Nghiên cứu tình hình đẻ non tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2018 - Pdf 57

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo tổ chức Y tế thế giới, đẻ non là một cuộc chuyển dạ xảy từ tuần 22
đến trước tuần thứ 37 của thai kỳ tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng.
Tỷ lệ đẻ non ở Việt Nam hiện nay vào khoảng 6,5-16% [1], [2], [3]. Nguy cơ
đẻ non tăng cao ở những sản phụ có tiền sử sản khoa nặng nề, không được
chăm sóc đầy đủ khi mang thai, tuổi mẹ còn quá trẻ hoặc đã lớn tuổi, trình độ
học vấn thấp [4], [5], [6].
Ảnh hưởng của đẻ non đối với sơ sinh là rất lớn, trẻ đẻ non thường gặp
một số bệnh lý như các bệnh lý hô hấp hay gặp bệnh màng trong; xuất huyết
do sự thiếu hụt các yếu tố đông máu như yếu tố V, VII, Prothrombin; các bệnh
nhiễm khuẩn; rối loạn chuyển hoá. Đặc biệt nguy cơ tử vong của sơ sinh non
tháng là rất cao. Tỷ lệ tử vong sơ sinh non tháng chiếm 75,3-87,5% tử vong
sơ sinh [3], [7], [8]. Theo nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, tỷ lệ
tử vong sơ sinh có tuổi thai 26 - 27 tuần là 100%, tuổi thai 28 - 30 tuần có tỷ
lệ tử vong 56% và ở tuổi thai 31 - 34 tuần tỷ lệ tử vong là 15,5% [1], [3].
Theo nghiên cứu tại Mỹ, trong số bệnh tật và tử vong sơ sinh, có đến 75%
trường hợp có liên quan đến đẻ non [9], [10]. Điều kiện kinh tế của Việt Nam
còn nhiều khó khăn, trong khi đó, việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ non tháng
lại đòi hỏi rất nhiều công sức và tốn kém. Ngoài ra, ngay cả những trẻ có cơ
may sống sót khi lớn lên thường bị những di chứng về thần kinh rõ rệt, hoặc
tiềm tàng với chỉ số IQ thấp, thường là gánh nặng về tâm lý và tài chính cho
gia đình và xã hội. Do vậy hạn chế tỷ lệ đẻ non luôn là mục đích của y học
nhằm cho ra đời những trẻ có thể chất khoẻ mạnh [1].


2
Mặc dù đã có nhiều phương tiện kỹ thuật để dự báo nguy cơ cũng như
chẩn đoán dọa đẻ non, nhiều thuốc được nghiên cứu để ngăn chặn cơn co tử

1.1.1. Định nghĩa đẻ non
Định nghĩa đẻ non không thống nhất trên thế giới, có nhiều tác giả định
nghĩa khác nhau về đẻ non.
Hầu hết các tác giả định nghĩa đẻ non bằng cách đánh giá tuổi thai dựa
vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt cuối cùng, trọng lượng sơ sinh
và/hoặc dựa vào đặc điểm của sơ sinh sau khi đẻ.
- Theo Nguyễn Việt Hùng: đẻ non là hiện tượng gián đoạn thai nghén
khi tuổi thai có thể sống được [12].
- Theo tổ chức y tế thế giới:
+ Năm 1948: trẻ đẻ non là những trẻ có trọng lượng khi đẻ ra dưới
2500gram. Nhưng có thể gặp những sơ sinh có cân nặng dưới 2500gram,
nhưng là trẻ suy dinh dưỡng và đủ tháng [2].
+ Năm 1961: đẻ non là trẻ đẻ ra có trọng lượng dưới 2500gram và tuổi
thai dưới 37 tuần [2].
- Sau đó người ta coi trẻ đẻ trước 37 tuần chậm kinh là trẻ đẻ non.
- Theo Creasy R.K: đẻ non là cuộc đẻ diễn ra từ 20 đến dưới 37 tuần
chậm kinh [4].
- Sau đó có nhiều tác giả đưa ra tuổi thai từ 20-36 tuần, nhưng đa số các
tác giả trên thế giới hiện nay đều quan niệm đẻ non là cuộc đẻ diễn ra từ 20
đến 37 tuần [1], [13], [14].
- Việt Nam, hầu hết các tác giả đều đưa ra định nghĩa đẻ non là cuộc đẻ
diễn ra từ 28 đến 37 tuần. Hiện nay do điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ


4
non tháng đã được cải thiện, nhiều trẻ có tuổi thai dưới 28 tuần sống được nên
khái niệm về đẻ non cũng thay đổi [1], [14], [15].
- Theo Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản
- Bộ Y tế (2016): Đẻ non là khi trẻ sơ sinh được sinh ra còn sống từ khi đủ 22
tuần đến trước khi đủ 37 tuần thai kỳ [16].


Ko-Kivo và cộng sự (1996) [18]

28 tuần đến hết 36 tuần

9,8

Creasy và cộng sự (1993) [4]

20 tuần đến hết 36 tuần

9,6

Carey (2005) [19]

23 tuần đến hết 36 tuần

11,0

Trần Quang Hiệp (1998 - 2000)
Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh [7]
Nguyễn Văn Phong (2000 - 2002)
Bệnh viện Phụ sản Trung ương [14]
Mai Trọng Dũng (2003 - 2004)
Bệnh viện Phụ sản Trung ương [3]
Đỗ Thị Hồng Hạnh (2014)
Bệnh viện Bạch Mai [17]


5

myosin và làm xuất hiện cơn co tử cung [15], [22], [23].
Trong khi có thai, nồng độ PGE 2 và PGF2α tăng dần, khi đạt tới một
ngưỡng nào đó sẽ phát sinh chuyển dạ. Đẻ non xuất hiện khi nồng độ PG tăng
cao. Có nhiều nguyên nhân làm cho PG tăng cao như hậu quả của các phản
ứng viêm, do dùng thuốc. Người ta có thể gây sẩy thai hay gây chuyển dạ ở
bất cứ tuổi thai nào bằng cách sử dụng các PG. Mặt khác người ta cũng ức
chế chuyển dạ bằng cách sử dụng các thuốc ức chế tổng hợp các PG trong
điều trị dọa đẻ non [15], [22], [23].
1.2.4. Thuyết thần kinh
Tử cung là một cơ quan chịu sự chi phối của hệ thần kinh thực vật.
Người ta cũng cho rằng tử cung còn có một hệ thần kinh tự động, cơ tử cung
giống cơ tim và nó có thể tự hoạt động để điều khiển cơn co của nó.
Chuyển dạ đẻ non có thể phát sinh từ các phản xạ thần kinh sau những
kích thích trực tiếp hoặc gián tiếp, đặc biệt là các stress về tâm lý [7], [14].
1.2.5. Thuyết nhiễm khuẩn
Nhiễm khuẩn sinh ra phospholipase A2 catalase, chất này giải phóng
a.arachidonique (trong lysosom, màng tế bào). Tổng hợp PG gây chuyển dạ.
Phospholipase tìm thấy trong các vi khuẩn, các phospholipase A 2 của
các vi sinh vật này cao hơn nhiều so với trong màng ối và rau thai. Chính chất
này được đưa đến trong quá trình viêm ống cổ tử cung và buồng tử cung. Các
phản ứng viêm tại chỗ sẽ sinh ra các enzyme như protease, mucinase,
collagenase. Các enzym này tác động lên các mô liên kết làm suy yếu chúng,
từ đó gây rỉ ối, vỡ ối, xóa mở cổ tử cung và gây chuyển dạ [14], [15], [24].
1.2.6. Vai trò của oxytocin
Oxytocin là một hormon của vùng dưới đồi, được các sợi thần kinh dẫn
xuống tích lũy ở thùy sau tuyến yên và có tác dụng co cơ tử cung. Người ta đã
xác định được sự tăng tiết oxytocin ở thùy sau tuyến yên của người mẹ trong


7

8
Theo Goldenberg và cộng sự nghiên cứu trên 1870 thai phụ được thử test
fibronectin hai tuần một lần từ tuần thứ 24 đến tuần thứ 30, nếu tất cả các lần
thử test đều âm tính thì tỷ lệ ĐN trước 35 tuần là 1.5%, nếu có một lần thử
test dương tính thì tỷ lệ này là 8.3%, còn nếu có hơn một lần test dương tính
thì tỷ lệ này tăng lên là 16.3% [5].
1.3.1.3. Đánh giá cổ tử cung
Sự thay đổi cổ tử cung là một trong các nguy cơ của đẻ non. Sự thay đổi
này có thể diễn ra một cách nhanh chóng khi cuộc chuyển dạ đang xảy ra. Tuy
nhiên, trong nhiều trường hợp có sự co ngắn một cách âm thầm của cổ tử
cung mà thai phụ không biết được. Sự co ngắn này khi đạt tới một ngưỡng
nào đó sẽ xảy ra chuyển dạ.
- Đánh giá cổ tử cung bằng thăm khám lâm sàng đòi hỏi người thầy
thuốc phải có kinh nghiệm, mặc dù có thể đánh giá được các tổn thương phối
hợp. Theo Bergella, chiều dài cổ tử cung ở người đẻ đủ tháng là 16.8mm, ở
người ĐN là 16.1mm [27].
- Đánh giá cổ tử cung bằng siêu âm:
Theo Nguyễn Mạnh Trí trên siêu âm đường bụng khi độ dài cổ tử cung dưới
35 mm ở tuần lễ thứ 28 đến 30 thì sẽ có khoảng 20% số thai phụ sẽ ĐN [28].
1.3.1.4. Các dấu hiệu khác
hCG ở cổ tử cung: Theo Gurbuz và cộng sự, khi hCG trong dịch tiết cổ
tử cung cao hơn 32 mIU/ ml thì chẩn đoán cuộc chuyển dạ sẽ diễn ra trong
vòng 100 giờ, chẩn đoán này có độ nhạy 98%, độ đặc hiệu 55%, giá trị của
phản ứng dương tính là 70%, giá trị của phản ứng âm tính là 96%, nguy cơ
ĐN ở những thai phụ này cao gấp 19.68 lần so với những thai phụ có kết quả
hCG dưới 32 mIU/ ml [29].
1.3.2. Chẩn đoán dọa đẻ non


9

10
Chuyển dạ đẻ non là những trường hợp chuyển dạ của thai non tháng.
Theo một số tác giả, chẩn đoán chuyển dạ đẻ non đều dựa vào các tiêu chuẩn
sau đây [3], [14], [15].
- Triệu chứng cơ năng: đau bụng là dấu hiệu chính, có thể kèm theo các
dấu hiệu sau:
+ Ra máu âm đạo
+ Ra dịch âm đạo
+ Ra nhầy hồng âm đạo
- Triệu chứng thực thể:
+ Có ≥ 3 cơn co tử cung trong 10 phút trên lâm sàng hoặc monitor
+ Cổ tử cung mở ≥ 2cm hoặc xoá 80%
+ Có sự thay đổi ở cổ tử cung khi khám nhiều lần bởi một người khám
+ Có sự thành lập đầu ối hoặc ối vỡ
1.3.4. Chẩn đoán tuổi thai
- Dựa vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt cuối cùng: đánh giá
tuổi thai dựa vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt cuối cùng chỉ áp dụng
được đối với những sản phụ có kinh nguyệt đều và nhớ rõ ràng, chắc chắn.
- Dựa vào siêu âm ước lượng tuổi thai: đo kích thước túi ối, đo chiều
dài đầu mông, đo chiều dài xương đùi, đo đường kính lưỡng đỉnh. Đối với
những giai đoạn đầu tiên của thời kỳ thai nghén thì kích thước túi ối có liên
quan mật thiết với tuổi thai. Với thai từ 6 đến 14 tuần thì đo kích thước đầu
mông có giá trị chẩn đoán tuổi thai cao, độ sai lệch từ 4 đến 7 ngày.
- Đánh giá sơ sinh non tháng: dựa vào các đặc điểm hình thái học, sự
trưởng thành của các cơ quan, tổ chức trong cơ thể, người ta có thể đánh giá
được sơ sinh non tháng. Có nhiều bảng đánh giá tuổi thai như bảng của
Finstrom, bảng Dubowitz. Bệnh viện Nhi trung ương đã lập bảng đánh giá
tuổi thai như sau [1], [15]:
Điểm


3
1
2
3
1
2
3
4
1
2
3
4
1
2
3
4

Nằm duỗi thẳng
Nằm hai chi dưới co
Hai tay co, hai chân co
Đầu gập xuống thân, 4 chi duỗi chéo
Đầu cúi xuống, 4 chi hơi cong
Đầu ngẩng gần 3 giây, hai tay gấp, 2 chân nửa cong
nửa duỗi
Là một chấm không nổi trên mặt da
Nhìn thấy rõ, sờ thấy nhưng không trội lên mặt da
Nhìn thấy rõ nhô cao 2mm trên mặt da
Chưa mọc đến đầu ngón tay
Mọc tới đầu ngón tay
Mọc chùm quá đầu ngón tay

1.4.1. Một số bệnh lý thường gặp của sơ sinh non tháng

Tuổi thai (tuần)
33-34
35-37
38-39
40-42


12
* Bệnh lý hô hấp:
Là những bệnh lý hay gặp đối với sơ sinh non tháng, gây suy hô hấp ở
trẻ sơ sinh. Các bệnh lý hay gặp gồm có [25], [29], [32]:
- Bệnh màng trong: nguyên nhân do thiếu hụt surfactan nên nhu phổi
không giãn nở được, các phế nang tăng tính thấm, tổ chức kẽ dễ phù, các
fibrin huyết tương dễ thoát mạch tràn vào trong lòng phế nang. Sau khi huyết
tương rút, hồng cầu và fibrin đọng lại trong lòng phế nang tạo ra màng trong.
+ Ở tuổi thai càng nhỏ, trọng lượng thai càng thấp tỷ lệ mắc bệnh càng
cao. Bệnh thường xuất hiện vài giờ đến vài ngày sau đẻ. Trước đây bệnh gây
tử vong 100%. Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của khoa học như surfactan nhân tạo,
máy thở, nên đã có thể cứu sống được 70-80% trẻ bị bệnh. Để phòng bệnh
màng trong, người ta khuyến cáo dùng corticoide trước sinh nhằm tăng khả
năng tổng hợp surfactan.
- Tổ chức phổi quá non với đặc điểm là thành phế nang hẹp, mao mạch
ít, tổ chức liên kết nhiều cũng là một nguyên nhân chính gây suy hô hấp sơ
sinh. Đặc điểm của cơ quan hô hấp chưa trưởng thành làm cho phổi khó giãn
nở, sự trao đổi khí bị hạn chế.
* Xuất huyết:
- Sự thiếu hụt của các yếu tố đông máu như yếu tố V, VII prothrombin,
làm cho sơ sinh non tháng dễ bị xuất huyết đặc biệt là xuất huyết não và phổi.

những nguyên nhân của đẻ non có rất nhiều, và xảy ra ở rất nhiều tình huống.
Tuy vậy, nguyên nhân cơ bản cho đến nay vẫn chưa được biết rõ. Theo Meis
và cộng sự có 28% ca sinh non là có nguyên nhân rõ ràng, trong đó khoảng
một nửa là do tiền sản giật, 1/4 là do những nguy hiểm đối với thai, 1/4 là do
những nguy cơ làm hạn chế sự phát triển của thai như sự bong rau... Còn 72%
ca đẻ non là do sự khởi phát chuyển dạ đẻ non, có thể có hoặc không có ối vỡ
non [13].
Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây đẻ non thường được đề cập
đến bao gồm:
1.5.1. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ về phía mẹ


14
- Tuổi của mẹ: không phải là nguyên nhân gây đẻ non. Tuy nhiên, nhiều
nghiên cứu người ta thấy đối với những bà mẹ quá trẻ hoặc lớn tuổi thì nguy
cơ đẻ non tăng lên. Theo Nguyễn Văn Phong, nguy cơ đẻ non ở bà mẹ dưới
20 tuổi tăng gấp 2,62 lần. Theo Meis và cộng sự, những bà mẹ có độ tuổi dưới
18 có nguy cơ đẻ non gấp 1,98 lần và những bà mẹ trên 35 tuổi có nguy cơ đẻ
non gấp 1,44 lần [13], [14].
- Tình trạng kinh tế- xã hội: những phụ nữ có điều kiện kinh tế thấp, lao
động nặng có nguy cơ đẻ non cao hơn so với những phụ nữ có điều kiện kinh
tế khá giả, lao động nhẹ. Những người lao động chân tay có nguy cơ đẻ non
cao gấp 2,3 lần so với những người lao động văn phòng. Những người làm
việc chân tay và có cường độ làm việc trên 40 giờ mỗi tuần có nguy cơ đẻ non
cao gấp 3,6 lần so với những người có số giờ lao động ít hơn [3], [15], [30].
Tình trạng thất nghiệp, nghề nghiệp không ổn định, phụ nữ không có
chồng, không có sự quan tâm của gia đình thì nguy cơ đẻ non cũng tăng lên.
- Thói quen hút thuốc và lạm dụng thuốc: chất Nicotin có trong khói
thuốc lá kích thích các hạch giao cảm, trung tâm vận mạch và các cơ trơn làm
cho các cơ trơn như ở ruột tăng nhu động, cơ tử cung dễ bị kích thích gây co.

vào vòi tử cung hay vào buồng tử cung: người ta chưa giải thích được tại sao
những trường hợp này khi chuyển phôi vào vòi tử cung lại có tỷ lệ đẻ non cao
hơn. Theo Creasy, tỷ lệ đẻ non thai IVF là 27,8% trong đó IVF đa thai có tỷ lệ đẻ
non là 61,1%. Thai sau chuyển giao tử vào vòi tử cung có tỷ lệ đẻ non là 37,5%,
trong đó đa thai có tỷ lệ đẻ non là 64,7%. Tỷ lệ này cao hơn so với thai nghén
bình thường, hay thai do các biện pháp hỗ trợ sinh sản khác [4], [14], [15].
- Một số thai dị tật, dị dạng kèm theo đa ối cũng gây đẻ non. Theo
Nguyễn Văn Phong nguy cơ thai dị tật trong nhóm đẻ non cao gấp 6,2 lần so
với nhóm không đẻ non [14].


16
1.5.3. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ do phần phụ của thai
- Rau tiền đạo: có thể gây chảy máu trong ba tháng cuối của thai kỳ, khi
chảy máu nhiều phải chấm dứt thai kỳ sớm để cứu mẹ [7], [37].
- Ối vỡ non, rỉ ối: là nguyên nhân hay đề cập đến gần đây. Ối vỡ non, rỉ
ối gây thay đổi thể tích tử cung làm cho tử cung dễ bị kích thích. Ngoài ra
những trường hợp vỡ ối non, rỉ ối còn có nguy cơ viêm nhiễm tại chỗ, làm
tăng tiết PG và phát sinh chuyển dạ đẻ non [19], [32], [38]. Theo Mai Trọng
Dũng trong các nguyên nhân gây đẻ non có 13,4% trường hợp là rỉ ối [3].
- Đa ối: đa ối làm cho tử cung căng giãn quá mức dễ phát sinh chuyển
dạ đẻ non, đặc biệt là đa ối cấp [39]. Theo Nguyễn Văn Phong thì nguy cơ đẻ
non trong đa ối cao gấp 19 lần so với ối bình thường [14].
1.5.4. Do thầy thuốc
Do thầy thuốc buộc phải đình chỉ thai nghén, hay do can thiệp gây đẻ non
(chọc ối, sau thủ thuật, phẫu thuật), do dùng thuốc điều trị các bệnh khác…
1.5.5. Không rõ nguyên nhân
Có rất nhiều các trường hợp đẻ non không rõ nguyên nhân, dù đã có rất
nhiều nghiên cứu tìm hiểu về nguyên nhân đẻ non. Đây chính là lý do làm cho
việc phòng chống đẻ non hiện nay vẫn là một vấn đề hết sức khó khăn.

tiền sản giật, sản giật các bệnh nhiễm khuẩn toàn thân, tim có tỷ lệ ĐN cao
hơn so với nhóm mẹ không bị bệnh (OR = 4,5 và 1,12 và 1,28) [14].
Tác giả Nguyễn Tiến Lâm khi nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Trung
Ương năm 2009: nông dân, ở nông thôn nguy cơ đẻ non cao hơn cán bộ công
chức, ở thành phố 2,24 lần. Mẹ có tiền sử sẩy thai, đẻ non có nguy cơ đẻ non
cao gấp 2,82 lần. Mẹ không được khám và quản lý thai nghén có nguy cơ đẻ
non cao gấp 6,96 lần. Bệnh toàn thân, cao huyết áp, tiền sản giật, rau tiền
đạo…làm tăng nguy cơ đẻ non [42].


18
Tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh khi tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ trên sản
phụ đẻ non tháng tại khoa Phụ sản Bệnh viện Bạch Mai năm 2014 cho thấy:
tuổi mẹ từ 35 tuổi trở lên có nguy cơ đẻ non cao hơn 3,27 lần so với mẹ có
tuổi nhỏ hơn 35; mẹ sống ở tỉnh thành khác có nguy cơ đẻ non cao gấp 2,27
lần so với mẹ sống ở khu vực nội thành Hà Nội; mẹ làm công nhân, nông dân
nguy cơ đẻ non cao gấp 3,85 lần so với nhóm mẹ làm công chức, viên chức;
mẹ có tiền sử đẻ non làm tăng nguy cơ đẻ non gấp 9,83 lần so với mẹ không
có tiền sử đẻ non; mẹ không khám thai định kỳ có nguy cơ đẻ non cao hơn
nhóm khám thai định kỳ 2,07 lần; sản phụ đẻ từ 3 con trở lên có nguy cơ đẻ
non cao gấp 8,63 lần so với nhóm đẻ con so [17].
1.6.2. Một số nghiên cứu trên thế giới
Gustaaf A.D. nghiên cứu về nguy cơ gây ĐN. Nghiên cứu này cho rằng
hút thuốc gây tăng nguy cơ đẻ non với tỷ lệ mẹ hút thuốc trong nhóm đẻ non
cao nhất 22,9% so với 10,6% ở trẻ không đẻ non, p < 0,05, tiền sử mẹ đẻ trẻ
sơ sinh cân nặng sơ sinh thấp là yếu tố nguy cơ lớn nhất, tăng gấp 5 lần, mẹ
mắc đái tháo đường nguy cơ đẻ non tăng gấp đôi, mẹ bị tăng huyết áp, tiền
sản giật tăng nguy cơ đẻ non 9,65 (95% CI 2,5 - 37,1). Kết quả nghiên cứu chỉ
ra rằng mẹ có tiền sử sẩy thai một lần làm giảm nguy cơ đẻ non tuy nhiên
chưa giải thích được [43].

Những thai phụ đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội với các điều kiện:
- Tuổi thai từ 22 tuần đến hết 37 tuần.
- Một thai, thai sống, thai không nghi ngờ bệnh lý.
- Nhớ chính xác ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối, hoặc có siêu âm trong
3 tháng đầu xác định tuổi thai.
- Tình nguyện tham gia nghiên cứu.
1 - Khi bắt đầu chọn vào nghiên cứu ngoài các tiêu chuẩn được chọn trong
nghiên cứu, còn phải đảm bảo có các triệu chứng chuyển dạ đẻ non: đau, cơn
co tử cung tần số 3, có biến đổi cổ tử cung, có thành lập đầu ối hay ối đã vỡ.
- Sau khi đẻ trẻ sơ sinh phải có các điểm của sơ sinh non tháng.
2.2.2. Nhóm thai phụ không đẻ non
Những thai phụ đẻ đủ tháng tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội với các điều kiện:
+ Tuổi thai từ 38 tuần trở lên.
+ Một thai, thai sống.
+ Nhớ chính xác ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối, hoặc có siêu âm trong
3 tháng đầu xác định tuổi thai.
+ Tình nguyện tham gia nghiên cứu.


21
2.2.3. Tiêu chuẩn loại trừ cho cả 2 nhóm
1

+ Bị chấn thương.

+ Bệnh nhân chủ động đình chỉ thai nghén do thai chết lưu, thai dị dạng.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.3.2. Cách chọn mẫu và cỡ mẫu

chúng tôi lấy ngẫu nhiên hai sản phụ đẻ đủ tháng có đủ tiêu chuẩn chọn mẫu
ngay sau sản phụ đẻ non.
2.4. Các chỉ số/biến số nghiên cứu
2.4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
- Tuổi của sản phụ: được chia thành các nhóm: < 20; 20 đến 24; 25 đến
29; 30 đến 34 và ≥ 35
- Nghề nghiệp: chia thành 4 nhóm: cán bộ, viên chức; công nhân; làm
ruộng; nghề khác: buôn bán, nội trợ, …
- Nơi cư trú: chia thành 3 vùng: thành thị; miền núi; đồng bằng.
- Trình độ văn hóa: chia thành 4 nhóm: đại học trở lên; cao đẳng/trun
cấp; cấp I, II, III và không đi học.
2.4.2. Tỷ lệ đẻ non và đặc điểm của sơ sinh non tháng
- Một số đặc điểm lâm sàng khi vào viện:
+ Dấu hiệu cơ năng: đau bụng; ra máu ÂĐ; ra dịch ÂĐ
+ Cơn co tử cung: tính tần số cơn co: số cơn co tử cung trong 10 phút.
+ Biến đổi cổ tử cung: tính độ xóa mở cổ tử cung.
- Tỷ lệ đẻ non trên tổng số sản phụ đến đẻ tại bệnh viện trong thời gian
nghiên cứu.
- Một số đặc điểm của sơ sinh non tháng:
+ Tuổi thai: được tính theo tuần dựa vào ngày đầu của kỳ kinh cuối/
hoặc siêu âm sớm chẩn đoán tuổi thai. Tuổi thai được chia thành
3 nhóm: 22 - 27 tuần; 28 - 34 tuần; 35 - 37 tuần


23
+ Cân nặng của sơ sinh sau đẻ non: tính theo gram.
+ Apgar sơ sinh sau 1 phút: ≥ 7 điểm; < 7 điểm.
+ Tỷ lệ tử vong liên quan đến tuổi thai, trọng lượng thai.
2.4.3. Tìm hiểu yếu tố liên quan đến đẻ non
- Nhóm các yếu tố đặc điểm chung của sản phụ:

+ Tư vấn về dọa đẻ non và đẻ non
+ Nguồn thông tin về đẻ non và cách chăm sóc.
+ Các bất thường khi mang thai: các nhiễm khuẩn toàn thân, nhiễm
khuẩn tại chỗ, bệnh ngoại khoa, nội khoa, các sang chấn thể chấttinh thần.
2.5. Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1. Phỏng vấn
Sản phụ được mời tham gia và giải thích về mục đích nghiên cứu. Sản
phụ đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được phỏng vấn kết hợp với tham khảo hồ
sơ, bệnh án để thu thập các thông tin theo mẫu phiếu (phụ lục 1) về:
+ Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu: tuổi, tuổi thai, nghề nghiệp, nơi
cư trú, trình độ văn hóa);
+ Tiền sử bệnh tật nội- ngoại khoa của sản phụ và gia đình;
+ Tiền sử sản, phụ khoa;
+ Quá trình khám thai và quản lý thai nghén.
+ Các dấu hiệu cơ năng của đẻ non.
2.5.2. Khám sản phụ, khám sơ sinh
Thực hiện theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất (phụ lục 1).
- Sản phụ được khám sản khoa, phụ khoa về lâm sàng;
- Sơ sinh khám và đánh giá sau đẻ: Apgar, giới tính, cân nặng.


25
2.6. Sai số và cách khống chế sai số
- Sai số chọn được khống chế bằng các tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng
đã được định nghĩa ở trên.
- Sai số khám và phỏng vấn được khống chế bằng các cách:
+ Phiếu nghiên cứu được thiết kế và thử nghiệm trước khi nghiên cứu.
+ Nghiên cứu viên giải thích rõ mục đích các câu hỏi.
+ Thăm khám đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật.
2.7. Xử lý số liệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status