận dụng những thành tựu nghiên cứu về du lịch của các tác giả, đồng thời
quán triệt những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch ở
nước ta hiện nay.
- Tiếp cận nghiên cứu đề tài theo quan điểm duy vật biện chứng, logic - lịch sử và mang
tính hệ thống.

"Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản
xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú,
ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó
phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước (địa phương) làm du lịch và bản
thân doanh nghiệp".
1.1.1.2. Đặc trưng của hoạt động du lịch
- Du lịch là một hoạt động kinh tế mang tính tổng hợp đa ngành và xã hội hóa cao.
- Du lịch là một hoạt động mang tính xã hội, phát sinh, phát triển tình cảm đẹp giữa con
người với con người và giữa con người với thiên nhiên.
- Du lịch là một hoạt động mang nội dung văn hóa, một cách mở rộng không gian văn hoá
của du khách trên nhiều mặt: thiên nhiên, lịch sử, văn hóa qua các thời đại, của từng dân tộc v.v.
làm phong phú thêm khả năng thẩm mỹ của du khách khi họ được tham quan các kho tàng mỹ
thuật của một đất nước.
1.1.1.2. Sản phẩm du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, do đó sản phẩm của ngành du lịch chủ yếu là dịch
vụ, không tồn tại dưới dạng vật thể, không lưu kho lưu bãi, không chuyển quyền sở hữu khi sử
dụng, tính không thể di chuyển, tính thời vụ, tính trọn gói, tính không đồng nhất
6

1.1.2.3. Thị trường du lịch và các loại hình du lịch
- Thị trường du lịch
“Thị trường du lịch là bộ phận của thị trường chung, một phạm trù của sản xuất và lưu
thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán,
giữa cung cầu và toàn bộ các mối quan hệ, thông tin kinh tế, kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong
lĩnh vực du lịch”.
- Các loại hình du lịch
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau mà hoạt động du lịch có thể được phân thành nhiều loại
hình du lịch khác nhau. Tuy nhiên, các tiêu chí lại phụ thuộc vào quan điểm chủ quan và góc độ
tiếp cận của các tác giả.
1.1.2. Phát triển du lịch

thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.
* Hội nhập kinh tế quốc tế
Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới
thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn
phương đến song phương, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu.
* Hội nhập chính trị
Hội nhập về chính trị là quá trình các nước tham gia vào các cơ chế quyền lực tập thể
(giữa hai hay nhiều nước) nhằm theo đuổi những mục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các
luật chơi chung. Hội nhập chính trị thể hiện mức độ liên kết đặc biệt giữa các nước, trong đó họ
chia sẻ với nhau về các giá trị cơ bản (tư tưởng chính trị, ý thức hệ), mục tiêu, lợi ích, nguồn lực
và đặc biệt là quyền lực.
* Hội nhập an ninh quốc phòng
Hội nhập về an ninh - quốc phòng là sự tham gia của quốc gia vào quá trình gắn kết họ với
các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh. Điều này đòi hỏi các nước hội nhập
phải tham gia vào các thỏa thuận song phương hay đa phương về an ninh - quốc phòng trên cơ sở
các nguyên tắc chia sẻ và liên kết: mục tiêu chung, đối tượng chung, kẻ thù chung, tiến hành các
hoạt động chung về đảm bảo an ninh quốc phòng…
* Hội nhập về văn hóa - xã hội
Hội nhập về văn hóa - xã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn hóa với các nước khác; chia
sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần với thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của thế giới để bổ
sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc; tham gia vào các tổ chức hợp tác và phát triển văn hóa -
giáo dục và xã hội khu vực và hợp tác chặt chẽ với các nước thành viên hướng tới xây dựng một
cộng đồng văn hóa - xã hội rộng lớn hơn trên phạm vi khu vực và toàn cầu (ví dụ, tham gia Cộng
đồng văn hóa - xã hội ASEAN, UNESCO…).
1.2.2. Sự tác động qua lại giữa hội nhập quốc tế và phát triển du lịch
1.2.2.1. Vai trò của phát triển du lịch đối với hội nhập quốc tế
Về phương diện kinh tế
Biểu hiện cụ thể của nền kinh tế du lịch toàn cầu:
Về phương diện văn hóa - xã hội
1.2.2.2. Vai trò của hội nhập quốc tế đối với phát triển du lịch

nơi đang phát triển du lịch.
Thứ tư, hội nhập có thể làm gia tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống bị
xói mòn trước sự “xâm lăng” của văn hóa nước ngoài.

CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA HẢI PHÒNG
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY

2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các nguồn lực để phát triển du lịch của Hải Phòng
2.1.1. Vị trí của Hải Phòng đối với cả nước và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
2.1.1.1. Đối với cả nước
Hải Phòng là thành phố đô thị loại 1 cấp quốc gia, có hệ thống giao thông quan trọng,
thuận lợi, giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của vùng và của cả nước.

9

2.1.1.2. Đối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Hải Phòng là một trong ba cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Cũng
chính vì được xác định có chức năng quan trọng như vậy nên cùng với thế mạnh về vị trí, điều
kiện phát triển nên Hải Phòng đồng thời được xác định là trung tâm dịch vụ, thương mại và giao
dịch quốc tế lớn thứ 2 ở miền Bắc sau Hà Nội, là đầu mối phát luồng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn
nhất của cả vùng
2.1.2. Điều kiện và tài nguyên du lịch tự nhiên
- Tài nguyên đất
- Tài nguyên khí hậu
- Tài nguyên biển
- Đánh giá chung về tài nguyên du lịch tự nhiên
2.1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn
- Các di tích lịch sử văn hóa
- Các lễ hội truyền thống

- Phương tiện vận chuyển khách
2.2.2. Tình hình khai thác tài nguyên du lịch, phát triển các loại hình sản phẩm du lịch
2.2.2.1. Khai thác tài nguyên du lịch
2.2.2.2. Phát triển loại hình và sản phẩm du lịch
2.2.2.3. Tình hình hoạt động của các tuyến du lịch trên địa bàn thành phố
- Tuyến du lịch sinh thái biển (2 tuyến):
- Tuyến du lịch văn hoá và khảo cứu nông thôn (3 tuyến):
- Tuyến Du lịch nội thành (City tour)
- Kết quả kinh doanh: Theo số liệu thống kê, doanh thu của các doanh nghiệp kinh doanh
lữ hành và lưu trú có chiều hướng tăng về giá trị tuyệt đối nhưng chưa rõ rệt. Tuy nhiên, tốc độ
tăng trưởng doanh thu hàng năm có xu hướng giảm, còn 4% vào năm 2009 (do tác động của
khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu) và năm 2010 tăng 5%. Doanh thu trung bình trên 1 khách
ở mức 340,000đ, tương đối thấp so với mức bình quân chung của cả nước.
2.2.3. Tình hình đầu tư phát triển du lịch tại Hải Phòng
2.2.3.1. Các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách
2.2.3.2. Các dự án đầu tư trong nước
2.2.3.3. Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
2.2.4. Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch của ngành và các doanh nghiệp hoạt động du
lịch trên địa bàn thành phố
2.2.4.1. Xúc tiến du lịch trong nước
2.2.4.2. Xúc tiến du lịch nước ngoài
2.2.5. Nguồn nhân lực ngành du lịch Hải Phòng
2.2.5.1. Cán bộ quản lý ngành du lịch
2.2.5.2. Lao động trong ngành Du lịch
2.2.5.3. Cơ sở đào tạo nhân lực du lịch
2.2.6. Công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hải Phòng
2.2.6.1. Công tác quản lý nhà nước, bảo vệ cảnh quan môi trường và tài nguyên du lịch
được quan tâm; thường xuyên thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm tại các điểm, khu du lịch trên
địa bàn.
2.2.6.2. Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch từ thành phố đến quận, huyện đã được sắp

chất thải tại một số khu, điểm du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu. Chưa chú trọng bảo vệ môi
trường, bảo tồn di sản văn hoá phục vụ phát triển du lịch bền vững.
Hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch chưa có chiến lược dài hạn và các chương trình hành
động cụ thể, chất lượng thấp, hình thức quảng bá chưa phong phú, kinh phí quảng bá biết chưa tạo
được chyển biến rõ rệt trong nhận thức và quảng bá hình ảnh du lịch, chưa có bộ nhận diện
thương hiệu (brand identity), video clip quảng cáo và ấn phẩm (tờ rơi, bản đồ du lịch, brochure…)
còn nghèo nàn.
Công tác nghiên cứu thị trường chưa được quan tâm đầu tư đúng mức.
Hợp tác trong nước và quốc tế về du lịch còn yếu, chưa chủ động, tích cực và hình ảnh
đang mờ nhạt.
12

Sản phẩm du lịch đặc thù của Hải Phòng và các dịch vụ bổ trợ còn nghèo nàn, chưa có
các thương hiệu mạnh, chậm hình thành các tuyến du lịch mới, chưa có nhiều tuyến du lịch liên
thông với các địa phương trong vùng và quốc tế.
Công tác đào tạo nhân lực du lịch còn hạn chế.
Mặt khác, một trong trở ngại khiến du lịch Hải Phòng khó hội nhập và phát triển sâu rộng
hơn đó là các doanh nghiệp tham gia ngành du lịch quy mô nhỏ bé, phân tán, thiếu sự liên kết, hợp
tác kinh tế, phát triển chủ yếu dựa vào tăng vốn - một bất lợi của hầu hết các doanh nghiệp, chưa
đầu tư thích đáng đổi mới công nghệ, tăng cường quản trị doanh nghiệp và nâng cao năng lực
cạnh tranh.
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại
2.3.2.1. Nguyên nhân khách quan
2.3.2.1. Nguyên nhân chủ quan
Trước hết là chưa có sự nhận thức sâu sắc trong việc phát triển du lịch trở thành một
ngành kinh tế mũi nhọn của Thành phố, có tác động lan tỏa mạnh đối với các ngành khác và là
ngành có khả năng tạo ra nhiều việc làm cho xã hội một cách có hiệu quả nhất.
Môi trường kinh doanh du lịch còn nhiều bất cập và kém hấp dẫn do các nguyên nhân: thiếu
các quy hoạch du lịch chi tiết, làm hạn chế đầu tư vào du lịch; các thủ tục đầu tư, thẩm định, kiểm
tra, giám sát đầu tư còn nhiêu khê, phiền hà và tốn thời gian do việc phối kết hợp với các sở, ban

* Hạn chế về đổi mới, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, tác phong phục vụ của
đội ngũ lao động (quản lý, tác nghiệp) còn rất chậm.
* Hạn chế về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đặc biệt hệ thống khách sạn đạt tiêu chuẩn từ
3 sao trở lên, các dịch vụ về ngân hàng, vui chơi giải trí.
* Hạn chế về sản phẩm du lịch, đặc biệt là các sản phẩm du lịch đặc thù và hạn chế về
hoạt động marketing xúc tiến quảng bá du lịch so với yêu cầu phát triển.
* Ảnh hưởng của tính mùa vụ trong hoạt động du lịch
* Tính liên kết của Hải Phòng với các địa phương phụ cận, đặc biệt với Hà Nội và Quảng
Ninh trong hoạt động du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển
* Du lịch Hải Phòng phát triển trong thế cạnh tranh rất lớn, trước hết là với Hà Nội và
Quảng Ninh, trong điều kiện hình ảnh và sản phẩm du lịch Hải Phòng còn mờ nhạt, phát triển ở
mức thấp.
* Tác động của hoạt động phát triển đô thị và công nghiệp
* Sự xuống cấp của tài nguyên, môi trường du lịch mà trong đó là tình trạng “chồng
chéo” trong quản lý là một bất cấp lớn.
* Du lịch Hải Phòng phát triển trong bối cảnh chịu sức ép về trách nhiệm bảo tồn các giá
trị “khu dự trữ sinh quyển” và “khu di sản thiên nhiên thế giới”
* Nhận thức của xã hội về du lịch còn bất cập
3.1.2. Phương hướng và mục tiêu phát triển du lịch ở Hải Phòng
3.1.2.1. Phương hướng phát triển du lịch
3.1.2.2. Mục tiêu phát triển du lịch
* Mục tiêu tổng quát
* Mục tiêu cụ thể
- Về kinh tế:
- Về văn hóa - xã hội:
- Về môi trường:

14

3.2. Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch ở Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập quốc

- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý du lịch ở
các cấp; tiếp tục củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch của thành phố
và các địa phương, nhất là các địa phương trọng điểm du lịch, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát
triển du lịch trong tình hình mới.
- Tăng cường đào tạo nghề về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch.

15

3.2.6. Nhóm giải pháp đầu tư và chính sách phát triển du lịch
3.2.6.1. Giải pháp xây dựng cơ chế chính sách đẩy mạnh đầu tư và huy động các nguồn
lực phát triển du lịch
- Nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
- Điều tiết các nguồn thu từ hoạt động du lịch.
- Huy động vốn đầu tư của các doanh nghiệp và tổ chức khác
3.2.6.2. Giải pháp về cơ chế chính sách, biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ doanh
nghiệp, doanh nhân ngành du lịch của Hải Phòng theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả và có
năng lực cạnh tranh tốt.
3.2.7. Nhóm giải pháp về tăng cường hợp tác du lịch
3.2.7.1. Giải pháp về tăng cường hiệu quả triển khai hợp tác du lịch
3.2.7.2. Giải pháp về đa phương hóa, đa dạng hóa hợp tác du lịch quốc tế

KẾT LUẬN
Hiện nay, thế giới trong bối cảnh có nhiều biến động, nhiều yếu tố mới vừa là cơ hội vừa
là thách thức đối với ngành du lịch Việt Nam nói chung và phát triển du lịch của thành phố Hải
Phòng nói riêng.
Hải Phòng là thành phố cảng có đầu mối giao thông quan trọng với đường biển, đường
sông, đường bộ, đường sắt và cả đường hàng không, nhất là khi Hải Phòng có sân bay quốc tế lớn
ở Tiên Lãng, một trung tâm kinh tế phát triển và là một cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh
tế động lực phía Bắc, Hải Phòng sẽ là chiếc nôi, là bệ phóng để cho ngành Du lịch đi lên. Lịch sử

gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Qua phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch Hải Phòng đã thực sự không ngừng
lớn mạnh, dần từng bước đã nâng khả năng hoạt động để thực sự trở thành trung tâm du lịch lớn
của cả nước và khu vực. Sự lớn mạnh này, có nhiều nhân tố tác động trực tiếp, gián tiếp, nhưng
trong đó nhân tố tác động mạnh mẽ là sự nỗ lực vươn lên, khai thác được nguồn nội lực của địa
phương và của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Nhiều sản phẩm và loại hình du lịch
mới được đưa vào khai thác kinh doanh.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì ngành du lịch Hải Phòng còn bộc lộ
nhiều yếu kém, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế so sánh, chưa thực sự trở thành
trung tâm du lịch của cả nước và khu vực. Thiếu chiến lược nuôi dưỡng và phát triển các tài
nguyên có ảnh hưởng trực tiếp cho hoạt động và phát triển du lịch một cách hiệu quả; định hướng
phát triển du lịch chưa có phân kỳ chọn điểm, lĩnh vực làm đột phá để vươn lên thực sự trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn.
Chương 3, tác giả luận văn đã tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
- Bối cảnh và xu hướng du lịch thế giới, dự báo phát triển du lịch Việt Nam, dự báo phát
triển du lịch của thành phố Hải Phòng; thời cơ và thách thức đối với phát triển du lịch của thành
phố trong bối cảnh mới.
- Mục tiêu, phương hướng phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong thời
gian tới, định hướng đến năm 2020, du lịch Hải Phòng cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, đưa Hải Phòng trở thành điểm đến đáng
khám phá, đáng lưu trú
- Giải pháp bảo đảm thực hiện phương hướng phát triển du lịch trong bối cảnh hội nhập
quốc tế ở Hải Phòng. Trong nội dung này tác giả tập trung vào 7 nhóm giải pháp là: Tổ chức quản
lý nhà nước về du lịch; Hoàn thiện quy hoạch du lịch và hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển du
17

lịch; Phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá và xây dựng thương hiệu du lịch đặc trưng; Phát triển
sản phẩm du lịch; Chuẩn bị nguồn nhân lực cho phát triển du lịch; Huy động vốn đầu tư cho phát
triển du lịch và chính sách phát triển du lịch; Tăng cường hợp tác du lịch.
* Luận văn đã góp phần giải quyết các vấn đề sau:

9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18

10. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hoà (2004), Giáo trình Kinh tế du lịch, Nxb. Lao động
- Xã hội, Hà Nội.
11. Nguyễn Đình Hòa (10/2008), “Phát triển du lịch cộng đồng và xóa đói giảm nghèo ở Việt
Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển.
12. Ngô Tất Hổ (Trần Đức Thanh và Bùi Thanh Hương biên dịch), Phát triển và quản lý du
lịch địa phương, Nxb. Khoa học Bắc Kinh.
13. Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng (2006), Nghị quyết số 20/2006/NQ-HĐND về đẩy
mạnh phát triển du lịch giai đoạn 2006-2010, định hướng đến 2020, Hải Phòng.
14. Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng (2008), Nghị quyết số 04/2008/NQ - HĐND, Về
một số chủ trương, giải pháp chủ yếu phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội
nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố đến năm 2010, 2020, Hải Phòng.
15. Phan Quang Huy (2004), “Du lịch Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”,
Tạp chí Du lịch Việt Nam, (7).
16. TS. Hoàng Văn Kể (2010), “Định hướng chiến lược phát triển du lịch Hải Phòng”, Báo
Hải Phòng cuối tuần.
17. Đinh Trung Kiên (2003), “Đào tạo nguồn nhân lực du lịch trước yêu cầu mới”, Tạp chí Du
lịch Việt Nam, (2).
18. Phương Lâm (2006), “Những giải pháp phát triển du lịch Việt Nam hậu WTO”, Tạp chí
Du lịch Việt Nam, (8).
19. Nguyễn Văn Lưu (1998), Thị trường du lịch, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
20. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), Pháp lệnh du lịch, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật du lịch Việt Nam, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Hà Văn Siêu (7/2010), “Định hướng phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn tới”,
vietnamtourism.gov.vn.

39. www.kinhtehaiphong.com
40. www.mofa.gov.vn
41. www.thanhnien.com.vn
42. www.toquoc.gov.vn
43. www.vietnamnet.vn
44. www.vietnamtourism.gov.vn
45. www.vietbao.vn
46. www.vfej.vn
47. www.vnep.org.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status