Đánh giá tác dụng của phúc châmtrong phục hồi chức năng vận động ở bệnh nhân liệt nửa người do nhồi máu não sau giai đoạn cấp - Pdf 57

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là các thiếu sót chức năng thần
kinh xảy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa, các triệu
chứng tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trong vòng 24 gi ờ và th ường do
nguyên nhân mạch máu, loại trừ nguyên nhân chấn thương sọ não [1].
Theo thống kê về bệnh tật của Hoa Kỳ, TBMMN đứng hàng thứ ba
về nguyên nhân tử vong, dẫn đầu về nguyên nhân gây nên tàn tật. Mỗi
năm có 795.000 ca, ba phần tư các trường hợp gặp ở người trên 65 tuổi,
cứ thêm 10 tuổi nguy cơ tăng gấp đôi, cứ 40 giây có một bệnh nhân
TBMMN [2].
TBMMN gây ra các khiếm khuyết về vận động, cảm giác, giác quan,
ngôn ngữ… Phục hồi chức năng với mục đích giúp người bệnh có th ể tự
đi lại, tự phục vụ được bản thân, độc lập tối đa trong sinh hoạt hàng
ngày, hòa nhập được với gia đình và xã hội [3],[4].
Trong TBMMN, nhồi máu não chiếm 87%, xuất huyết não 10% và
xuất huyết dưới màng nhện 3% [5].
TBMMN với tỉ lệ nhồi máu não chiếm 80-85%, các di chứng để lại
gồm di chứng nhẹ và vừa chiếm tỷ lệ cao 68,4%, di chứng nặng là 27,6%
trong đó di chứng về vận động là chủ yếu chiếm 92,6% [6]. Gần 2/3 số
bệnh nhân sống sót sau TBMMN bị thiếu hụt về chức năng thần kinh một
cách trầm trọng [7]. 2% trở lại nghề cũ, còn lại phải thay đổi nghề khác.
Bệnh nhân không thể trở lại công việc do nhiều di chứng nặng nề.
Ngày nay, việc điều trị phục hồi chức năng cho người bệnh
TBMMN không chỉ đơn thuần của chuyên ngành Phục hồi ch ức năng mà
chuyên ngành Y học cổ truyền cũng mang lại hiệu quả đáng kể. T ại Vi ệt


2
Nam, các phương pháp không dùng thuốc được s ử dụng nh ư: điện châm,



4

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TÌNH HÌNH TBMMN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1.1. Tình hình tai biến mạch máu não trên thế giới
Tại Mỹ, ước tính có 6,6 triệu người Mỹ ≥20 tuổi bị đột quỵ (ngoại suy
đến năm 2012 bằng sử dụng dữ liệu 2009–2012). Tỷ lệ TBMMN tổng thể
trong thời gian này khoảng thời gian ước tính là 2,6% [11]. Ước tính có
khoảng 7,2 triệu người Mỹ ≥20 tuổi bị đột quỵ (ngoại suy đến năm 2014 bằng
cách sử dụng dữ liệu NHANES 2011–2014). Tỷ lệ đột quỵ tổng thể trong giai
đoạn này ước tính 2,7% [5].
Nghiên cứu dịch tễ TBMMN ở Trung Quốc đã được tiến hành rất sớm từ
những năm 1980, nhóm tác giả Li., Zhang Z. và cộng sự đã tổng hợp cho thấy
tỉ lệ mắc trên 100.000 dân có sự khác nhau giữa các vùng như: Bắc Kinh là
1.285, Hà Bắc: 1.249, Vân Nam: 824, Thượng Hải: 615, ngược lại ở các tỉnh
phía nam Trung Quốc như: Quảng Châu chỉ có 519, Hải Nam 192 [12].
1.1.2. Tình hình tai biến mạch máu não ở Việt Nam
Theo Lê Văn Thành (2011), tại Việt nam với 80 triệu dân: số mới mắc
khoảng 200.000 người/năm, số người bị TBMMN đang sống là 486.000
người và tử vong là 104.800 người/năm [2].
TBMMN cấp là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 3
và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế ở các nước đang phát triển, trong đó
có Việt Nam [13].




Willis, hai hệ thống động mạch cảnh trong và sống nền, giữa hai động mạch
cảnh trong hai bên được nối thông với nhau.
Ngoài ra còn vòng nối giữa động mạch cảnh trong và cảnh ngoài cùng
bên qua ổ mắt. Giữa động mạch mắt của cảnh trong và động mạch mặt của
động mạch cảnh ngoài. Vòng nối ở bề mặt của bán cầu đại não giữa các
nhánh nông của các động mạch não trước, não giữa và não sau.

Hình 1.1. Hệ thống động mạch cung cấp máu cho não
1.2.2.3. Sinh lý tuần hoàn não
Lưu lượng tuần hoàn não chiếm đến 15% tổng lưu lượng tuần hoàn của
cơ thể tức là 750ml/phút hoặc 52ml/phút cho 100 gam não. Hệ thống tuần
hoàn não được đảm bảo rất tốt nhờ vào cơ chế tự điều hòa do hệ thống thần
kinh tự động và khả năng ổn định lưu lượng tuần hoàn não trong các thay đổi
về huyết áp.


7

1.2.3. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh [4],[6],[15]
- Huyết khối động mạch não: là một quá trình bệnh lý liên tục, nguyên nhân
do tổn thương thành mạch, làm rối loạn hệ thống cầm máu, gây đông máu
và/hoặc rối loạn tuần hoàn. Đó là quá trình bệnh lý gây hẹp hoặc tắc động mạch
não xảy ra ngay tại vị trí động mạch bị tổn thương.
- Tắc mạch: phần lớn do các mạch lớn ở vùng cổ bị xơ vữa, lớp nội mạc
mất nhẵn trơn, tạo thuận lợi cho các tiểu cầu bám vào sau đó bong ra theo dòng
máu đi lên não nằm lại ở một mạch trong não có đường kính nhỏ hơn tạo thành
cục tắc, cục tắc có thể tan đi (vì cấu trúc bởi tiểu cầu nên dễ tan), gây tình trạng
thiếu máu cục bộ thoảng qua. Nếu ngoài tiểu cầu có thêm hồng cầu bám vào, do
cấu tạo hồng cầu có sợi tơ huyết nên cấu trúc chắc hơn, khi lên não, cục tắc này

bởi liệt mềm rồi chuyển sang liệt cứng với mẫu co cứng điển hình và “cử
động khối”, có thể kèm liệt dây thần kinh sọ, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn cơ
tròn, rối loạn cảm giác kèm theo.
Hội chứng vai tay và hiện tượng đau khớp vai bên liệt.
Các hoạt động chức năng: người bệnh có thể tự lăn trở, ngồi dậy tại
giường nhưng thăng bằng và điều hợp chưa tốt cản trở việc di chuyển cho dù
cơ lực có thể đã hồi phục.
Các hoạt động chăm sóc: tay liệt hồi phục chậm hơn, khiến các hoạt
động hàng ngày chủ yếu nhờ tay lành, mẫu co cứng thường tạo thuận cho di
chuyển nhưng đối với tay, nó thường cản trở các hoạt động sinh hoạt như:
mặc áo, cầm đồ vật do hiện tượng đồng vận các khớp ở tay, co cứng và quay
sấp cẳng tay.
Rối loạn ngôn ngữ và lời nói: thất ngôn và mất thực dụng lời nói.
- Dấu hiệu sinh tồn ổn định, không có dấu hiệu hô hấp, tim mạch cấp
tính đe dọa đến tính mạng.
1.2.5.2. Cận lâm sàng [6]


9

Chụp CT Scanner hoặc chụp MRI: cho thấy hình ảnh của nhồi máu não
1.2.6. Điều trị sau giai đoạn cấp
1.2.6.1. Nguyên tắc điều trị bằng thuốc
- Thuốc chống ngưng tập tiểu cầu
- Dùng phối hợp các thuốc tăng cường tuần hoàn não và bảo vệ thần kinh
- Điều trị các yếu tố nguy cơ và bệnh kèm theo như: tăng huyết áp, đái
tháo đường, rối loạn lipid máu…
- Chống biến chứng kèm theo: chống bội nhiễm, chống loét…
1.2.6.2. Nguyên tắc điều trị phục hồi chức năng [16]
- Tăng cường sức mạnh cơ bên liệt

mồ hôi nhiều, đại tiểu tiện mất tự chủ, người mềm, lưỡi rụt, mạch trầm huyền
vô lực.
1.3.4. Liệt nửa người do trúng phong sau giai đoạn cấp
Khi người bệnh được điều trị qua giai đoạn cấp để lại triệu chứng liệt
nửa người, bệnh lúc này thuộc phạm vi chứng Bán thân bất toại với hai thể
hay gặp trên lâm sàng:
- Can thận âm hư: bán thân bất toại, chân tay bên liệt tê dại, hay hoa
mắt, chóng mặt, ù tai, mặt đỏ, phiền táo không yên, chất lưỡi đỏ, rêu vàng,
mạch huyền tế sác.
- Phong đàm: bán thân bất toại, miệng méo xệch, tay chân tê dại, nặng
nề, lưỡi cứng, khó nói hoặc không nói được, rêu lưỡi trắng dày nhớt, mạch
phù hoạt hoặc huyền hoạt.


11

1.4. ĐIỀU TRỊ PHCN LIỆT NỬA NGƯỜI DO TBMMN
1.4.1. Phục hồi chức năng theo YHHĐ
Phục hồi chức năng là các biện pháp y học, xã hội, hướng nghiệp, giáo
dục làm hạn chế tối đa giảm chức năng, tạo cho người khuyết tật cõ cơ hội
tham gia các hoạt động để hội nhập, tái hội nhập xã hội, có cơ hội bình đẳng
trong cộng đồng xã hội [16].
Nguyễn Văn Triệu (2005), cho thấy nhóm được tập luyện PHCN, mức
độ độc lập chức năng, chỉ số tái hội nhập cộng đồng, tỷ lệ trở lại làm việc sau
TBMMN một năm cao hơn so với nhóm chứng và tỷ lệ tử vong, tỷ lệ các
thương tật thứ phát thấp hơn [21]
Lê Anh Tuấn (2005), cho kết quả: tỷ lệ độc lập trong sinh hoạt chiếm
47%, cần trợ giúp: 27,9%, phụ thuộc: 25,1%. Bệnh nhân được tập luyện sớm
trong tháng đầu kể từ sau TBMMN có tỷ lệ độc lập trong sinh hoạt: 58,8%,
sau2-3 tháng: 47,9% [22].

khuyết, theo đó tiên thiên của con người từ tinh khí vô hình đến sự hình thành
phôi thai. Từ quan điểm của YHCT, vùng bụng không chỉ chứa nhiều cơ quan
quan trọng, mà có phân bố của một số lượng lớn các kinh mạch, khí huyết
phân bố đến toàn thân, mà còn là nơi quan trọng phát hiện các triệu chứng,
dùng để chẩn đoán và điều trị bệnh. Vì vậy, nó có lợi thế trong điều trị bệnh
nội tạng và bệnh hệ thống mãn tính.
Hệ thống điều hòa vùng bụng lấy rốn làm trung tâm, bởi vì trước khi
sinh, dây rốn duy trì sự sống, cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tăng
trưởng và phát triển của bào thai.
Vùng bụng là nơi ngũ tạng lục phủ hội tụ, vì vậy điều trị bằng châm các
huyệt vùng bụng có thể điều chỉnh kinh lạc khắp cơ thể, qua đó điều trị các
bệnh toàn thân. Liệu pháp này có phạm vi điều trị rộng, liên quan đến nhiều


13

bệnh: viêm mũi dị ứng, bệnh gút, hen suyễn, hẹp ống sống, viêm cột sống
dính khớp, cao huyết áp, tiểu đường, mất ngủ, trầm cảm, ù tai, điếc, viêm túi
mật, viêm tụy, di chứng TBMMN, trứng cá, liệt mặt, Parkinson, béo phì, liệt
dương, rối loạn tiêu hóa, hội chứng ruột kích thích, táo bón mãn tính, loét
miệng tái phát, đau bụng kinh, vô kinh, kinh nguyệt không đều, u xơ tử cung,
tăng sản vú và rối loạn phụ khoa khác, đầu gối cổ tử cung và thắt lưng và đau
khớp mắt cá chân, đau thần kinh tọa, viêm quanh khớp vai, chứng đau khuỷu
tay, đau nửa đầu, đau sau herpes và các chứng đau khác…[27].
Chúc Hiểu Trung (2006) cho rằng khi bị trúng phong, khí huyết sẽ bị
hỗn loạn, mất cần bằng âm dương, hệ kinh lạc trống rỗng, vùng bụng là nơi
mà khí huyết dồi dào nhất trong cơ thể, phúc châm có khả năng tối đa điều
tiết khí huyết, giúp khí huyết phân bố trở lại để nuôi dưỡng các kinh mạch bị
tổn thương, do đó công năng của các kinh lạc dần dần được hồi phục [28].
Lưu Mẫn (2008), mục đích của phúc châm để điều tiết lại công năng

(một thành viên của họ endorphins) cũng nằm trong ruột. Ruột cũng là một
nguồn giàu benzodiazepin - dẫn chất hóa học thần kinh bao gồm những loại
phổ biến như valium và xanax.
Nơron của hệ tiêu hoá chịu trách nhiệm sản xuất ra các chất truyền dẫn
thần kinh (neuromediator, là những chất tiếp nhận các xung thần kinh và
truyền tới các bộ phận trên toàn cơ thể), đặc trưng cho não. Theo kết luận của
các nhà khoa học trong nhóm Herson 95% các chất truyền dẫn này là
serotonin, sinh ra trong dạ dày.
Hệ thần kinh cũng sản sinh ra một lượng lớn endorphin. Ngoài ra người
ta cũng chứng minh rằng các hocmon dạ dày như cortison và melatonin cũng
quy định tình trạng của giấc ngủ, thao thức hay mộng mị và trung tâm của
cảm giác đau đớn nằm ngay ở “bộ não thứ hai”, không phải ngẫu nhiên mà
nhiều cơ quan như tim chẳng hạn khi “có vấn đề” lại phát tín hiệu thông qua
sự đau nhói nơi dạ dày [32].


15

1.5.2.2. Cách chọn huyệt phúc châm trong điều trị di chứng TBMMN
Theo Bạc Trí Vân (1999), chọn các huyệt phúc châm điều trị di chứng
TBMMN gồm: Trung quản, Hạ quản, Khí hải, Quan nguyên, bên liệt thêm:
Hoạt nhục môn, Thượng phong thấp điểm, Ngoại lăng, Hạ phong thấp điểm.
Chóng mặt thêm Âm đô, Thương khúc. Tay liệt thêm Thượng phong thấp
ngoại điểm, Thượng phong thấp thượng điểm bên liệt. Chân liệt thêm Hạ
phong thấp hạ điểm. Bộ huyệt gồm: Trung quản, Hạ quản, Quan nguyên, Khí
hải có tác dụng dẫn khí quy nguyên, trong đó Trung quản, Hạ quản điều hòa
vị khí, hóa thấp trệ, lý trung tiêu, điều thăng giáng. Kinh phế thái âm khởi
nguồn từ trung tiêu nên châm Trung quản, Hạ quản có tác dụng điều khí thăng
giáng. Khí hải nghĩa là bể của khí, Quan nguyên có tác dụng bồi thận cố bản
mà thận lại chủ tiên thiên nguyên khí vì vậy bốn huyệt trên khi châm có hàm

Theo Bạc Trí Vân, vì vùng bụng có lớp mỡ dày, châm quá nông sẽ không
đạt được hiệu quả mong muốn, đối với người thể trạng béo châm sâu: 50mm,
trung bình: 40mm, người gầy: 30mm. Theo tác giả, độ dày của thành bụng
phân thành 3 tầng ứng với thiên, địa, nhân. Đối với những bệnh ở biểu thì


17

châm nông (tương ứng thiên), bệnh bán biểu bán lý (tương ứng địa), bệnh lâu
ngày đã vào đến phần lý châm sâu (tương ứng địa). Các bệnh mạn tính lâu
ngày thuộc hư chứng thường châm bổ các huyệt [27].
Theo Cao Phàm, để tăng tác dụng dẫn khí quy nguyên chọn cách châm
sâu, thực hiện cho các huyệt: Thương khúc, Khí bàng (bên lành), châm kim
sâu, Hoạt nhục môn, Ngoại lăng (châm 2 bên) độ sâu trung bình, còn các
huyệt Thượng phong thấp điểm, Thượng phong thấp thượng điểm, Thượng
phong ngoại điểm, Hạ phong thấp điểm, Hạ phong thấp hạ điểm (châm bên
bệnh và châm nông). Sử dụng kim 0,22 x 0,25mm hoặc 0,22 x 0,3mm. Châm
bình bổ, bình tả, lưu kim 30 phút. Châm 6 lần/tuần trong 2 tuần [10].


18

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Là những bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên, không phân biệt giới, nghề
nghiệp, được chẩn đoán liệt nửa người do nhồi máu não, có kết quả chụp cắt lớp
vi tính hoặc cộng hưởng từ sọ não, đã được điều trị qua giai đoạn cấp, điều trị tại

2.2.1. Công thức huyệt phúc châm và cách châm
2.2.1.1. Công thức huyệt
1. Trung quản

2. Hạ quản

6. Thượng phong thấp điểm

5. Hoạt nhục môn

7. Ngoại lăng
3. Khí hải

4. Quan nguyên

8. Hạ phong thấp điểm


20

Hình 2.1. Sơ đồ huyệt phúc châm [35]

2.2.1.2. Cách châm
Trung quản, Hạ quản, Khí hải, Quan nguyên châm sâu
Hoạt nhục môn, Ngoại lăng (châm 2 bên) độ sâu trung bình,
Thượng phong thấp điểm, Hạ phong thấp điểm châm bên bệnh và châm nông.
Các huyệt trên châm bổ.
2.2.2. Phác đồ nền
Được áp dụng tại Bệnh viện Châm cứu trung ương
2.2.2.1. Điện châm: áp dụng theo phác đồ điện châm điều trị liệt nửa người


Thái xung

- Châm bổ: Huyết hải

Tam âm giao

Túc tam lý


21

2.2.2.2. Xoa bóp bấm huyệt
Có công dụng thúc đẩy khí huyết vận hành, điều hòa kinh mạch và công
năng các tạng phủ rất có lợi cho sự phục hồi chức năng của chi liệt. Xoa bóp
bấm huyệt tay và chân bên liệt theo các huyệt châm cứu.
2.2.2.3. Hướng dẫn bệnh nhân tự tập luyện theo bài tập vận động chung (phụ
lục 3): Gồm tập vận động thụ động, tập vận động chủ động, tập vận động có trợ
giúp: tập cho các khớp vai, khớp khuỷu, khớp cổ tay, khớp các ngón tay, khớp
háng, khớp gối, khớp cổ chân, khớp các ngón chân, tập ở tư thế nằm sấp [36].
2.2.3. Phương tiện nghiên cứu
- Bệnh án nghiên cứu (Phụ lục 1)
- Thước đo tầm vận động khớp 360, một cành cố định, một cành di
chuyển, nối với nhau ở tâm thước.
- Kim châm cứu bằng thép không gỉ, vô khuẩn, dài 6-20cm
- Khay men, bông, cồn 70, kẹp (pince) có mấu
- Máy điện châm hai tần số bổ, tả của Bệnh viện Châm cứu trung ương.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng.

thực hiện. Đánh giá kết quả theo 3 mức:
Mức 3: độc lập hoàn toàn (95-100 điểm),
Mức 2: Trợ giúp ít: 65-95 điểm
Mức 1: Trợ giúp trung bình: 60-25 điểm
Mức 0: Trợ giúp hoàn toàn: 20-0 điểm
- Tình trạng mẫu co cứng: gấp chi trên và duỗi chi dưới


23

- Tầm vận động thụ động và chủ động của các khớp chính: sử dụng
thước đo góc 360 độ, một cành cố định, một cành di chuyển, nối với nhau ở
tâm thước thực hiện đo.tầm vận động khớp vai, khớp khuỷu tay và cẳng tay,
khớp cổ tay, khớp bàn-ngón tay, khớp háng, khớp gối, khớp cổ chân.
2.3.5. Cách đánh giá kết quả nghiên cứu
- Lượng giá theo 3 giai đoạn:
+ Lần đánh giá đầu tiên khi bệnh nhân nhập viện
+ Lần đánh giá thứ 2 sau 3 tuần bệnh nhân điều trị
+ Lần đánh giá thứ 3 sau 6 tuần bệnh nhân điều trị
- Lượng giá chức năng vận động chi trên, chi dưới theo mẫu bệnh án.
Bệ
nhlýnhân
liệt nửa người do nhồi máu não đã qua giai đoạn
2.3.6.
Xử
số liệu
cấp
Các số liệu được xử lý bằng phương pháp toán thống kê y học sử dụng
phần mềm SPSS 16.0.
Bệnh nhân đạt tiêu chuẩn nghiên cứu


Phân tích, đánh giá kết quả giữa hai nhóm


24


25

CHƯƠNG 3

DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1. Đặc điểm về tuổi và giới tính
Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi và giới tính
Giới
Độ tuổi
≤50
Từ 51-69
≥ 70
Tổng

Nam
Số lượng
Tỷ lệ %

Nữ
Số lượng Tỷ lệ %



Nhóm chứng
Số lượng Tỷ lệ %

p



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status