1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu về tái sinh rừng là nghiên cứu rất quan trọng làm cơ sở cho
các biện pháp kĩ thuật lâm sinh xây dựng và phát triển rừng. Trên quan điểm
sinh thái, đặc điểm cấu trúc thể hiện rõ nét những mối quan hệ qua lại giữa
các thành phần của hệ sinh thái rừng và giữa chúng với môi trường. Tái sinh
rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái, nó đảm bảo
cho nguồn tài nguyên có khảng năng tái sản xuất mở rộng nếu con người nắm
bắt được quy luật tái sinh và điều khiển nó phục vụ kinh doanh rừng. Vì vậy,
tái sinh rừng trở thành vấn đề then chốt trong việc xác định các phương thức
kinh doanh rừng.
Việt Nam là một quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,
diện rừng chủ yếu là rừng nhiệt đới, thuật lợi cho các loài động thực vật phát
triển nên được quốc tế đánh giá là quốc gia có tính đa dạng sinh học khá cao.
Tuy nhiên trong thời kì từ năm 1943 đến năm 1993 có khoảng 5 triệu ha rừng
tuy nhiên bị mất, nghĩa là tốc độ phá rừng hàng năm ở Việt Nam vào khoảng
100.000 ha, từ đó làm tính đá dạng sinh học bị kiệt quệ nặng nề, nhiều loài
thực vật, động vật đã không còn tìm thấy ở bất kỳ đâu trong khu rừng của Việt
Nam, nhiều loài bị đưa vào sách đỏ Việt Nam cũng như thế giới.
Nhận thức được điều này trong những năm trở lại đây, chúng ta đã đầu
tư nhiều vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, công tác bảo tồn đa dạng sinh
học ngày càng được chú trọng, nhiều khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập
và đầu tư xây dựng nhằm giữ lại những diện tích rừng tự nhiên còn tồn tại từ
đó giữ gìn và bảo tồn loài quý hiếm.
Sến mật Madhuca pasqueri (Dubard) H.J.Lam), là loài thuộc họ Sến
(Sapotaceae) có mặt trên nhiều vùng sinh thái của nước ta, là loài có giá trị
bảo tồn lớn cũng như giá trị cao về kinh tế. Bên cạnh đó, một số thành phần
2
Các chuyên gia sinh thái học đã khẳng định rừng là hệ sinh thái hoàn
chỉnh nhất. Thực vật rừng có biến động cả về chất và lượng khi yếu tố ngoại
cảnh thay đổi. Rừng cây và con người có quan hệ mật thiết với nhau, nghiên
cứu tái sinh rừng tự nhiên đã trải qua hàng trăm năm, nhưng ở rừng nhiệt đới,
vấn đề này được đề cập từ năm 1930 trở lại đây.
Ở rừng nhiệt đới số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích quá lớn,
nên kinh doanh tất cả các loài cây đó rất có thể mang lại hiệu quả không
mong muốn. Trong thực tiễn lâm sinh, người ta chỉ khảo sát những loài cây có
giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị trường.
Có hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên, đó là nhóm nhân
tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh rừng không có sự can thiệp con người và
nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh rừng có sự can thiệp của con người.
4
1.1.1 Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh rừng không có
sự can thiệp của con người.
Một trong những nhân tố sinh thái được nhiều tác giả quan tâm và tìm
hiểu là ánh sáng ảnh hưởng đến cây con dưới tán rừng. Nếu ở trong rừng, cây
con chết vì thiếu nước thì cũng không nên loại trừ do thiếu ánh sáng. Trong
rừng mưa nhiệt đới, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng chủ yếu đến sự phát
triển cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển mầm non thường không
rõ (Bảu G, N 1962). Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng, các tác giả
nhận định tầng cây cỏ và cây bụi đã ảnh hưởng tới cây tái sinh các loài cây
gỗ. Ở quần thụ kín tán, tuy thảm cỏ phát triển kém nhưng cạnh tranh dinh
dưỡng và ánh sáng của chúng vẫn ảnh hưởng đến cây tái sinh. Những lâm
phần đã qua khai thác, thảm cỏ có trong điều kiện phát sinh mạnh mẽ sẽ là trở
ngại lớn cho tái sinh rừng.
Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần
với phương thức chặt dần nhiệt đới ở Trinidat, Wayatt Smith (1961,1963) với
phương thức chặt rừng đều tuổi ở Malaysia, Donis và Maudouz (1951,1954)
với phương thức đồng nhất hóa tầng trên ở Zava.
Nghiên cứu về phân bố cây tái sinh tự nhiên cũng đã có rất nhiều công
trình đề cập đến, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards, P.W
(1965) tác giả cuốn rừng mưa nhiệt đới. Bernard Roller (1974) tổng kết các
công trình nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét trong ô
tiêu chuẩn kích thước nhỏ (1x1m, 1x1,5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân
bố cụm, một số ít có phân bố poisson. Ở Châu Phi, trên cơ sở các số liệu thu
thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh tự nhiên
nhiệt đới Châu Á như: Bava (1954), Budowski (1956), Kationt (1965) lại
nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có
6
giá trị kinh tế, do vậy biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát
triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng.
Về phương pháp điều tra tái sinh, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy
mẫu ô vuông theo hệ thống Lowdermilk (1972) đề nghị, với diện tích ô dạng
bản thông thường từ 1 – 4 m 2. Bên cạnh đó, cũng có nhiều tác giả đề nghị sử
dụng phương pháp điều tra theo dải hẹp với các ô đo đếm có diện tích biến
động từ 10 – 100 m2. Phương pháp này trong điều tra tái sinh sẽ khó xác định
được quy luật phân bố hình thái của lớp cây tái sinh trên bề mặt rừng. Để
giảm sai số trong hệ thống Barnrd (1950) đã đề nghị một phương pháp “điều
tra chuẩn đoán”, theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giai
đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau. Phương pháp
này được áp dụng nhiều hơn vì nó thích hợp cho từng đối tượng rừng cụ thể.
Về điều tra và đánh giá tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đới, M.
Loeschau (1977) đã đưa ra một số đề nghị như: để đánh giá một khu bằng
rừng, nhiệt đới, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái
sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế theo phương pháp
tái sinh không có quy luật “nhân quả giữa sinh vật và hoàn cảnh”. Vì lẽ trên
P.W Risa đã nói: “Lý luận tuần hoàn tái sinh đã ứng dụng rộng rãi được đến
mức độ nào, vấn đề này hiện này phải tạm gác lại chưa giải quyết được”.
Trong phương pháp đánh giá tổ thành rừng nhiệt đới, Nguyễn Hữu
Hiến (1970) cho rằng nhiều loài cây tham gia vào một loại hình, trên diện tích
một ha có khi tới hàng trăm loài, cùng một lúc không thể kể hết được. vì vậy
người ta chỉ kể đến các loài nào có số lượng cá thể nhiều nhất trong các tầng
quan trọng (tính theo loài cây ưu thế hoặc nhóm loài ưu thế), tác giả đã đưa
công thức tính tổ thành X ≥N/a với X là trị số bình quân cụ thể của một loài,
N là số cây điều tra và a là số loài điều tra. Một loài được gọi là thành phần
8
chính của một loại hình phải có số lượng cá thể hoặc lớn hơn X . Đây là một
cách đánh giá thuận tiện trong khi phân tích nghiên cứu phân bố các loài diễn
thế và sự phân bố các quần lạc thực vật.
Tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam có đặc điểm tái sinh của
rừng nhiệt đới. Trong rừng nguyên sinh tổ thành cây tái sinh tương tự như
tâng cây gỗ, ở rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây gỗ mềm giá trị kém. Hiện tượng
tái sinh theo đám tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất
rừng. Vũ Đình Huề (1975). Từ những kết quả trên, tác giả xây dựng tiêu
chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng miền
Bắc nước ta.
Nghiên cứu về bảo đảm tái sinh trong khai thác rừng, tác giả Phùng
Ngọc Lan (1984) cho biết do cây mẹ có tính chịu bóng, cho nên một số lượng
lớn cây tái sinh phân bố chủ yếu ở cấp chiều cao thấp, trừ một số loài cây ưa
sáng cựa đoan, tổ thành loài tái sinh dưới tán rừng ít nhiều đều lặp lại giống tổ
dụng phương pháp chặt hết cây gỗ D1.3≥8 cm ở hai ô tiêu chuẩn (một ô là lâm
phần sau phục hồi trên đất rừng tự nhiên. Sau khai thác kiệt và một ô thuộc
trạng thái rừng IIIA3.
Nguyễn Duy Chuyên (1995) đã nghiên cứu quy luật phân bố cây tái
sinh tự nhiên lá rộng thường xanh hỗn loài vùng Quỳ Châu - Nghệ An: Kết
quả nghiên cứu về phân bố cây tái sinh theo chiều cao, nguồn gốc và chất
lượng, tác giả cho biết tổng số 13.657 ô đo đếm có 8.444 ô có ít nhất một cây
tái sinh. Thống kê tập hợp số lượng cây này theo chiều cao, nguồn gốc và chất
lượng tác giả cho thấy 35% cây tái sinh có chiều cao từ 2 m trở lên, 80% cây
tái sinh có nguồn gốc hạt, 20% cây chồi, 47% cây tái sinh chất lượng tốt, 37%
cây tái sinh có chất wlowngj trung bình và 16% cây chất lượng xấu. Phân bố
tổ thành cây tái sinh tác giả cho thấy cây tái sinh tự nhiên trong khu vực gồm
46 loài thuộc 22 họ. Trong đó có 24 loài cây có giá trị kinh tế và 22 loài cây
có giá trị kinh tế thấp, Ràng ràng và Máu chó có 2 loài có tần xuất hiện thực
10
tế lớn nhất trên 20%. Về phân bố số lượng cây tái sinh tác giả cho thấy ở rừng
giàu, có chất lượng (rừng loại IV và IIIB) có số cây tái sinh lớn nhất (3.200 –
4.000 cây/ha). Ở rừng nghèo số cây tái sinh chỉ có 1.500 cây/ha (rừng IIIA 1),
trong rừng thuần tre nứa số cây lá rộng tái sinh tự nhiên thấp nhất 527 cây/ha.
Trong toàn lâm phần phân bố lý thuyết của cây tái sinh tự nhiên ở rừng trung
bình (IIIA2) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Possion, các loại rừng khác
cây tái sinh có phân bố cụm.
Đề cập đến cơ sở sinh thái rừng trong tái sinh rừng, muốn phát huy tái
sinh tự nhiên và nhân tạo thì phải hiểu biết hoàn cảnh sinh thái của các loài
cây mục đích mà chúng ta cần tái sinh. Khi khai thác cây đủ kích thước cho
phép đã gây nên một sự thay đổi đột ngột nguy hại nảy mầm thì bị nắng đốt;
đất khô mà chết rụi hết, ngược lại chỗ có ít cây lớn thì lại quá rậm rạp, cây
trở thành gỗ lớn, rừng IIIA1 nghèo tái sinh nhất là ở Nghệ An, Hà tĩnh, Quảng
Bình cũng đạt được đến 4.000 – 5.000 cây/ha với số cây triển vọng từ 1.000 –
1.200 cây/ha, về chất lượng tỷ lệ cây gỗ tái sinh xuất hiện với tần số cao. Trần
Xuân Thiệp (1996) [27].
Lâm Công Định (1987) [10] trong nghiên cứu về tái sinh, ông cho rằng
tái sinh là chìa khóa để quyết định nội dung điều chế rừng. tác giả kết luận
hiệu quả của việc điều chế đối với một khu rừng cụ thể là phải hướng đạt
được 3 yêu cầu mấu chốt sau đây: (1) Giữ vững được vốn rừng và bề mặt: Địa
bàn, diện tích, thành phần loại cây mục đích, năng suất sinh học, ssanr lượng,
phẩm chất vật liệu và giá trị môi sinh. (2) Đảm bảo được sản lượng khai thác
hàng năm theo chu kỳ ổn định. (3) Nâng thêm đượcgiá trị vốn rừng chủ yếu
về 3 mặt: Thành phần loài cây mục đích, năng suất sinh học và sản lượng thu
hoạch. Ông nhấn mạnh tất cả 3 yêu cầu trên hoàn toàn phụ thuộc vào khả
năng phương pháp và điều kiện đảm bảo tái sinh. Nghĩa là cuối cùng tùy
thuộc vào đặc tính sinh học của từng loài cây, quy luật lâm học của rừng, hiệu
lực tác động của các biện pháp kinh tế và ảnh hưởng tốt xấu của từng cách
12
thức khai thác cùng với từng loại dụng vụ máy móc thi công, không có đầy đủ
hiểu biết trên để làm cơ sở lựa chọn con đường tái sinh khai thác tối ưu chắc
chắn không thể đảm bảo được tái sinh.
Nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên sau khai thác chọn làm cơ
sở đề xuất một số biện pháp kinh tế xúc tiến tái sinh tự nhiên cho kinh doanh
gỗ lớn ở Lâm trường Trạm Lập huyện K’ Bang – Gia Lai. Ngô Văn Trai
(1999) [30] đã có một số kết luận: Cấu trúc cấu thành loài cây gỗ lớn ở rừng
IIIB và IVB trước và sau khai thác không có sự thay đổi lớn. Tổ thành cây mẹ
sau khai thác ở trạng thái IIB và IVB ở các rừng độ khai thác khác nhau biến
động từ 6.500 – 16.480 cây/ha. Đặc biệt có một số loài cây tái sinh lớn có tái
Lecomte và Humbert (1907-1937) các tác giả cho biết ở Việt Nam cây Sến
mật mọc rải rác ở Thanh Hóa và Ba Vì. Tuy nhiên, trong thực tế Sến mật mọc
rải rác trong rừng tự nhiên trên nhiều vùng sinh thái của nước ta.
Theo Vụ khoa học công nghệ - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
(1994), Sến mật phân bố ở hầu như khắp các tỉnh Thừa Thiên Huế trở ra Nghệ
An, Yên Bái, Hà Tây (cũ), Quảng Ninh... ở các độ cao đến 1.300 m so với
mực nước biển. Sến mật thường mọc hỗn giao với các loài cây khác, trên các
loài đất sét pha, đất đá vôi, đất cát, sa thạch.
Trong danh mục các khu rừng đặc dụng Việt Nam của Nguyễn Hoàng
Nghĩa (1997) [23] có khu bải tồn Tam Quy - Hà Trung - Thanh Hóa là khu
bảo tồn nguồn gen đặc biệt danh tiếng cho loài cây này. Đặc biệt đáng ngạc
nhiên của khu bảo tồn này là Sến mật lại mọc tập trung gần như thuần lòai ở
đây. Do đặc điểm của hạt Sến chứa tinh dầu nên đến mùa quả chín cần thu
hoạch ngay. Sau khi thu hoạch quả (hạt) cần được bảo quản trong cát ẩm để
được duy trì khả năng nẩy mầm. Hạt sến có tinh dầu nên sức nảy mầm bị
14
giảm sút rất nhanh, do vậy thông thường người ta gieo hạt ngay sau khi thu
hoạch.
Kết quả công trình nghiên cứu của Phạm Quang Vinh (2001) cho biết:
(1) Trọng lượng hạt Sến mật: Trọng lượng kho thông thường của 1.000 hạt đạt
1.650 gram. Như vật 1 kg hạt Sến Tam Quy có thừ 600 đến 650 hạt. (2) Độ
thuần lô hạt thu nhặt từ các hạt rơi rụng trên mặt đất rất cao. (k=0.91). Các lô
hạt này đảm bảo chấy lượng đưa vào sản xuất cây con phục vụ trồng rừng. (3)
Hàm lượng nước trong hạt Sến mật khá cao, trung bình đạt 48,5%. (4) Về
phương pháp kích thích hạt giống nảy mầm: Theo kết quả nghiên cứu của tác
giả thì với nhiệt độ 400C - 450C (2 sôi + 3 lạnh) cho tỷ lệ nảy mầm của hạt
giống đạt cao nhất (P= 90%), tốc độ nảy mầm bình quân là 9 ngày. (5) Về
của phương thức khai thác đến tái sinh của các loài, so sánh đánh giá về khả
năng tái sinh của các vùng khác nhau. Muốn phát huy tái sinh tự nhiên và
nhân tạo thì phải hiểu biết về hoàn cảnh sinh thái của các loài cây mục đích
mà chúng ta cần tái sinh. Các nghiên cứu trên mang tính lý luận có tính chất
tham khảo làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu sau này. Tuy nhiên, chưa
có các nghiên cứu sâu và cụ thể về khả năng tái sinh của từng loài, đặc biệt là
tái sinh tự nhiên.
Đối với loài Sến mật, trong thời gian qua cũng đã có một số tác giả
nghiên cứu về sự nảy mầm của hạt, khả năng nhân giống bằng hom đánh giá
về đặc tính, sinh thái của loài giới hạn trong một nghiên cứu nhất định, chủ
yếu thuộc khu vực Tam Quy - Thanh Hóa.
Chính vì vậy, xuất phát từ thực tiễn trong công tác bảo tồn cũng như
phát triển loài Sến mật tại Miếu Trắng (Trung tâm thực hành và thực nghiệm
Nông lâm Nghiệp/ Trường Cao đẳng Nông lâm Đông Bắc, thành phố Uông
Bí, tỉnh Quảng Ninh), chuyên đề “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và khả
năng tái sinh của loài Sến mật (Madhuca pasquieri (Dubard) H.J.Lam) tại
16
Miếu Trắng, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” là rất cần thiết có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu phát triển
và bảo tồn loài Sến mật tại thành phố Uông Bí nói riêng và Việt Nam nói
chung.
17
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nhằm đạt được mục tiêu đề ra, đề tài tập trung các nội dung sau:
2.3.1. Nghiên cứu xác định các trạng thái rừng và đặc điểm cấu trúc
rừng - nơi có loài Sến mật phân bố.
2.3.1.1. Cấu trúc tổ thành tầng cây cao
2.3.1.2. Mật độ tầng cây cao và Sến mật.
2.3.1.3. Đặc điểm phân bố số cây theo đường kính ngang ngực (n/D 1.3)
và của Sến mật
2.3.1.4. Sinh trưởng của Sến mật tại khu vực nghiên cứu
2.3.1.5. Đặc điểm phân bố số cây theo chiều cao (n/Hvn) của quần xã
thực vật và của loài Sến mật.
2.3.1.6. Đặc điểm của tầng cây bụi thảm tươi.
2.3.2. Nghiên cứu đặc điểm tái sinh của loài Sến mật tai khu vực
nghiên cứu.
2.3.2.1. Cấu trúc tổ thành loài cây tái sinh
2.3.2.2. Mật độ cây tái sinh.
2.3.2.3. Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và theo nguồn gốc.
2.3.2.4. Phân bố tần suất cây tái sinh.
2.3.2.5. Chất lượng cây tái sinh.
19
2.3.3. Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn loài Sến mật tại khu vực
nghiên cứu.
2.3.4. Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài Sến mật cho
khu vực điểu tra.
2.4. Phương pháp nghiên cứu.
2.4.1. Công tác chuẩn bị.
Chuẩn bị các tài liệu có liên quan đã và đang nghiên cứu về loài
Chuẩn bị bản đồ hiện trạng rừng, đầy đủ các loại bảng biểu, sổ ghi chép
Ngày
Nghề nghiệp
1
Trần Văn A
Trạm kiểm lâm Bắc Sơn
13/10/2016 Kiểm lâm viên
2
Nguyễn Văn B
Trạm kiểm lâm Bắc Sơn
13/10/2016 Kiểm lâm viên
3
Phạm Văn C
Phường Bắc Sơn
13/10/2016 Nông dân
4
- Ông/ bà có trực tiếp khai thác gỗ Sến mật không? Hay mua về sử
dụng?
21
+ Đối với cán bộ kiểm lâm, cán bộ bảo vệ rừng ta có thể hỏi thêm một
số câu hỏi để điều tra về tình hình khai thác và công tác bảo tồn loài Sến mật
như sau:
- Ông/ bà có biết loài Sến mật thường phân bố ở khoảng độ cao bao
nhiêu không?
- Ông/ bà có biết hàng năm số lượng Sến mật suy giảm là bao nhiêu
không? Nhiều hay ít?
- Tình hình khai thác trộm ở địa bàn diễn ra như thế nào?
- Ở địa bàn hay khu vực gần đây có chỗ nào nghiên cứu nhân giống loài
Sến mật chưa? Còn nghiên cứu nhân giống loài quý hiếm nào nữa không?
2.4.4. Phương pháp điều tra thực địa
2.4.4.1. Điều tra sợ thám
Tiến hành khảo sát toàn bộ khu vực, nghiên cứu, xác định trên bản đồ
các trạng thái rừng, tham khảo thêm tài liệu có liên quan về điều kiện tự
nhiên, dân sinh kinh tế, tình hình đặc điểm cấu trúc rừng Sến. Trên cơ sở đó
thiết lập các tuyến điều tra điển hình, đi qua các trạng thái rừng có Sến mật
phân bố.
2.4.4.2. Phương pháp điều tra theo tuyến.
Cụ thể tôi đã thực hiện điều tra trên các tuyến như sau:
Tuyến 1: Tọa độ: A (401.769; 2.331.879) đến tọa độ: B (403.269; 2,331.535)
Tuyến 2: Từ tọa độ C (402.373; 2.332.298) đến tọa độ D (403.564; 2.332.289)
Lập các tuyến điều tra trên đi qua các trạng thái rừng đại diện trong khu
vực, trên tuyến điều tra tiến hành quan sát trực tiếp trong phạm vi 10 về hai
Vị trí địa hình
(chân, sườn,
Tọa độ
Ghi chú
đỉnh)
Trên tuyến điều tra quan sát, kết hợp với chụp ảnh các trạng thái rừng,
ảnh sinh cảnh và xác định các vị trí điển hình để lập ô tiêu chuẩn.
Quan sát các cây Sến mật khi gặp sinh trưởng tốt, xấu hay trung bình,
đồng thời quan sát các vị trí phân bố ở sườn, đỉnh hay chân núi và dạng sinh
cảnh nơi có Sến mật phân bố.
Dùng máy GPS, bản độ hiện trạng, bản đồ địa hình để đo độ cao và tọa
độ nơi có Sến mật phân bố.
2.4.4.3. Phương pháp điều tra theo ô tiêu chuẩn.
Ô tiêu chuẩn (OTC): Được bố trí tại các vị trí có tính đại diện ở các khu
vực nghiên cứu, địa hình trong ô phải tương đối đồng đều, các loài cấp phân
bố tương đối đều, ô tiêu chuẩn không nằm vắt qua các đường mòn hoặc các
chướng ngại vật nhân tạo. Tổng số OTC đã điều tra là 6 ô.
23
Cách lập OTC: Sử dụng địa bàn, thước dây để lập OTC có diện tích
1000 m2 (40m x 25m) cạnh dài của OTC chạy dọc theo đường đồng mức,
dùng GPS xác định vị trí OTC. Trên OTC, tiến hành thu thập các thông tin
sau:
a. Điều tra tầng cây cao
ĐT
NB
TB
Hvn (m)
Dt
Sinh
trưởng
1
2
Xác định tên cây: Tên cây được ghi theo tên phổ thông và tên khoa học,
loiaf chưa biết tên được lấy tiêu bản giám định.
Đo Hvn, D1.3, Dt và sinh trưởng cây: Công cụ đo đường kính là thước
kẹp kính, đo chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành là thước Blumeleiss
kết hợp với sào đo cao
b. Điều tra cây tái sinh.
24
Phương pháp lập ô dạng bản (ODB): Trong ô tiêu chuẩn lập 5 ô dạng
bản để điều tra cây tái sinh theo vị trí: 1 ô ở tâm, 4 ô ở góc của OTC. Cụ thể
sơ đồ bố trí ODB như hình vẽ sau:
Lập ODB để diều tra cây tái sinh xung quanh gốc cây mẹ Sến mật.
Nguồn
gốc
Chất
lượng
1,5- 2>2,5 Chồi Hạt T TB X
2
2,5
Số ODB ở khu cực nghiên cứu tại Miếu trắng là 5 x 6 = 30 ô
Ghi
chú
25
c. Điều tra loài cây đi kèm với loài Sến mật.
Phương pháp ô 7 cây xác định loài phụ cần cho Sến mật. Trong mỗi
trạng thái rừng, chọn 3 cá thể Sến mật ngẫu nhiên trong OTC để lập ô 7 cây
với Sến mật là cây tám. Xác định khoảng cách từ gốc cây Sến mật đến gốc 6
cây gần nhất. Thông tin điều tra ô 7 cây ghi theo mẫu biểu:
Mẫu biểu 04: Điều tra loài cây đi kèm với Sến mật
ÔTC số:
Ô 7 cây số:
Ngày điều tra:
sinh Sến mật theo mẫu biểu: