Đánh giá kết quả phối hợp gương trị liệu trong phục hồi chức năng bàn tay trên bệnh nhân liệt nửa người do nhồi máu não - Pdf 48

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một vấn đề thời sự cấp thiết của y
học nói chung, của ngành phục hồi chức năng nói riêng đối với mọi quốc gia,
mọi dân tộc trên thế giới. Theo thống kê, TBMMN là nguyên nhân gây tử
vong thường gặp đứng hàng thứ hai ảnh hưởng tới 15 triệu người trên toàn thế
giới [1].
Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ TBMMN mắc mới hàng năm vào khoảng 700.000
đến 750.000 người, tử vong vào khoảng 130.000 người. Bệnh gây tiêu tốn chi
phí cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ở nhóm bệnh nhân này lên đến 70 tỷ
đôla Mỹ mỗi năm [2].
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỉ lệ tàn tật cao nhất. Hiện có
486.400 người bị mất sức lao động, tàn tật do TBMMN [3]. Với dân số 80
triệu dân, mỗi năm có khoảng 200.000 người bị TBMMN, tử vong khoảng
100.000 người. Theo một nghiên cứu cấp Bộ về TBMMN tại 3 tỉnh: thành
phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang và Kiên Giang tỷ lệ mới mắc mỗi năm là
2,5/1000 dân, tỷ lệ tử vong 1,31/1000 dân.
Tuy tỉ lệ tử vong không cao bằng chảy máu não nhưng nhồi máu não
luôn được quan tâm do nó chiếm đến 80 - 85% tổng số bệnh nhân bị
TBMMN và là nguyên nhân chính gây tàn phế ở người trưởng thành [4].
Với sự phát triển y học, ngày nay số bệnh nhân bị TBMMN được cứu
sống ngày càng nhiều, song tỷ lệ người bị di chứng và tàn tật do TBMMN
cũng tăng lên [5]. Đặc biệt là di chứng về vận động. Theo thống kê của Bộ
Lao Động – Thương binh – Xã hội (2005) cả nước có khoảng 5,3 triệu người
tàn tật, khuyết tật vận động là cao nhất chiếm tỷ lệ 51,9% [6]. Trong đó di
chứng làm giảm và mất vận động của chi trên chiếm tỉ lệ lớn. Theo nghiên
cứu của Desrosiers (2006) các di chứng ở chi trên và bàn tay chiếm 69% [7].


2


TỔNG QUAN
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ TBMMN
1.1.1. Định nghĩa và phân loại về TBMMN
Theo Tổ chức Y tế Thế giới 1990: “TBMMN là sự xảy ra đột ngột các
thiếu sót thần kinh, thường khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại quá 24 giờ hoặc tử
vong trong 24 giờ. Các khám xét loại trừ nguyên nhân chấn thương” [8].
1.1.2. Phân loại [9], [10]
Tùy thuộc vào bản chất tổn thương, TBMMN chia thành 2 thể lớn:
1.1.2.1. Nhồi máu não (Thiếu máu não cục bộ)
* Khái niệm: là tình trạng khi một mạch máu bị tắc nghẽn, khu vực não mà
mạch máu đó cung cấp bị thiếu máu và hoại tử.
* Phân loại:
- Cơn thiếu máu não thoáng qua: tai biến phục hồi hoàn toàn trong 24
giờ. Loại này thường được coi là yếu tố nguy cơ của thiếu máu não cục bộ
hình thành.
- Thiếu máu não cục bộ hồi phục: tai biến phục hồi trên 24 giờ không để
lại di chứng hoặc di chứng không đáng kể.
- Thiếu máu não cục bộ hình thành: thời gian phục hồi kéo dài, để lại di
chứng hoặc tử vong.
Ngoài ra còn có nhồi máu lỗ khuyết: là thể bệnh đặc biệt của NMN.
* Triệu chứng:
- Lâm sàng: thường gặp là liệt nửa người, không hoặc rối loạn ý thức nhẹ, liệt
các dây thần kinh sọ, không có dấu hiệu màng não.
- Cận lâm sàng:
+ Chọc dò dịch não tủy: nếu chảy máu vào khoang não - tủy dịch có thể
trong, không có hồng cầu.


4

1.1.3.1. Động mạch cảnh trong
Hệ động mạch cảnh trong bao gồm:
- Động mạch não trước
- Động mạch não giữa
- Động mạch thông sau
- Động mạch mạc trước
* Động mạch não trước
- Động mạch này tách ra các nhánh vỏ và nhánh trung tâm.
- Các nhánh vỏ cấp máu cho các vùng vận động và cảm giác thân thể ở chi
dưới. Các nhánh trung tâm cấp máu cho thể trai, đầu của nhân đuôi và bao trong.
- Tắc động mạch não trước gây liệt nửa người bên đối diện, chân nặng
hơn tay. Mất cảm giác ở khu vực bên liệt (ưu thế bàn chân và cẳng tay).
* Động mạch não giữa
Động mạch não giữa cũng chia thành các nhánh vỏ và nhánh trung tâm.
- Các nhánh vỏ chia thành 2 nhánh chính là nhánh vỏ dưới và nhánh vỏ trên.
+ Nhánh vỏ dưới cấp máu cho mặt ngoài thuỳ thái dương và hồi góc.
+ Nhánh vỏ trên cấp máu cho thuỳ trán và thuỳ đỉnh.
Các nhánh vỏ của động mạch não giữa cấp máu cho mặt ngoài bán cầu,
nơi có vùng vỏ vận động và cảm giác thân thể cho chi trên, đặc biệt là bàn tay.
- Các nhánh trung tâm gồm các nhánh vân ngoài gần và nhánh vân ngoài
xa. Các nhánh này cấp máu cho nhân nền và bao trong. NMN hoặc chảy máu
não thường xảy ra ở các nhánh trung tâm do chúng có đường kính nhỏ và
thành mạch dễ vỡ. Trong khi đó bao trong là con đường duy nhất liên kết vỏ
đại não và các vùng khác của trục thần kinh, hậu quả của tổn thương cấu trúc
này hết sức nặng nề. Các dấu hiệu thần kinh sảy ra tổn thương bao trong bao
gồm liệt cứng và mất cảm giác nửa người bên đối diện, ưu thế mặt và tay.


6
* Động mạch thông sau

và phân tử ở các vùng quanh não và xa tổn thương [15]. Ở mức tế bào khi
thiếu máu sẽ xuất hiện một môi trường đặc biệt cho các sợi trục sống sót mọc
các nhánh mới và tạo các liên kết mới trong tháng đầu tiên [16]. Jones và
cộng sự cũng thấy bằng chứng của sự thay đổi cấu trúc là tăng sinh các nhánh
đuôi gai và synap [17]. Các protein phát triển bình thường không có trong não
người nhưng lại thấy sau NMN và chúng phát huy hiệu quả trong nhiều ngày,
nhiều tháng [18]. Các protein này ảnh hưởng đến sự phát triển của các neuron,
quá trình sinh mạch máu và các tế bào. Hơn nữa có sự di chuyển các neuron
trưởng thành tới vùng quanh não tổn thương một phần qua trung gian bởi
cytokine erythropoietin [19]. Tất cả những gợi ý này nhằm chứng tỏ một điều
rằng có sự thay đổi về cấu trúc của não sau TBMMN.
- Nhiều nghiên cứu về hình ảnh chức năng cũng cho thấy sự hoạt động
của vùng vận động chính bên não không bị tổn thương có liên quan chặt chẽ
đến vận động của bệnh nhân TBMMN [20].
- Theo Baner [21] có thể có các cơ chế sinh học trong hồi phục não như sau:
* Đối với mạng lưới thần kinh gồm có:
+ Phục hồi khả năng kích hoạt các tế bào thần kinh.
+ Hoạt hoá các đường dự trữ.
+ Hoạt hoá những mạng lưới mà bình thường không hoạt động (bán
cầu não đối bên tổn thương, vỏ não tiền vận động cùng bên).
+ Điều hoà tính dễ bị kích thích bằng các chất dẫn truyền thần kinh.
* Đối với Synap gồm có:
+ Điều hoà các tín hiệu về chức năng dinh dưỡng trong tế bào thần
kinh (yếu tố dinh dưỡng thần kinh, protein kinases).
+ Thay đổi tính mềm dẻo của synap: các chất điều hoà peptit và các
chất dẫn truyền thần kinh làm thay đổi tính dễ bị kích thích của


8
synap, làm giảm sự nhạy cảm của các thụ cảm thể sau synap, bộc lộ

Tại Châu Á, theo Hiệp hội Thần kinh học các nước Đông Nam Á, bệnh
nhân TBMMN điều trị ở Trung Quốc là 40%, Ấn Độ 11%, Philipin 10%,
Triều Tiên 16%, Indonexia 8%, Việt Nam 7%, Malaixia 2% [27].
Nghiên cứu TBMMN ở mười nước Đông Nam Á cho thấy NMN gặp
65,4%, chảy máu não là 21,3%. Với tuổi thọ trung bình ngày càng cao, vấn đề
TBMMN đã và đang trở thành sự quan tâm của y tế và cộng đồng [28].
1.1.5.2. Việt Nam
- Các nghiên cứu về TBMMN nói chung và NMN nói riêng đã được tiến
hành từ những năm 1960.
- Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thông và cộng sự về TBMMN trong 10
năm (2003 – 2012) tại Trung tâm Đột quỵ bệnh viện Trung ương Quân đội
108 có 5256 bệnh nhân điều trị [29].
- Tại Khoa bệnh lý mạch máu não BV 115 số bệnh nhân tiếp nhận không
ngừng tăng, năm 2005 nhận 1210 nhưng 2013 nhận 7923 bệnh nhân, các đơn
vị đột quỵ khác của thành phố Hồ Chí Minh con số đều tăng [3].
- Theo Nguyễn Văn Đăng, tỉ lệ mới mắc ở Hà Nội là 131/100.000 dân [30].
- Theo nghiên cứu của Dương Xuân Đạm, Cao Minh Châu, Nguyễn Văn
Triệu ở Hải Dương (2008) thì tỷ lệ hiện mắc là 374/100.000 dân [31].
- Theo Lê Văn Thính, NMN ở lứa tuổi trẻ từ 26 – 45 chiếm tỷ lệ 51,81%
[32]. Theo Doãn Thị Huyền, bệnh nhân NMN động mạch não giữa tuổi trên
45 là 87,5%, tỷ lệ nam/nữ là 1,55/1 [33].


10
- Tỷ lệ di chứng nhẹ và vừa của TBMMN là 68,42%, tỷ lệ di chứng nặng
là 27,69%, trong đó di chứng về vận động chiếm 92,96%. Tỷ lệ người bị
TBMMN đang sống tại cộng đồng có nhu cầu PHCN là 94% [34].
1.2. GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG – SINH LÝ CHI PHỐI VẬN ĐỘNG
BÀN TAY VÀ CHI TRÊN [11], [35], [36].
Việc kiểm soát cử động của cơ thể nói chung và của bàn tay nói riêng là

khiển động tác của vai, cánh tay sao cho phù hợp với động tác của bàn tay.
- Trong vùng tiền vận động còn có một số vùng đặc biệt như vùng khéo
tay, ở phía trước vùng vận động chính của bàn và ngón tay. Khi bị tổn thương
vùng này cử động của bàn tay trở nên không phối hợp và không mục đích.
* Vùng vận động bổ túc (vùng 8 Broadman): cùng với vùng tiền vận
động tạo nên các cử động liên quan đến tư thế, cử động tinh vi và khéo léo
của tay. Khi kích thích vùng này thường gây động tác nắm bàn tay.


12
1.2.2. Các đường dẫn truyền thần kinh vận động
1.2.2.1. Đường dẫn truyền vận động chính (Hệ tháp)
* Dải vỏ - tuỷ [11]
Trước đây còn gọi là bó tháp hay bó vỏ gai song hiện nay hai tên này ít
dùng. Dải vỏ - tuỷ là một đường vận động chính đi từ vỏ não vận động chạy
xuống hành tuỷ và tuỷ sống, chi phối vận động hữu ý cho các cơ xương ở cổ,
thân và tứ chi.
- Bắt nguồn chủ yếu từ diện vận động nguyên thuỷ. Các sợi trục tập hợp
lại đi qua trung tâm bầu dục vào bao trong, qua cuống não, cầu não đến hành
não thì có 90% số sợi bắt chéo sang bên đối diện tạo thành dải vỏ tuỷ bên
(còn gọi là bó tháp chéo). Vì vậy, khi bị NMN bên này sẽ gây liệt vận động
nửa người bên đối diện. 10% còn lại đi thẳng ở trước hành não tạo thành dải
vỏ tuỷ trước (còn gọi là bó tháp thẳng). Đến tuỷ sống tiếp xúc với tế bào thần
kinh vận động ngoại biên ở sừng trước tuỷ sống.
- Dải vỏ - tuỷ kiểm soát chủ yếu các cử động khéo léo, tinh vi của các cơ
ở bàn tay, đặc biệt là ngón tay.
1.2.2.2. Đường dẫn truyền vận động phụ (Hệ ngoại tháp)
Đi từ vỏ não xuống tuỷ sống gián tiếp qua các nhân dưới vỏ xuống đến
sừng trước tuỷ bao gồm: bó đỏ - tuỷ, bó lưới - tuỷ, bó vỏ - cầu, bó vỏ - mái,
bó tiền đình - tuỷ. Trong đó có bó đỏ - tuỷ, bó lưới - tuỷ, bó tiền đình - tuỷ

* Khớp khuỷu tay: gập duỗi khuỷu giúp định hướng cẳng tay để đưa bàn tay
đến gần hoặc ra xa đồ vật. Quay sấp, quay ngửa cẳng tay tạo điều kiện thuận
lợi để bàn tay thực hiện các động tác dễ dàng.
* Khớp vai: là khớp chỏm cầu có khả năng vận động linh hoạt trong khi cần
thao tác bàn tay.
* Cột sống: giúp ổn định và cân bằng hai khớp vai giúp cử động bàn tay.


14
1.3. GIẢI PHẪU – SINH LÝ CHỨC NĂNG BÀN TAY
1.3.1. Giải phẫu chức năng bàn tay [37]
1.3.1.1. Xương

Hình 1.6. Giải phẫu xương bàn tay [37]
* Các xương cổ tay: có tám xương nhỏ xếp thành một khối gồm hai hàng:
+ Hàng trên đi từ ngón cái đến ngón út là xương thuyền, xương nguyệt,
xương tháp và xương đậu.
+ Hàng dưới có xương thang, xương thê, xương cả, xương móc.
* Các xương bàn tay: gồm năm xương đốt bàn tay. Mỗi xương đốt bàn tay
bao gồm có một nền, một thân và một chỏm.
* Các xương của ngón tay: mỗi ngón có ba đốt xương là đốt gần, đốt giữa,
đốt xa. Riêng ngón cái có hai đốt.
1.3.1.2. Khớp
* Khớp quay - cổ tay
Cấu tạo khớp cổ tay, phía cẳng tay là xương quay, phía bàn tay là xương
thuyền, xương nguyệt và xương tháp. Khớp tạo động tác gập, duỗi, dang,
khép. Động tác sấp, ngửa bàn tay xảy ra cùng động tác sấp, ngửa cẳng tay.
* Các khớp cổ tay - đốt bàn tay:
Được tạo bởi các xương hàng dưới cổ tay với nền các xương đốt bàn
tay. Khớp cổ tay - đốt bàn thứ I được tạo bởi xương thang và nền xương đốt

ngón cái, cơ đối chiếu ngón cái. Đây là các cơ nhỏ có chức năng giống như
tên gọi. Do thần kinh trụ và thần kinh giữa chi phối.


16
 Nhóm cơ ô mô út
Gồm cơ gan tay ngắn, cơ dang ngón út, cơ gập ngắn ngón út, cơ đối
chiếu ngón út. Cơ gan tay ngắn có chức năng làm giãn da ở ô mô út. Các cơ
còn lại có chức năng giống như tên gọi. Do thần kinh trụ chi phối.
1.3.1.4. Các cử động
 Các cử động của khớp cổ tay
* Gập bàn tay
- Cơ chủ vận: cơ gập cổ tay quay, cơ gập cổ tay trụ.
- Cơ trợ vận: cơ gan tay dài, các cơ gập ngón, cơ gập ngón cái.
* Duỗi bàn tay
- Cơ chủ vận: cơ duỗi cổ tay quay dài, duỗi cổ tay quay ngắn, duỗi cổ tay trụ.
- Cơ trợ vận: cơ duỗi các ngón và cơ duỗi ngón cái.
* Khép bàn tay: còn gọi là nghiêng trụ hay nghiêng trong bàn tay. Khép bàn
tay xảy ra theo nguyên tắc hình bình hành lực với sự tham gia của cơ gập cổ tay
trụ và cơ duỗi cổ tay trụ.
* Dang bàn tay: còn gọi là nghiêng quay hay nghiêng ngoài bàn tay. Dang
bàn tay là do các cơ khác có hướng lực làm dang bàn tay.
 Các cử động của khớp ngón tay
* Gập ngón tay: do cơ gập nông các ngón, cơ gập sâu các ngón, cơ gập dài
ngón cái phụ trách vận động.
* Duỗi ngón tay: do cơ duỗi các ngón tay, cơ duỗi ngón trỏ, cơ duỗi ngón út,
cơ duỗi dài ngón cái, cơ duỗi ngắn ngón cái phụ trách vận động.
* Dang ngón cái: do cơ dang dài ngón cái phụ trách vận động.
1.3.2. Sinh lý chức năng bàn tay
Bàn tay là một cơ quan quan trọng nhất của cơ thể. Ngoài hai chức

 Các kiểu cầm nắm của bàn tay
* Thao tác chung
- Bàn tay nắm lại: các ngón được gập lên gan bàn tay và không
giữ đồ vật. Đồ vật di chuyển hoặc đi vào hoạt động khi nắm tay
tiếp xúc với nó. Ví dụ như di chuyển một đồ vật trên một bề mặt


18
láng, đưa về phía mình một đồ vật đặt trên bàn.
- Bàn tay xòe ra: là trường hợp gan bàn tay ấn lên đồ vật. Ví
dụ như đưa một đồ vật về phía mình bằng cách cho nó lướt nhẹ
trên bàn và thao tác với nó ở bên trên.
* Cầm nắm bằng hai tay
Đồ vật được cầm giữa cả hai lòng bàn tay hoặc giữa hai gan bàn tay. Nó
giúp để lấy và để mang một đồ vật bằng cách đưa hai bàn tay lại gần nhau. Ví
dụ như bưng một ly, một chén đưa lên miệng.
* Cầm nắm chặt
- Bấu vào (níu lấy): bằng cách móc các ngón tay và đặc biệt là hai đốt ngón
xa. Ví dụ như mang (xách) một thùng nặng, khi leo núi.

- Cầm lấy bằng cách móc hoặc bằng ngón tay – gan bàn tay:
giúp cầm nắm đồ vật có thể tích trung bình bằng cách giữ nó
một cách chủ động ở giữa các ngón tay gập mạnh với mặt gan
tay. Ví dụ như nâng một va li lên ở chỗ tay nắm.
- Cầm lấy mạnh dọc theo hình trụ hoặc nắm chặt trong lòng
bàn tay hoặc nắm tay: giống cách cầm nắm bằng ngón tay - gan
bàn tay nhưng các ngón tay nắm lại, kể cả ngón cái. Ví dụ như
cầm nắm đồ vật dạng khối, cán cuốc, búa, cốc, tay bám lên một thanh cố định.




- Kẹp một bên hoặc cầm nắm với ngón cái - ngón trỏ: giúp ấn
mạnh múp ngón cái lên vùng mặt quay đốt ngón I và II của
ngón trỏ hơi gập. Ví dụ như cầm một chìa khóa, cắt thịt.

- Đối chiếu múp ngón cái - ngón trỏ: giúp cho việc cầm lấy hoặc thao tác
những đồ vật có thể tích không đáng kể giữa các ngón cái và ngón trỏ. Các
khớp gian đốt ngón tay xa thì liên kết với nhau. Ví dụ như sờ lên miếng vải để
ước lượng được chất lượng của vải, hoặc lật những trang sách.


21
* Kẹp thẳng hoặc đối chiếu áp ngọn ngón cái - ngón trỏ
Cầm nắm tinh vi có cùng những đặc điểm như đối chiếu ngọn. Đồ vật
được cầm ở những vùng trước móng tay của ngón cái và ngón trỏ. Nó đòi hỏi
một độ gập đốt ngón ít hơn. Là cách kẹp mà ta sử dụng thường nhất vì nó
vững vàng nhất. Ví dụ như lấy một cái bút đặt trên bàn.
* Kẹp tròn hoặc đối chiếu đầu ngón cái - ngón trỏ
Giúp giữ vững hoặc nhặt những đồ vật mảnh, nhỏ bằng
đầu ngón cái và ngón trỏ gần với các móng tay. Để những
vùng này tiếp xúc được với nhau, cả hai ngón phải tạo thành
một vòng tròn. Ví dụ như lấy một kẹp giấy trên bàn, lấy hạt
trong quả ra, xỏ chỉ vào lỗ kim.
1.3.2.2. Chức năng cảm giác của bàn tay [41], [42],[12]
* Cảm giác nông
Bao gồm cảm giác đau, nóng lạnh và xúc giác thô sơ (sờ nhẹ). Cùng
với môi, lưỡi, thì các đầu ngón tay là vùng cơ thể tập chung nhiều nhất các tận
cùng thần kinh cảm giác. Kích thích gây cảm giác đau tại bàn tay sẽ giúp
thông báo cho não biết có các tác nhân gây hại cho cơ thể và vị trí chính xác
của tác nhân này, cần có các cơ chế sinh lý và tâm lý để loại trừ các kích thích

Là kỹ thuật chính được áp dụng trong giai đoạn cấp, thậm chí ngay từ
những ngày đầu tiên sau TBMMN, giúp phòng chống mẫu co cứng và các
thương tật thứ cấp thường gặp.
* Nằm ngửa: có gối đỡ dưới xương bả vai để đưa xương
bả vai và khớp vai ra phía trước. Dạng và xoay ngoài
khớp vai bên liệt, duỗi khuỷu, duỗi cổ tay, duỗi và dạng
ngón tay. Tay liệt có thể duỗi thẳng theo thân hoặc duỗi
thẳng lên qua đầu.

Hình 1.10. Tư thế nằm ngửa [46]

* Nằm nghiêng
- Nằm nghiêng về phía bên liệt: tay bên liệt: khớp vai,
xương bả vai được kéo ra trước, tạo với thân một góc
khoảng 900, khớp khuỷu duỗi thẳng, cẳng tay xoay
ngửa, cổ tay gấp về phía sau, các ngón duỗi, dạng.
Tay bên lành ở vị trí bệnh nhân thấy dễ chịu.
Hình 1.11. Tư thế nằm nghiêng bên liệt [46]


23
- Nằm nghiêng về phía bên lành: tay bên liệt có gối
đỡ ở mức ngang với thân, tay bên liệt ở tư thế duỗi,
tạo với thân một góc khoảng 1000. Tay bên lành ở vị
trí bệnh nhân thấy dễ chịu.
Hình 1.12. Tư thế nằm nghiêng bên lành [46]
1.4.2.2. Vận động trị liệu
Vận động trị liệu đóng vai trò quan trọng trong PHCN bàn tay. Vận động
trị liệu sẽ làm thay đổi não bộ bằng cách cải thiện hoặc thay đổi mối liên kết
giữa tế bào thần kinh và các tổ chức xung quanh [47].

bên liệt. Theo nguyên tắc như vậy có thể làm giảm co cứng hơn nữa bằng
cách duỗi khớp cổ tay, dạng và xoay ngửa ngón tay cái.
- Kỹ thuật Brunnstrom [49]
Sử dụng các mẫu vận động nguyên thủy thông qua các kích thích cảm
thụ bản thể và cảm thụ bên ngoài bằng cách khuyến khích vận động qua các
mẫu đồng vận gấp và duỗi chi trong giai đoạn đầu hồi phục.
- Kỹ thuật tạo thuận cảm thụ bản thể thần kinh cơ (PNF) [50]
Sử dụng việc kích thích và hướng dẫn bằng lời nói để tạo ra được mẫu
cử động mong muốn và tăng cường sự phát triển vận động.
* Kỹ thuật vận động - cảm giác: bao gồm kỹ thuật Perfetti, Rood [49].
- Kỹ thuật Perfetti
Sự phối hợp những thông tin cảm giác và thị giác tạo cho bệnh nhân có
ý thức từ bên trong về một vận động cần chỉnh sửa, do đó cho phép kiểm soát
co cứng một cách chủ động.
- Kỹ thuật Rood - kích thích cảm giác da phản hồi
Sử dụng những kích thích cảm giác như chà, xát, gõ, đập vào cơ,
chườm lạnh, ép lên các mặt khớp hoặc kéo giãn cơ với những tốc độ khác
nhau làm ức chế trương lực cơ.


25
1.4.2.3. Hoạt động trị liệu
Theo Hiệp hội hoạt động trị liệu Hoa Kỳ (1986) định nghĩa: “Hoạt động
trị liệu là điều trị thể chất và tinh thần qua các hoạt động có lựa chọn đặc biệt
để giúp người bệnh đạt được chức năng tối đa trong sinh hoạt hàng ngày”.
* Tập theo tầm vận động
- Tập thụ động: chỉ định khi có cơ lực bậc 0 - 1.
- Tập chủ động có trợ giúp: chỉ định khi có cơ lực bậc 2.
- Tập chủ động: chỉ định khi có cơ lực bậc 3 trở lên.
* Tập vận động vai tay liệt với sự trợ giúp của tay lành.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status