1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG, HỘP 5
LỜI NÓI ĐẦU 6
Chương 1: XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO - VẤN ĐỀ MANG TÍNH TOÀN CẦU 11
1.1. Khái quát về vấn đề đói nghèo 11
1.1.1. Khái niệm đói nghèo 11
1.1.2. Phân loại đói nghèo. 12
1.1.3 Chuẩn đói nghèo. 13
1.2. Tác động của hội nhập quốc tế và vai trò của các tổ chức quốc tế đối với
phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo trên thế giới 15
1.2.1. Tổng quan nghèo đói trên thế giới 15
1.2.2.Tác động của hội nhập quốc tế và vai trò của các tổ chức quốc tế đến
phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo trên thế giới 17
1.3. Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của các nước khu vực và bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam 27
1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước khu vực về xóa đói giảm nghèo 27
1.3.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam về xóa đói giảm nghèo 30
Chương 2: CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM TỪ NĂM
1998 ĐẾN NAY 32
2.1. Tình hình đói nghèo tại Việt Nam 32
2.2. Chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng và Chính phủ Việt Nam thời kỳ
đổi mới 38
2.2.1. Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo 38
2.2.2. Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền
núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135) 45
2.2.3. Chương trình 134 52
2
2.2.4. Nghị quyết số 30a của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và
ESCAP The United Nations Economic and Social Commission for Asia and
the Pacific
Ủy ban Kinh tế - Xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương
EU European Union
Liên minh Châu Âu
FAO Food and Agriculture Organization
Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc
FDI Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GNP Gross National Products
Tổng Sản lượng Quốc dân
HDI Human Development Index
Chỉ số phát triển con người
IDA International Development Associations
Tổ chức Phát triển quốc tế
IGC International Grains Council
Hội đồng ngũ cốc quốc tế
ILO International Labour Organization
Tổ chức Lao động Quốc tế
MDG Millennium Development Goals
Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
ODA Official Development Assistance
4
Viện trợ phát triển Chính thức
OECD Organization for Economic Co-operation and Development
Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển
SIDA Sweden International Development Agency
Cơ quan Phát triển Quốc tế Thụy Điển
TCP Technical Cooperation Programme
Chương trình Hợp tác Kĩ thuật
những thành tựu đáng kể trong việc tăng thu nhập và giảm đói nghèo ở Việt Nam.
Tuy nhiên, số người nghèo vẫn còn rất nhiều và giúp họ thoát nghèo là một trong
những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Đặc biệt, với xu hướng của hội
nhập quốc tế và toàn cầu hóa như hiện nay sẽ tạo ra những ảnh hưởng nhất định đến
nền kinh tế của từng quốc gia nói chung và vấn đề xóa đói giảm nghèo của quốc gia
đó nói riêng. Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam việc nắm bắt được
những biến động và dự báo được tác động của những biến động của bối cảnh trong
nước và quốc tế là điều cần thiết trong việc hoạch định chính sách xóa đói giảm
nghèo. Đồng thời, tranh thủ được các cơ hội, kết hợp các nguồn nội lực và ngoại lực
để đạt được các mục tiêu xóa đói giảm nghèo của nước mình.
Do vậy, nghiên cứu vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập quốc tế hiện nay có ý nghĩa quan trọng cả về mặt khoa học lẫn trên thực tiễn.
Về mặt khoa học:
Luận văn hệ thống lại một số vấn đề lý luận về đói nghèo, phân tích và đánh
giá toàn diện tác động của hội nhập quốc tế và vai trò của các tổ chức quốc tế đến
phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo trên thế giới, phân tích đúc rút
kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của các nước trong khu vực và khả năng vận dụng
vào Việt Nam.
Luận văn tổng kết, phân tích và đánh giá toàn diện tình hình đói nghèo ở Việt
Nam từ năm 1998 đến nay và các chương trình xóa đói giảm nghèo của Chính phủ
triển khai trong giai đoạn này, chỉ rõ những thành công và hạn chế. Đặc biệt, luận
7
văn đi sâu đánh giá tác động của hội nhập quốc tế và vai trò của các tổ chức quốc tế
đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam đồng thời, đặt ra những yêu cầu,
mục tiêu xóa đói giảm nghèo trong bối cảnh mới, từ đó đề xuất một số khuyến nghị,
giải pháp. Luận văn là sự kết hợp và áp dụng những kiến thức đa ngành trong
nghiên cứu quốc tế học vào một lĩnh vực cụ thể là vấn đề đói nghèo ở Việt Nam
dưới góc độ hội nhập quốc tế.
Về mặt thực tiễn:
Những nhận định, đánh giá trong luận văn về bản chất nghèo đói tại Việt Nam,
Xã hội, số 21/Quý IV, tr.44. Tác giả đã nêu lên một số kết quả về xóa đói giảm
nghèo ở Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời cũng chỉ ra một số mặt còn tồn tại
trong xóa đói giảm nghèo. Qua đó nhận định các cơ hội và thách thức đối với công
cuộc giảm nghèo ở nước ta giai đoạn 2011-2020 và các định hướng về giảm nghèo
trong thời gian tới.
4. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội - UNDP, Đánh giá giữa kỳ chương
trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, giai đoạn 2006-2008, Hà Nội - Việt Nam,
2009. Báo cáo khẳng định đánh giá giữa kỳ được thực hiện trong bối cảnh kinh tế
và xã hội Việt Nam có nhiều biến động khôn lường qua đó đưa ra đánh giá tổng
quan về Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2008 dựa trên
các tiêu chí như: sự phù hợp về thiết kế chương trình; hiệu quả chương trình trong
việc đạt các chỉ tiêu đề ra; tính kinh tế và hiệu suất quản lý thực hiện chương trình.
Đồng thời báo cáo cũng đưa ra các phát hiện chính và các khuyến nghị của đánh giá
giữa kỳ. Tuy nhiên báo cáo chưa đi vào phân tích tác động của hội nhập quốc tế đến
vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nước ta.
Ngoài nước:
Chủ yếu là các ấn phẩm từ các tổ chức quốc tế như: các ấn phẩm của Ngân
hàng Thế giới, Liên hợp quốc, Tổ chức Nông lương Thế giới, Quỹ Bảo trợ Trẻ em.
Các ấn phẩm về xóa đói giảm nghèo của các tổ chức quốc tế nêu trên chủ yếu phân
tích hiện tượng đói nghèo, các phương hướng giải quyết, các chương trình xóa đói
giảm nghèo và thành tựu đạt được, các ấn phẩm chưa xét tới góc độ phân tích tác
động của hội nhập quốc tế đến vấn đề xóa đói giảm nghèo.
9
Tóm lại, các công trình và các bài viết trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề
xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. Tuy
nhiên, các công trình và bài viết này chưa phân tích tác động của hội nhập quốc tế
đến vấn đề đói nghèo ở Việt Nam. Trong khuôn khổ bài luận văn, học viên mong
muốn đóng góp thêm, đưa ra một cái nhìn khái quát hơn về vấn đề nghèo đói và xóa
đói giảm nghèo tại Việt Nam hiện nay, đồng thời thấy được tác động của hội nhập
quốc tế đối với xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay.
đến nay, phân tích đánh giá những thành công và hạn chế của các chương trình,
chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn này; phân tích tác động của
hội nhập quốc tế và vai trò của các chương trình hỗ trợ của các quốc gia và tổ chức
quốc tế đến công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn vừa qua.
- Chương 3: Một số khuyến nghị, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc
tế. Chương 3, thông qua việc tìm hiểu bối cảnh mới ở trong nước và quốc tế để
phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức đối với công cuộc xóa đói
giảm nghèo ở Việt Nam; từ đó đặt ra yêu cầu và mục tiêu xóa đói giảm nghèo ở
Việt Nam và đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các
hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, bài viết còn đưa ra các bản phụ lục, với tư cách như một
nguồn tài liệu tra cứu, về các số liệu chỉ số về đói nghèo và các biểu bảng số liệu.
11
Chương 1: XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO - VẤN ĐỀ MANG
TÍNH TOÀN CẦU
1.1. Khái quát về vấn đề đói nghèo
1.1.1. Khái niệm đói nghèo
Đói nghèo (poverty) là một khái niệm khá rộng với nhiều cách định nghĩa
khác nhau. Lý giải về đói nghèo trước hết chúng ta nên xem xét hiện tượng đói
nghèo này ở đặc trưng kinh tế, tính vật chất của nó.
Chủ thể đói nghèo được xem xét ở đây là con người, từng cá thể cũng như xã
hội. Với hướng nghiên cứu này chúng ta có một hệ vấn đề sau: Đói nghèo, phân hóa
giàu nghèo và xóa đói giảm nghèo. Vậy, đói nghèo không bao giờ là một hiện tượng
kinh tế thuần túy, thực chất nó là một hiện tượng kinh tế - xã hội. Cái “kinh tế” và
cái “ xã hội” là một sự liên kết chỉnh thể, nương tựa, biểu hiện, tác động và chế ước
lẫn nhau. Do đó, đói nghèo là khái niệm kép, vừa có mặt kinh tế, vừa có mặt xã hội
trong nội dung của nó, trong sự phát sinh, diễn biến của nó.
Đói nghèo là một khái niệm đa chiều, do đó chưa có một định nghĩa chung về đói
nghèo. Quan niệm đói nghèo chỉ mang tính chất tương đối bởi nó phụ thuộc vào điều
trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo: (i): có mức sống thấp hơn
mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; (ii): không được thụ hưởng những nhu
cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; (iii): thiếu cơ hội lựa chọn tham gia
vào quá trình phát triển cộng đồng.
1.1.2. Phân loại đói nghèo
Có nhiều cách phân loại đói nghèo khác nhau. Nếu căn cứ vào cấp độ của đói
nghèo người ta chia đói nghèo thành hai loại đó là đói nghèo tuyệt đối và đói nghèo
tương đối.
Đói nghèo tuyệt đối: Đói nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài
cùng của sự tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để
sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ, trong tình trạng bỏ bê và vượt quá sức tưởng tượng.
13
Đói nghèo tương đối: Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, đói nghèo
được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Đói nghèo tương đối có thể
được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất
cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của
xã hội đó.
1.1.3 Chuẩn đói nghèo
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 USD/ngày theo sức mua tương đương của
địa phương (so với USD thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát
cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các giá trị ranh giới nghèo tuyệt
đối được xác định cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2
USD/ngày cho châu Mỹ và Carribean và 4 USD/ngày cho những nước Đông Âu
cho đến 14,40 USD/ngày cho những nước công nghiệp. (UNDP 1997)
Trong chất lượng sống nói chung, người ta có nhiều chỉ số khác nhau để phản
ánh và so sánh. Có bốn hệ cơ bản là: Cấp hạng kinh tế và xã hội (Economic and
Social Rank) được tính theo quốc gia và 11 biến số khác nhau (5 biến số liên quan
đến sức khỏe, 5 biến số liên quan đến giáo dục và biến số còn lại là GNP theo đầu
người); Chỉ số Chất lượng sống Vật chất (Physical Quality of Life Index - PQLI)
dựa vào tỉ lệ tử vong trẻ em, tuổi thọ và tỉ lệ biết chữ; Chỉ số tiến bộ xã hội (Index of
30/01/2011 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn
2011-2015. Theo đó chuẩn đói không còn được đặt ra, do Việt Nam đã đạt mức dư
thừa lương thực. Chuẩn nghèo gồm 2 mức: Đối với hộ nghèo ở nông thôn có mức
thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng (4,8 triệu/năm) trở xuống; Đối với
hộ nghèo ở thành thị có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6
triệu/năm) trở xuống. Như vậy so với mức thu nhập để xác định chuẩn nghèo cho
giai đoạn 2006-2010 (200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000
đồng/người/tháng ở thành thị) thì mức thu nhập để xác định chuẩn nghèo giai đoạn
tiếp theo được điều chỉnh lên gấp hai lần. Cũng theo Quyết định số 09/QĐ-TTg thì
hộ cận nghèo ở nông thôn có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng
đến 520.000 đồng/người/tháng; ở thành thị có mức thu nhập bình quân từ 501.000
đồng/người/tháng đến 650.000 đồng/người/tháng.” [28].
15
1.2. Tác động của hội nhập quốc tế và vai trò của các tổ chức quốc tế đối với
phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo trên thế giới
1.2.1. Tổng quan nghèo đói trên thế giới
Chúng ta đang sống trong một thế giới mất cân bằng, vừa giàu lại vừa nghèo.
Dân số thế giới hiện có khoảng 7 tỷ người, hơn 1 tỷ người trong số đó chiếm 80%
thu nhập trong khi đa số còn lại (gần 6 tỷ người) lại chỉ chiếm khoản thu nhập nhỏ
nhoi, ít hơn 20%. [25]. Đói nghèo hiện được coi là thách thức lớn nhất mà nhân loại
phải đối mặt trong thế kỷ 21. Tổng quan nghèo đói trên thế giới được trình bày dựa
trên các tiêu chí chính dưới đây:
Về lương thực: Năm 2010 thế giới có 1,1 tỉ người thiếu đói, 3/4 trong số đó
phải sống với mức thu nhập dưới 1 đôla một ngày, tập trung chủ yếu ở khu vực
châu Phi, tiểu Sahara, một phần châu Á và Mỹ La tinh. Trên thế giới, mỗi năm có
hơn 9 triệu người chết vì đói và suy dinh dưỡng, 5 triệu người trong số đó là trẻ em.
Cứ 5 giây lại có một đứa trẻ chết vì đói. [41]
Theo Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) và Tổ chức Hợp tác Kinh tế
và Phát triển (OECD) thông báo tháng 6/2010 sản lượng ngũ cốc toàn cầu giảm
mạnh hơn dự đoán do hạn hán vẫn tiếp diễn tại khu vực trồng ngũ cốc chính ở Châu
phải sống trong điều kiện thiếu vệ sinh, thiếu nước sạch, không có dịch vụ y tế tối
thiểu cùng các phương tiện sinh hoạt khác, và họ bị gạt ra ngoài lề xã hội. Hiện nay,
Liên hợp quốc đã phát động chiến dịch cải tạo nhà ổ chuột trên toàn thế giới, do số
người phải sống trong những ngôi nhà dột nát này đã tăng từ 900 triệu người năm
2000 lên 1 tỷ người vào năm 2009 và có thể sẽ tăng lên gấp đôi trong vòng 30 năm
nữa. [37]
Về y tế: Vấn đề thuốc men, thiếu trang thiết bị hiện đại và cơ sở vật chất y tế
đủ điều kiện, trình độ và số lượng y, bác sỹ là những vấn đề lớn về y tế mà các nước
nghèo đang gặp phải. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Bảo trợ trẻ em, tỷ
lệ tử vong ở trẻ sơ sinh năm 2009 là 3,3 triệu trẻ, giảm hơn 1 triệu trẻ trong vòng 20
năm, với việc giảm 1% mỗi năm, khu vực Châu Phi được nhận thấy là có những
tiến bộ chậm nhất so với bất kỳ khu vực nào trên thế giới. Có tới 99% trường hợp tử
vong sơ sinh xảy ra ở các nước đang phát triển nguyên nhân tử vong sơ sinh thế giới
là do sinh non (29%), ngạt (23%) và nhiễm trùng nghiêm trọng đồng thời một phần
còn do dân số quá đông tại các nước này. [71]
17
Về giáo dục: theo báo cáo giám sát toàn cầu năm 2009, thế giới hiện có 850
triệu người mù chữ (chiếm khoảng 1/5 tổng dân số thế giới), trong đó có 75 triệu là
trẻ em. Gần 98% số người mù chữ ở các nước đang phát triển, trong đó Châu Phi có
tỷ lệ so với số dân cao nhất, tới 54%. [26].
Về việc làm: tạo công ăn việc làm cho người lao động là một vấn đề cấp bách
không những ở các nước chậm phát triển mà cả ở các nước công nghiệp phát triển.
“Theo báo cáo từ Tổ chức Lao động Quốc Tế (ILO) số người thất nghiệp trên thế
giới năm 2010 là 205 triệu người, tương đương với số người mất việc làm trong
năm này. Cũng theo ILO, thanh niên là đối tượng bị thất nghiệp nhiều nhất lên tới
78 triệu người và con số này sẽ tiếp tục tăng trong các năm tới”. [50]
Trước thực trạng nghèo đói trên thế giới được trình bày ở trên đòi hỏi sự nỗ
lực của các quốc gia trong việc khắc phục nạn đói nghèo trên quy mô toàn cầu,
đặc biệt là vai trò của các quốc gia phát triển, các tổ chức chính phủ và phi chính
phủ quốc tế, của các Quỹ đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo trên thế giới
Dưới tác động của những chiều hướng đó, kinh tế thế giới trải qua những biến đổi
về chất, các ngành công nghệ cao, đặc biệt là những lĩnh vực có hàm lượng chất
xám cao, công nghệ thông tin và sinh học phát triển nhanh chóng làm thay đổi sâu
sắc cơ cấu sản xuất, tiêu dùng, trao đổi, cũng như phương thức làm ăn và cả sinh
hoạt, giao lưu của loài người.
Thứ ba, hội nhập quốc tế là căn cứ, tiền đề để hình thành và phát triển mô
thức kinh tế thị trường mở cửa trên phạm vi toàn thế giới. Bởi hội nhập tức là không
chấp nhận kinh tế khép kín, tình trạng phân biệt đối xử, các ưu đãi riêng, các rào
cản quốc tế để có thể xâm nhập vào thị trường của các nước khác thì một nước
trước tiên phải mở cửa thị trường nước mình. Hội nhập kinh tế quốc tế là hội nhập
vào nền kinh tế thị trường toàn cầu, trong đó các yếu tố thị trường bao giờ cũng vận
hành đồng bộ. Do đó những nước đi sau, do trình độ phát triển kinh tế thị trường
còn thấp (chẳng hạn đồng tiền chưa chuyển đổi, thị trường chứng khoán chưa phát
triển, mức độ tự do hóa thị trường tài chính ở mức thấp, ) tất yếu trước sức ép của
hội nhập sẽ có điều kiện để đẩy nhanh các quá trình cải cách, khắc phục điểm yếu
19
nhằm hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường để hội nhập có hiệu quả vào nền
kinh tế thế giới.
Thứ tư, hội nhập quốc tế là phương thức làm bật ra nguồn lực, các lợi thế so
sánh và theo đó, là lợi thế cạnh tranh của từng nước. Do vậy hội nhập quốc tế có tác
động tích cực trong việc xem xét và đánh giá các nguồn lực phát triển của từng
nước, xác định được vị trí và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước trong
so sánh với trình độ phát triển của các nước khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Công
việc này tuy khó khăn nhưng hết sức quan trọng để giúp các nước đi sau gia tăng
khả năng cạnh tranh, phát huy lợi thế so sánh, kết hợp được nguồn lực trong và
ngoài nước thực hiện nhanh bước chuyển kinh tế thị trường theo hướng tự do hóa
mà cụ thể là nhanh chóng dỡ bỏ các hàng rào thương mại, đầu tư, tài chính, công
nghệ, để tận dụng được các cơ hội do cam kết khu vực và quốc tế mang lại.
Thứ năm, hội nhập quốc tế có tác động làm thay đổi tư duy và phương pháp
quản lý điều hành của chính phủ đối với các quá trính phát triển. Khi các nền kinh
kiệt tài nguyên và môi trường. Môi trường không được đảm bảo, cuộc sống của
những con người sống trong môi trường đó cũng không được đảm bảo. Như vậy,
đói nghèo, tài nguyên môi trường bị khai thác cạn kiệt, dân số và chất lượng dân số
không đảm bảo, tất cả các yếu tố này đang là thách thức đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội và quá trình hội nhập quốc tế của các quốc gia, kéo theo các tệ nạn xã hội,
vấn đề tội phạm và tội phạm quốc tế gia tăng gây ảnh hưởng tới an ninh xã hội
trong quốc gia đó nói riêng đồng thời gây bất ổn an ninh quốc tế.
Hội nhập quốc tế làm phân hóa giàu nghèo trên thế giới rất nghiêm trọng. Đi
cùng với hội nhập quốc tế là việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế đưa đến sự phát
triển về kinh tế - chính trị - xã hội giữa các quốc gia từ đó đem lại kết quả là mức
sống tốt hơn cho con người nhưng cũng cần nhận thấy rằng kết quả đó không được
phân phối đồng đều. Bên cạnh một số ít nước tận dụng được cơ hội, mở cửa nền
kinh tế và thực hiện hội nhập quốc tế thành công, cải thiện cuộc sống cho bộ phận
lớn người dân thì còn rất nhiều các quốc gia nhất là các quốc gia đang phát triển và
kém phát triển vẫn luẩn quẩn trong đói nghèo và lạc hậu. Hầu hết các nước đều
nhận thức được tất yếu phải hội nhập quốc tế nếu không sẽ không thể thoát khỏi
tình trạng nghèo đói và lạc hậu. Nhưng nếu hội nhập quốc tế thì các nước đang phát
21
triển và kém phát triển sẽ phải đối mặt với những thách thức cực kỳ gay gắt là phụ
thuộc vào các nước tư bản, công nghệ nước ngoài và rơi vào quỹ đạo của các nước
tư bản phát triển nếu không có đối sách phù hợp. Như vậy, hội nhập quốc tế làm
cho khoảng cách giàu - nghèo, phát triển - kém phát triển trở thành rào cản phân
chia ngày càng rõ nét khi các nỗ lực kinh tế của các nước nghèo dồn vào cho công
cuộc xóa đói giảm nghèo, nền kinh tế chỉ đạt được những thành tựu không đáng kể.
Hai là, hội nhập quốc tế là quá trình xóa bỏ một số khác biệt giữa các nước,
xác lập những tiêu chí phát triển chung, trong đó cùng với việc làm rõ quyền lợi,
nghĩa vụ, trách nhiệm về mọi mặt của từng quốc gia thành viên, là việc hy sinh một
phần tính độc lập trong các quyết sách kinh tế và phát triển. Điều này đồng nghĩa
với việc để hội nhập quốc tế một cách đầy đủ và toàn diện thì quyền quyết định
quốc gia càng có nguy cơ bị thu hẹp.
giảm những chênh lệch về mức sống và để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đại đa số
nhân dân thế giới. Hội nghị đã thông qua Chương trình Nghị sự 21 - Agenda 21.
Chương trình Nghị sự 21 có nội dung bao trùm lên các vấn đề về môi trường, phát
triển và nhằm vào 12 mục tiêu. Đạt được phát triển bền vững trong thế kỷ 21 là mục
tiêu chủ đạo của Chương trình Nghị sự 21.
Bên cạnh Chương trình Nghị sự 21, tháng 9 năm 2000, tại Hội nghị Thượng
đỉnh Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc tại New York đã đưa ra các Mục tiêu Phát
triển Thiên niên kỷ (Millenium Development Goals - MDGs), với phương châm
“cùng tiến lên phía trước”, các nhà lãnh đạo của 189 quốc gia đã thống nhất thông
qua tám mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ ghi nhận sự đồng lòng chưa từng có của
các nhà lãnh đạo trên thế giới về những thách thức quan trọng trong thế kỷ 21 cũng
như cam kết chung về việc giải quyết những thách thức này. Tám mục tiêu Phát triển
Thiên niên kỷ bao gồm 18 chỉ tiêu và 48 chỉ số kỹ thuật đo lường tiến độ thực hiện các
MDG,
là chương trình đầy tham vọng trải dài suốt 15 năm (xem phụ lục 1).
Việt Nam cũng như hầu hết các nước tiếp tục triển khai thực hiện những cam
kết của mình trong Tuyên bố Thiên niên kỷ; Cùng với việc đề ra các mục tiêu phát
triển của Việt Nam (xem phụ lục 2) Chính phủ Việt Nam cũng tiến hành lồng ghép
ngày càng đầy đủ hơn các MDG với chất lượng cao hơn trong kế hoạch Phát triển
kinh tế - xã hội, thúc đẩy việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.
Trong 10 năm qua thế giới đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc đạt được các
MDG nhưng mức độ tiến bộ là không đồng đều ở các châu lục và các quốc gia.
23
Trong khi những nước có nền kinh tế phát triển nhanh có cơ hội thực hiện được các
MDG theo đúng lộ trình và có thể hoàn tất vào năm 2015 thì ngược lại, nhiều nước
khác chỉ có thể đạt được MDGs nếu nhận được hỗ trợ từ bên ngoài. Khó khăn đối
với cộng đồng thế giới là làm thế nào huy động được sự hỗ trợ tài chính và hậu
thuẫn chính trị, tái định hướng các chính sách phát triển của mình và thiết lập quan
hệ hợp tác với các tổ chức phi Chính phủ và khu vực tư nhân. Qua đây cho thấy đói
nghèo là vấn đề chung trên quy mô toàn cầu. Do vậy, hội nhập quốc tế là đòn bẩy,
điều kiện sống của người nông dân, qua đó thực hiện thắng lợi mục tiêu xóa đói
giảm nghèo. FAO đặc biệt chú trọng đến các khu vực nông thôn đang phát triển, nơi
có 70% dân số nghèo đói trên thế giới nhằm đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và an
ninh lương thực cho mọi người.
Hộp 1: Các hình thức trợ giúp và hợp tác của FAO
- Hợp tác thông qua các dự án của UNDP: Trong khuôn khổ các dự án của UNDP,
ngoài UNDP và nước nhận viện trợ, FAO tham gia như một th
ành viên thứ ba.
- Hợp tác thông qua Chương trình hợp tác kỹ thuật (TCP): Đây là sự hỗ trợ của FAO
dưới h
ình thức dự án trợ giúp các nước thành viên. Mỗi dự án trị giá khoảng từ
250.000 USD đến 500.000 USD, trích từ nguồn vốn ngân sách thường xuyên của
FAO. Khoảng 60% dự án TCP hỗ trợ trực tiếp cho các nước nhận viện trợ và 40% cho
các chương trình quốc tế khác. Trung bình thời gian thực hiện dự án này là một năm và
không được kéo dài quá hai năm.
- Hợp tác thông qua Quỹ Ủy Thác (TF) của FAO: Đây là nguồn viện trợ nước ngoài
c
ủa các chính phủ, các ngân hàng và các tổ chức thế giới thông qua FAO thực hiện và
qu
ản lý.
- Hợp tác thông qua Sáng kiến Chương trình lương thực truyền thông (Telefood): Sáng
ki
ến này được FAO đưa ra nhằm huy động thêm nguồn tài chính cho các dự án chống
đói nghèo, thông qua các hoạt động truyền thông giúp nâng cao nhận thức của người
dân về nạn đói nghèo trên thế giới. Nguồn vốn cho mỗi dự án thuộc loại này rất hạn
chế, chỉ khoảng 10.000 USD/dự án.
- Hợp tác thông qua Chương trình đặc biệt về an ninh lương thực (The Special
Programme for Food Security (SPFS): Chương tr
ình SPFS hiện đang được triển khai ở
trên 100 quốc gia nhằm nâng cao năng lực cho các nhóm nông dân nhỏ và các hộ