SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH VĨNH PHÚC
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
BÁO CÁO
CHUYÊN ĐỀ
HÌNH ẢNH THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM
TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
QUA CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC THỜI KÌ CHỐNG MĨ
Môn: NGỮ VĂN
Tổ: KHOA HỌC XÃ HỘI
Mã: 29
Người thực hiện: TRẦN THU HIỆP
Điện thoại: 0982157468
Email: [email protected]
Vĩnh Yên, năm 2019
môc lôc
PhÇn I : Më ®Çu
I. Lý do chän ®Ò tµi
1
1
II. Mục đích nghiên cứu
III. Nhim v nghiờn cu
IV. i tng, phm vi v k hoch nghiờn cu.
V. Phng phỏp nghiờn cu.
Phần II: Nội dung
9
trách nhiệm, coi thờng hiểm nguy, vợt qua mọi khó khăn, thiếu
thốn.
c. Họ là những con ngời yêu đời, lạc quan, tơi trẻ.
d. Họ là những con ngời sống tình nghĩa, thủy chung.
e. Họ bất tử trong lòng Tổ quốc và Nhân dân.
IV. ứng dụng chuyên đề vào bồi dỡng học sinh giỏi
1. Phơng pháp chính dạy học khi bồi dỡng chuyên đề.
2. Các kỹ năng rèn cho học sinh qua chuyên đề.
3. ứng dụng chuyên đề để giải một số bài tập thi học sinh
14
17
19
20
20
21
21
giỏi.
V. Các giải pháp khi thực hiện đề tài
VI. kết quả khi áp dụng đề tài
Phần iii: kết luận và kiến nghị
I. Kt lun
29
30
32
điều đã học vào cuộc sống; bồi đắp cho các em tình yêu văn học và những tình
cảm nhân văn, tốt đẹp. Để thực hiện tốt mục tiêu ấy, người giáo viên, bên cạnh
dạy học sinh đại trà theo hướng đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng cần phải chú
trọng đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là
một trong những công tác trọng tâm trong nhà trường, tác động tích cực vào việc
nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ thầy cô giáo, nâng cao chất lượng
giảng dạy, góp phần phát hiện, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Là một giáo viên trực tiếp bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi trong nhiều
năm qua, bản thân tôi nhận thấy rằng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ
văn hiện nay ở địa phương còn nhiều hạn chế, số lượng giải ít và chất lượng giải
không cao bằng các bộ môn khác. Đây là điều trăn trở của những người làm
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, hầu như đội ngũ dạy bồi dưỡng chưa tiếp cận
với cách ra đề của phòng khảo thí kiểm định chất lượng của Sở GD - ĐT. Dạy
bám sát, chuyên sâu là một yêu cầu bức thiết đáp ứng cho yêu cầu thi học sinh
giỏi. Vấn đề được đưa ra trong chuyên đề này là “Hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua các tác phẩm văn học thời kì
chống Mĩ” là một chuyên đề có tính chất như vậy.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khi thực hiện chuyên đề “Hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ đất nước qua các tác phẩm văn học thời kì chống Mĩ”, tôi muốn
hướng tới những mục đích cơ bản sau:
Thứ nhất: Có những chuyên đề văn học tổng hợp, vừa bám sát chương trình,
vừa có tính mở rộng, nâng cao và chuyên sâu. Những chuyên đề này sẽ phục vụ
thiết thực cho công tác giảng dạy bộ môn nói chung và công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi nói riêng.
Thứ hai: Qua chuyên đề giúp cho học sinh cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp của
“hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua
1
văn 9 gồm các bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật),
“Những ngôi sao xa xôi” (Lê Minh Khuê), “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành
Long), đồng thời tập hợp thêm những dẫn chứng của một vài tác phẩm tiêu biểu
khác trong cùng thời kì để làm nổi bật vấn đề.
3. Kế hoạch nghiên cứu:
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012.
+ Tháng 9: Viết đề cương chuyên đề.
Khảo sát, lấy số liệu trước khi áp dụng đề tài.
+ Từ tháng 9/3011 – 3/2012: Viết chuyên đề và áp dụng nội dung chuyên
đề vào thực tiễn bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9, Trường THCS Liên Bảo, Vĩnh
Yên, Vĩnh Phúc.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu về sự cần thiết của vấn đề trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Khảo sát, thống kê số liệu.
2
- Sưu tầm tài liệu, đọc và nghiên cứu tài liệu tham khảo, trao đổi với đồng
nghiệp để tìm ra hướng đi cho chuyên đề cả về nội dung và hình thức.
- Để làm sáng tỏ cho vấn đề được đưa ra trong chuyên đề, tôi đã tiến hành
nghiên cứu, tìm hiểu từ những cơ sở mang tính lịch sử và lí luận văn học về
chặng đường văn học mà đề tài hướng tới: từ sau 1954 đến 1975. Từ đó giới
thiệu về vấn đề và làm rõ vấn đề qua hệ thống luận điểm, luận cứ và cách lập
luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục bằng các cách lập luận cụ thể, linh hoạt như
giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, so sánh, khái quát, tổng hợp; chú ý
bám sát các tác phẩm được học trong chương trình kết hợp với việc nâng cao,
mở rộng kiến thức ở mức độ phù hợp với khả năng của học sinh giỏi bậc THCS.
- Thực hành vận dụng đề tài trong thực tế giảng dạy.
trong số những nguyên nhân khiến học sinh chưa say mê môn Ngữ văn là do xu
thế của xã hội đề cao các môn Khoa học tự nhiên, ngoại ngữ, mà phần lớn các
học sinh có nhận thức tốt thường thích các môn văn hóa này. Một số phụ huynh
học sinh không thích cho con tham gia vào đội tuyển Ngữ văn (dù học sinh đó
có năng lực văn học). Vì vậy, việc chọn học sinh có năng khiếu để bồi dưỡng
môn Ngữ văn thật sự nhọc nhằn.
Một khó khăn nữa trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn
đó là vấn đề tài liệu. Hiện nay, chưa có các văn bản mang tính quy định về
chương trình và nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi. Hơn nữa, những bài viết
mang tính chuyên sâu, tổng hợp, khái quát các vấn đề văn học theo phân phối
chương trình Ngữ văn cấp học còn quá ít. Đặc biệt, đội ngũ giáo viên trẻ tuổi
4
ngày càng đông, vốn hiểu biết về các vấn đề văn học mang tính chuyên đề còn
hạn chế.
Về phía học sinh, trong các đội tuyển học sinh giỏi ở cấp Trung học cơ sở,
các em đã bắt đầu biểu hiện được năng lực văn học của mình như nắm được
kiến thức văn học cơ bản, biết cách cảm thụ cái hay, cái đẹp về nội dung, nghệ
thuật trong tác phẩm văn học, bắt đầu biết tự rèn luyện kỹ năng viết văn nhưng
khả năng viết các đề văn tổng hợp của các em còn yếu.
Qua việc trực tiếp bồi dưỡng, nắm bắt tình hình thực tế, thông qua việc trao
đổi với các đồng nghiệp dạy môn Ngữ văn trong tổ chuyên môn và các trường bạn,
tôi nhận thấy việc tìm hiểu chuyên đề “Hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua các tác phẩm văn học thời kì kháng
chiến chống Mĩ” là hết sức bổ ích và thiết thực. Bởi trong chương trình Ngữ văn
Trung học cơ sở, các tác phẩm văn học trong chặng đường này khá phong phú. Đặc
biệt, nội dung của chuyên đề cũng chính là một trong những nội dung tiêu biểu
xuyên suốt và khẳng định giá trị to lớn của nhiều tác phẩm văn học thời chống Mĩ..
Vậy, để nâng chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn nói chung, chất lượng
văn học chủ yếu mang khuynh sử thi và cảm hứng lạng mạn.
5
Văn học trong giai đoạn này đem lại nhiều giá trị. Văn học đã thực hiện
xuất sắc nhiệm vụ lịch sử. Có những đóng góp về tư tưởng: phát huy truyền
thống yêu nước và anh hùng, truyền thống nhân đạo trong thời kì mới. Về nghệ
thuật, văn học thời kì này phát triển toàn diện hơn về thể loại; phẩm chất thẩm
mĩ của văn học được nâng cao; đội ngũ các nhà văn, nhà thơ phát triển mạnh.
Nguồn cảm hứng của văn học chặng đường này tập trung vào đề tài Tổ
quốc và Nhân dân. Cách mạng và kháng chiến đã làm thay đổi hẳn cách nhìn
nhận nhân dân của nhiều nhà văn, đồng thời hình thành ở họ một quan niệm mới
về đất nước: đất nước của nhân dân. Chính nhân dân đã xây dựng, giữ gìn, bảo
vệ đất nước bằng mồ hôi, nước mắt và máu xương của mình qua hàng nghìn
năm lịch sử như trong bài “Người đi tìm hình của nước” nhà thơ Chế Lan Viên
có viết:
Nước Việt Nam nghìn năm từ Đinh, Lý, Trần, Lê
Thành nước Việt nhân dân trong mát suối.
hay:
Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta.
(Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm)
Ngòi bút của các nhà văn hướng về đại chúng, hướng về nhân dân. Nhân
dân trong văn học chống Mĩ xuất hiện rất phong phú và đa dạng. Bên cạnh việc
xây dựng quần chúng cách mạng (người nông dân, người mẹ, người phụ nữ, em
bé…) diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân lao động, nền văn học mới đặc biệt
quan tâm tới các nhân vật trung tâm: người chiến sỹ trên trận tuyến chống quân
thù, những con người trực tiếp phục vụ kháng chiến và những con người lao
động mới trên mặt trận xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Họ thuộc mọi tầng lớp, mọi
lứa tuổi và giới tính khác nhau nhưng ở họ đều mang lí tưởng chung của cả dân
nhất của thanh niên là “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, là “Xẻ dọc Trường
Sơn đi cứu nước” như Chiến – người con gái đang ở độ tuổi hai mươi, trong tác
phẩm “Những đứa con trong gia đình” (1966 - Nguyến Thi) đã nói với em mình:
“Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất… ”.
Với câu nói chân chất ấy, ta có thể hiểu ngọn đèn nào đang soi sáng trong tình
cảm và ý chí của người nữ thanh niên ấy.
Trong bài thơ “Tiếng gà trưa” (Xuân Quỳnh), khổ thơ cuối bài thơ có
đoạn:
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
Bài thơ “Tiếng gà trưa” được viết năm 1968. Bài thơ thể hiện cảm xúc của
một anh lính trẻ trên đường hành quân: khi nghe tiếng gà nhảy ổ ban trưa, bao
nhiêu kỷ niệm về tuổi thơ tươi đẹp, về tình bà cháu đã sống dậy. Từ đó khiến
anh nhận ra mục đích, lí do chiến đấu của mình vì Tổ quốc, làng quê, gia đình và
tuổi thơ. Và có lẽ, từ những lí do vừa giản dị, vừa cao cả ấy sẽ trở thành nguồn
động lực, trở thành sức mạnh giúp anh cầm chắc tay súng, chiến đấu bảo vệ Tổ
quốc.
“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật được viết
vào năm 1969 là một bài thơ tiêu biểu cho thơ ca kháng chiến chống Mỹ. Bài
thơ mang đậm “chất lính”, là tiếng nói hồn nhiên, thường ngày của người lính
trẻ của thời chống Mỹ có học thức, có lý tưởng thời đại, mang trong mình sự tự
tin, niềm kiêu hãnh của những con người rất đỗi tự hào về sứ mệnh của mình –
sứ mệnh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Ngồi trong buồng lái của
những chiếc xe vận tải “không kính”, “không đèn”, “không mui” trên con
đường Trường Sơn mưa bom bão đạn, anh chiến sỹ lái xe vẫn cảm nhận rõ “con
đường chạy thẳng vào tim”. Đó là cảm nhận vừa rất thực của một người lính lái
Minh Khuê). Tất cả học đều là những anh hùng sẵn sàng xả thân vì lí tưởng, vì
sự sống của dân tộc. Ta hãy nghe lời tâm sự của Phương Định, một cô gái Hà
thành, theo tiếng gọi của Tổ quốc, từ giã phố nhỏ thân thương dấn thân vào
Trường Sơn khói lửa trở thành cô “trinh sát mặt đường”: “Thực tình, trong suy
nghĩ của tôi, những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là
những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ”. Một lời tâm sự rất hồn nhiên
nhưng lại ngời sáng một lý tưởng cao đẹp của một nữ thanh nhiên xung phong.
“Người mặc quân phục và có ngôi sao trên mũ” ấy là ai? Đó là những anh bộ
đội Cụ Hồ - Những người hội tụ đầy đủ nhất mọi vẻ đẹp của con người Việt
nam đương thời nói riêng và trong mọi thời đại nói chung. Họ mang trong mình
tinh thần, sức mạnh của cả một dân tộc anh hùng, một thời đại anh hùng. Nói về
họ bằng sự yêu mến, kính trọng và đầy ngưỡng mộ như vậy, chứng tỏ với
Phương Định, họ chính là lẽ sống mà cô hướng tới. Trong bài thơ “Khoảng trời
- hố bom” (Lâm Thị Mỹ Dạ) ta thật sự xúc động, cảm phục trước tình yêu Tổ
quốc và sự hi sinh cao cả của cô gái mở đường:
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom.
Vâng! Có một cái gì đó như nhói ở trong tim, nhưng cũng có cái gì đó làm
bừng sáng lên tâm hồn của người đọc. Phải chăng, đó chính là hình ảnh “ngọn
lửa” được thắp lên bởi cô gái mở đường. Ngọn lửa làm nhói tim ta, bởi ngọn lửa
ấy cho ta cảm nhận được hy sinh, mất mát do chiến tranh gây ra, nhưng nó lại
thắp sáng lên trong ta một lẽ sống cao đẹp, một ý chí nghị lực sống bất diệt bởi
nó là ngọn lửa của lí tưởng cách mạng, của lòng yêu Tổ quốc, của niềm khao
khát tự do độc lập, của niềm tin chiến thắng.
8
Lí tưởng và lẽ sống đẹp của thế hệ trẻ không chỉ được thể hiện trong cuộc
đấu tranh chống ngoại xâm mà còn được thể hiện sâu sắc trong cuộc sống đời
biểu tượng đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cho lẽ sống đẹp, cho lý
tưởng chung của mọi con người Việt Nam, đất nước Việt Nam trong thời kỳ:
“Mỗi đứa bé đều nằm mơ ngựa sắt
Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng”
(Chế Lan Viên)
Hơn nữa, đó chính là biểu hiện của khuynh hướng sử thi và cảm hứng
lãng mạn trong thơ ca chống Mỹ. Đặc biệt, tình yêu đất nước, lòng nhiệt tình
cách mạng, lý tưởng Cộng sản kiên định đã làm nên sức mạnh để người lính trở
nên dũng cảm, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng hi sinh
làm tròn nhiệm vụ với quê hương, đất nước.
b. Họ là những con người gan dạ, dũng cảm, đầy tinh thần trách nhiệm,
coi thường hiểm nguy, vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn, sẵn sàng hi sinh,
làm tròn nhiệm vụ.
9
Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, cả dân tộc phải trải qua
một thời kỳ lịch sử khó khăn, ác liệt nhưng hào hùng. Một trong lớp người tiên
phong đi thực hiện nhiệm vụ ấy là thế hệ trẻ Việt Nam với tinh thần “Xẻ dọc
Trường Sơn đi cứu nước”, họ có mặt trên mọi mặt trận. Và đương nhiên, họ
cũng cùng dân tộc sẻ chia những vất vả nhọc nhằn, những hiểm nguy gian khó.
Người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn phải chịu đựng sự khắc
nghiệt của thiên nhiên “Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng”, “Bụi phun tóc trắng
như người già”, “Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời”. Những con người trẻ tuổi
(người lính lái xe, những nữ thanh niên xung phong…) phải sống trong điều
kiện thiếu thốn, trang bị thô sơ “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời/Chung bát
đũa nghĩa là gia đình đấ/Võng mắc chông chênh đường xe chạy”(Bài thơ về
tiểu đội xe không kính) hay “chúng tôi ở một trong những cái hang ở chân cao
điểm” (Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê). Hơn thế, thế hệ trẻ Việt Nam đi
vào cuộc kháng chiến chống Mĩ, từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây họ
súng hai mươi li, khi bay cao trút bom tọa độ. Lúc này, đường Trường Sơn – con
10
đường chi viện sức người, sức của, vũ khí lương thực cho miền Nam là nơi “túi
bom, chảo lửa”. Những cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ trên con
đường ấy cũng chịu chung nỗi nguy nan của anh lính lái xe. Như Phương Định
tâm sự: “Chúng tôi chạy trên cao điểm cả ban ngày. Khi có bom nổ thì chạy lên
đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và phá bom”; hay “ Thần
chết là một tay không thích đùa, hắn ta lẩn trong ruột những quả bom và bom
có thể nổ bất cứ lúc nào”, “máu từ cánh tay Nho túa ra” (Những ngôi sao xa
xôi); Ngay cả cô gái mở đường trong bài thơ “Khoảng trời - hố bom” cũng đã
phải “hứng lấy đường bom” để cứu con đường và cho đoàn xe kịp giờ ra trận.
Nói đến đây, khiến mỗi chúng ta không thể không liên tưởng tới hình ảnh của
mười nữ thanh niên xung phong ở ngã ba Đồng Lộc lịch sử, cùng lúc hy sinh
dưới làn bom đạn tàn bạo của kẻ thù. Sự hi sinh của họ không chỉ là biểu tượng
cho những con người anh hùng mà còn là minh chứng cho sự tàn khốc của chiến
tranh.
Qua con đường Trường Sơn, ta hãy đến với đồng bào miền Nam yêu quý
– nơi thành đồng của Tổ quốc, để một lần nữa thấu hiểu những gian nguy của
những người con đang phải sống và chiến đấu trong vùng địch – nơi tiền tiêu
của Tổ quốc, trong đó có thế hệ trẻ. Đến với tác phẩm “Những đứa con trong
gia đình” (Nguyễn Thi) ta bắt gặp Chiến, Việt là hai nhân vật chính, hai đứa con,
hai người chiến sĩ trẻ của quê hương Bến Tre anh hùng. Khi lớn lên hai chị em
đã sớm sống trong cảnh cha mẹ hi sinh, ngôi nhà cũ đã nhường để làm trường
học, bàn thờ má phải gửi sang nhà khác,…Rồi khi vào chiến trường, Việt lại
phải đối mặt giữa sự sống và cái chết. Trong một cuộc giao tranh quyết liệt giữa
đơn vị của Việt và một chiến đoàn Mĩ, Việt lạc đơn vị giữa rừng đầy xác giặc,
chân tay tê dại, nhức nhối, khắp người rỉ máu, miệng tê cứng không la lên được,
“bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao tròn lấy Việt” trong cánh rừng cao su vừa
người chiến sỹ không hề nản chí, không run sợ mà trái lại tự tin, bình tĩnh đến lạ
thường, anh vẫn “Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất, nhìn trời, nhìn
thằng...” Vẻ đẹp kiêu hùng được thoát ra từ tư thế ngồi ung dung đến cái nhìn
“thẳng”. Các từ láy “ung dung” cùng với nhịp thở nhanh, đều, dứt khoát 2/2/2
diễn tả vẻ đẹp thản nhiên, tự tin đến ngang tàng của người chiến sỹ trẻ. Đẹp hơn
nữa ở anh lính lái xe là thái độ, tinh thần, dũng cảm, bất chấp gian khổ để chiến
đấu và chiến thắng:
“Không có kính, ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc ...
Không có kính ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”.
Vẻ đẹp được toát lên từ lời thơ giản dị, giàu chất lính, hình ảnh thơ mộc
mạc. Điệp ngữ “ừ thì”, “chưa cần” vang lên như một lời thách thức, chủ động
chấp nhận gian khổ.
Cũng như anh lính lái xe, ba nữ thanh niên trong “tổ trinh sát mặt đường”
làm việc trên tuyến đường Trường Sơn (Thao, Nho và Phương Định) là những
tấm gương về lòng dũng cảm và luôn vượt mọi khó khăm để làm tròn nhiệm vụ.
Theo lời kể của Phương Định (nhân vật chính trong tác phẩm “Những ngôi sao
xa xôi”): “Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba
lần. Tôi có nghĩ đến cái chết. Nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể. Còn
cái chính: liệu mìn nổ, bom có nổ không? Không thì làm thì làm cách nào để
châm mìn lần thứ hai?”, hay “Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không
khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập
bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều
quả bom chưa nổ...” Thế đấy, những lời kể chân thành, tự nhiên nhưng lại làm
nổi bật vẻ đẹp về sự dũng cảm, về ý thức trách nhiệm với công việc của những
nữ “trinh sát mặt đường” trên tuyến đường Trường Sơn. Sống và làm việc phục
biết bao!
Chia tay những nữ thanh niên xung phong, ta trở lại tìm Việt trong
“Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi) xem anh đã làm gì trong bóng
đêm vắng lặng, trong tiếng tiếng trực thăng bay từng bầy trên đầu? Và đây là
Việt trong thời khắc nguy nan ấy: Việt vẫn cố bò đi và sẵn sàng chiến đấu bằng
khẩu súng của mình. Mười ngón tay không lên đạn được, Việt dùng răng giật cơ
bẩm, đưa một viên đạn lên nòng. Sang tới ngày thứ hai, Việt bắt đầu cảm thấy
nóng và đói, mắt bị thương nặng, đau khắp người, người thương binh đang lạc
đồng đội này phát hiện mình không thấy gì. Đường tìm về với đồng đội càng
khó khăn gấp bội. dù vậy, anh vẫn sãn sàng nổ súng với một ngón cái hơi nhúc
nhích.Trong hoàn cảnh hiểm nghèo, Việt không sợ chết mà chỉ sợ không còn
được gặp đồng đội, không còn được cầm súng. Khi về đêm, Việt cảm thấy kiệt
sức hoàn toàn, Việt lại nghĩ về đồng đội, nghe tiếng kèn xung trận của ta Việt lại
bò được một đoạn, bò về phía trận đánh, phía đồng đội và sự sống. Người con
miền Nam yêu quý ấy có một ý chí, một nghị lực mãnh liệt, phi thường. Gian
khó, hiểm nguy, ngay cả thần chết đang cận kề cũng không làm nhụt ý chí chiến
đấu, làm mất đi tình cảm tốt đẹp trong anh. Anh sứng đáng là một người con nơi
thành đồng Tổ quốc.
Về với mảnh đất Sa Pa yên bình vào những năm đầu của thập niên 70 thế kỉ
XX, ta hãy thử xem, anh thanh niên sống và làm việc trên đỉnh cao 2600m kia
có đủ dũng khí, nghị lực để vượt qua những gian khổ trong cuộc sống, trong lao
động để làm tròn trách nhiệm hay không? Hãy nghe anh tâm sự: “Hồi chưa vào
nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu nghĩ
ngay, ngôi sao kia lẻ loi một mình. bây giờ, làm nghề này, cháu không nghĩ như
13
vậy nữa. Vả, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?
Huống chi, công việc của cháu gắn liền với công việc của bao anh em đồng chí
dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi cháu buồn muốn
sáng của dân tộc. Những nét đẹp ấy cũng hội tụ và sáng ngời trong lớp thế hệ trẻ
- lực lượng tiên phong của mọi thời đại. Nhưng trong mỗi một con người nét đẹp
ấy lại được thể hiện ở những góc độ khác nhau.
Niềm lạc quan, yêu đời của anh lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không
kính” được thể hiện mang vẻ đẹp rất “ngông”, rất “tếu” của một anh tài xế có
học thức, nhiệt tình và tin vào tương lai tươi sáng. Lái những chiếc xe “không
kính”, đối mặt với bom đạn, đối mặt với những khắc nghiệt về thiên nhiên ở
Trường Sơn, với nắng gió, mưa, bụi nơi mà Tố Hữu đã từng viết: “Trường Sơn
đông nắng tây mưa/ Ai chưa đến đó như chưa rõ mình”, vậy mà người lính trẻ
lại có một tâm thế thoải mái, ung dung đón nhận những thứ ấy.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Thấy con đường chạy thẳng vào tim
14
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái.
Điệp từ “nhìn” gợi ra sự nối tiếp liên tục của những hình ảnh trên đường
đi giống như một thước phim đang quay. Nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ và so sánh
đã góp phần làm cho hình ảnh thơ thêm sinh động. Tưởng rằng làm chủ những
chiếc xe không kính, người chiến sĩ trẻ chỉ thấy những khó khăn chồng chất khó
khăn. Nhưng không! Nó đã làm tăng những cảm giác mới mẻ mà chỉ có người
chiến sĩ khi ngồi trên những chiếc xe như thế mới có thể cảm nhận rõ ràng,
mãnh liệt. Hình ảnh “gió vào xoa mắt đắng”, “con đường chạy thẳng vào tim”
tạo ra ấn tượng độc đáo. Chiếc xe như đang trôi bồng bềnh trong thiên nhiên
hoang dã của núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Trong điều kiện khó khăn, người
lính tìm thấy niềm vui cho mình, tìm thấy những giây phút tuyệt vời, giây phút
hòa mình với thiên nhiên, cảm nhận thiên nhiên. Thiên nhiên: gió, sao, cánh chin
như ùa vào buồng lái, quấn lấy người lái xe. Chính trong hoàn cảnh đó, vẻ đẹp
của người lính được nâng lên ngang tầm vũ trụ. Chất thơ và vẻ đẹp lãng mạn
15
nhìn sao mà xa xăm!”, “Tôi thích ngắm mắt tôi trong gương”. “Tôi thích điệu”.
Phương Định hát hay và hay hát: “Tôi thích nhiều bài. Những bài hành khúc bộ
đội....Thích những dân ca quan họ mềm mại.Thích Ca-chiu-sa của Hồng quân
Liên Xô”. Chị hát hồn nhiên, vô tư tới mức chỉ thuộc một giai điệu nào đó là có
thể tạo ra lời bài hát; chị hát và nghĩ vẩn vơ ngay trước thềm cuộc chiến đấu ác
liệt, cái chết kề bên sự sống; chị cùng đồng đội hát ngay sau cuộc chiến khốc liệt
vừa đi qua. Sự căng thẳng thần kinh đến tột cùng và hình ảnh thần chết luôn
chập chờn trước mắt, bỗng chốc lại mờ nhạt chỉ để còn lại tiếng hát hồn nhiên,
vui tươi, vô tư, đầy lạc quan, yêu đời của tuổi trẻ. Quả thực nơi đây tiếng hát át
tiếng bom. Nói đến đây, chắc hẳn trong mỗi chúng ta sẽ lại muốn ngâm nga giai
điệu quen thuộc trong bài hát “Cô gái mở đường” của nhạc sĩ Xuân Giao: Đi
giữa trời khuya sao đêm lấp lánh, tiếng hát em vang động núi rừng. Phải chăng
em cô gái mở đường, không thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát,... Ôi biết bao cô
gái đang ngày đêm mở đường, hỏi em bao nhiêu tuổi mà sức em phi thường...
Không chỉ có vậy, Phương Định còn là một cô gái có tâm hồn nhạy cảm, mộng
mơ. Ngay giữa chiến trường đầy bom đạn, cơn mưa đá đột ngột đã làm bung nở
ở cô những kỉ niệm thời thơ trẻ, khiến cô nhớ về Hà Nội, nơi có một thời hồn
nhiên, vô tư sống bên mẹ, nơi có căn phòng nhỏ gác hai ở một ngõ phố yên tĩnh
và thanh bình ở Hà Nội. Và giờ đây, trong những ngày căng thẳng ở chiến
trường, những kỷ niệm ấy vừa là niềm khao khát cuộc sống nơi Hà thành, vừa là
dòng suối mát trong, vừa là liều thuốc tinh thần động viên Phương Định có đủ
nghị lực vượt qua mọi gian lao, thử thách. Ta cũng bắt gặp hình ảnh cô thanh
niên xung phong tinh nghịch, hồn nhiên trong thơ Phạm Tiến Duật:
Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là “Thạch Nhọn”
Đêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón
Em đóng cọc rào quanh hố bom
Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn.
hay:
Và ở đâu? Trên trái đất này?
Người vẫn ngọt ngào qua bao nỗi đắng cay.
Sống chết từng giây mưa bom bão đạn.
Lòng nóng bỏng căm thù vẫn mát tươi tình bạn.
d. Họ là những con người sống tình nghĩa, thủy chung.
Sống ân nghĩa, thủy chung, coi trọng tình cảm vốn là nét đẹp truyền thống
bao đời của dân tộc Việt Nam. Thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ đã kế thừa và
phát huy được truyền thống tốt đẹp ấy. Văn học thời kì này cũng đã ghi lại sâu
sắc những tình cảm tốt đẹp của con người Việt Nam được gửi gắm qua tình cảm
của thế hệ trẻ. Những tình cảm ấy tiếp thêm sức mạnh cho thế hệ trẻ vững bước
trong công cuộc dựng xây và bảo vệ Tổ quốc.
Đặt trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, cả dân tộc cùng hành quân
ra trận, tình đồng chí, đồng đội có lẽ luôn là thứ tình cảm lay động lòng người.
Tình đồng chí là thứ tình cảm thiêng liêng được hình thành, phát triển trong mối
quan hệ của những người cùng chung chí hướng, cùng chung nhiệm vụ. Tình
đồng chí trong thời kháng chiến chống Pháp đã được nhà thơ Chính Hữu thể
hiện sâu sắc trong bài thơ “Đồng chí”. Những người đồng chí, họ xuất thân từ
nông dân nghèo, từ những con người chân lấm tay bùn, từ nhiều vùng quê khác
nhau, “chẳng hẹn quen nhau”, nhưng vì tình yêu Tổ quốc họ có chung một chí
hướng mà hội tụ về đây trở thành đồng chí, đồng đội, đồng nhiệm vụ, đồng cam
cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, sống chết có nhau. Đến văn học kháng chiến chống
Mĩ, tình đồng chí vừa mang những biểu hiện vốn có của nó, vừa có sự phát triển
mang hơi thở của thời đại. Trong kháng chiến chống Mĩ, những người lính trẻ
hầu hết là những thanh niên có học thức, họ vừa từ giã mái trường theo tiếng gọi
non sông đi vào chiến trận, nên họ vẫn mang theo trong hành trang của mình sự
hồn nhiên, tinh nghịch, trẻ trung. Nên tình đồng đội cũng mang màu sắc ấy.
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
đẹp, thật đáng quý, đáng trân trọng biết bao! Gặp lại nhân vật Việt trong “Những
đứa con trong gia đình” trong thời khắc nguy nan ta càng thấm thía hơn ý nghĩa
của tình đồng chí đồng đội đối với người lính trẻ. Trong lúc cận kề cái chết, một
trong những tình cảm luôn sống dậy trong anh chính là tình đồng chí. Nỗi sợ hãi
trong anh không phải là cái chết mà là sợ không được gặp đồng đội. Rồi từ tiếng
súng của đồng đội, anh đã tìm được đường về với sự sống.
Nhà thơ I-li-a Ê-ren-bua có viết: Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu quê
hương trở nên tình yêu Tổ quốc. Đúng vậy. Ta bắt gặp chân lí này khi đọc tác
phẩm “Những đứa con trong gia đình”. “Những đứa con trong gia đình” là sự
khẳng định, ngợi ca mối liên hệ bền chặt, thiêng liêng giữa các thế hệ trong gia
đình. Đó là tình cảm của con cái đối với cha mẹ. Hai chị em Chiến, Việt đã phải
chịu đựng những đau thương do chiến tranh mang lại: sớm mất cha, mẹ, đặc biệt
hai chị em phải tận mắt chứng kiến cảnh kẻ thù cướp đi sinh mạng của cha mẹ
mình. Từ tình yêu cha mẹ sâu sắc, hai “đứa con” sục sôi ý chí căm thù giặc, từ
mối thù của cha mẹ, đã lớn dần thành tình yêu Tổ quốc. Tiếp bước truyền thống
anh hùng của gia đình, hai chị em cùng tham gia vào cuộc kháng chiến, chiến
đấu ngoan cường, dũng cảm và lập được nhiều thành tích góp phần làm nên
thắng lợi cho cuộc kháng chiến. Điều khiến chúng ta xúc động hơn nữa ở Việt
và Chiến là sống trong hoàn cảnh mất cha mẹ, hai chị em luôn yêu thương, gần
gũi với nhau. Trong cảm nhận của người em tra (Việt), Chiến giống mẹ đến lạ
lùng. Chiến lo lắng cho em từng chút, đi đâu Chiến cũng xem chừng em, yêu
thương em. Với Việt, chị là tất cả. Việt “giấu chị như giấu của riêng mình” vì sợ
mất chị. Những tình cảm ấy vừa cao đẹp lại vừa gần gũi thân thương biết mấy.
18
Trong chiến tranh có những tình cảm sục sôi, hừng hực khí thế nhưng cũng có
nỗi nhớ nhung, xao xuyến, bồi hồi của những tâm hồn giàu tình cảm. Điều đó đã
làm nên chất trữ tình nhuần nhụy trong thơ ca. Xuân Quỳnh đã đưa ta trở lại tuổi
thơ với “Tiếng gà trưa”. Trên đường hành quân xa, nghe tiếng gà nhảy ổ, trong
một thời đại. Vốn mang vẻ đẹp chung của đất nước, của nhân dân nên họ cũng
dễ dàng tìm thấy ý nghĩa sự sống trong Tổ quốc, nhân dân, trong tương lai tươi
sáng, trong lẽ sống vĩnh hằng.
e. Họ luôn bất tử trong lòng Tổ quốc và nhân dân.
Thế hệ trẻ thời chống Mĩ, họ đã tìm thấy ý nghĩa sự sống trong Tổ quốc,
Nhân dân, trong tương lai tươi sáng, trong lẽ sống vĩnh cửu (Văn học cách mạng
có tính sử thi, cái đẹp trong văn học cách mạng gắn liền với ý niệm Tổ quốc
trường tồn). Mọi cá nhân hữu hạn sẽ bất tử trong Tổ quốc mình. Không phải
ngẫu nhiên văn học cách mạng viết nhiều về cái chết.
Em nằm dưới đất sâu
Như khoảng trời đã nằm yên trong đất
19
Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng
Những vì sao ngời chói lung linh.
(Khoảng trời – hố bom – Lâm Thị Mỹ Dạ)
Cô gái mở đường trở về với đất mẹ, tâm hồn cô là khoảng trời, vì sao, là
vầng dương “thao thức”, soi đường, dẫn lối cho những đoàn xe ra mặt trận. Cái
chết của cô đã hóa thành bất tử. Đến cái chết của người chiến sĩ vô danh trên
đường băng Tân Sơn Nhất cũng là để:
Tên anh đã thành tên đất nước,
Ôi anh giải phóng quân,
Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.
(Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân)
Đất nước, Tổ quốc chính là cõi vĩnh hằng, bất diệt mà những người con có
thể hóa thân. Về với Đất nước là họ về với yên ổn trong vô tận nhân dân, bất
diệt, trong ân nghĩa thủy chung, trong sự sống muôn đời của nhân loại.
Các tác phẩm văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ đã phản ánh
- Phương pháp phân tích, bình giảng. Phương pháp này được thực hiện chủ
yếu trong việc phân tích, bình giảng dẫn chứng. Như phân tích, bình giảng về một
đoạn thơ, đoạn văn được dùng làm sáng tỏ cho các luận điểm, lí lẽ được nêu ra.
- Phương pháp tổng, phân, hợp. Phương pháp này sử dụng linh hoạt khi
hướng dẫn học sinh lập cấu trúc của bài hay trong diễn đạt đoạn văn, trình bày
luận điểm.
- Phương pháp đối chiếu so sánh:
+ So sánh đối chiếu giữa các tác phẩm cùng chủ đề, cùng thời gian nhưng
có các khía cạnh giống và khác nhau.
+ So sánh đối chiếu các tác phẩm văn học khác nhau về thời gian nhưng
cùng chủ đề.
2. Các kĩ năng rèn cho học sinh qua chuyên đề
- Kỹ năng đọc, hiểu, cảm thụ tác phẩm văn học
- Kỹ năng tạo lập văn bản theo đúng quy trình.
- Kỹ năng diễn đạt
- Kỹ năng tư duy sáng tạo,…
3. Ứng dụng chuyên đề để giải một số bài tập thi học sinh giỏi.
3.1. Bài tập 1:
“Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long và “Những ngôi sao xa xôi” của
Lê Minh Khuê đều là những truyện ngắn hay, đã khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của
thế hệ trẻ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Em hãy phân tích nhân vật anh thanh niên và nhân vật Phương Định trong
sự đối sánh để làm rõ những khám phá, sáng tạo riêng của mỗi tác phẩm trong
việc thể hiện chủ đề đó.
(Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT Chuyên Thái Bình, 2010 – 2011 (dành
cho khối chuyên Văn)
* Hướng dẫn:
Bước 1: Đọc kỹ đề, xác định:
+ Vấn đề nghị luận: Phân tích hai nhân vật là Phương Định và anh thanh
niên qua hai tác phẩm trong sự đối sánh để làm nổi bật lên vẻ đẹp của thế hệ trẻ
sáng tạo riêng làm nên những tác phẩm văn học có sức sống lâu bền với thời
gian, những dấu son lịch sử không thể nào quên.
+ Nó không chỉ có tác dụng ngợi ca vẻ đẹp tuổi trẻ Việt Nam trong những
tháng năm oanh liệt mà còn động việ, thôi thúc tinh thần thanh niên hăng hái lao
động xây dựng đất nước và lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Bước 3: Viết bài
Tham khảo đáp án sau:
a, Mở bài. Dẫn dắt và nếu vấn đề
- Văn học cách mạng giai đoạn 1965 – 1975 tập trung vào hai đề tài lớn
cây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, thống nhất
đất nước.
- Tiêu biểu cho hai đề tài đó là các truyện ngắn: Lặng lẽ Sa Pa của
Nguyễn Thành Long và Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê. Mỗi tác
phẩm đều xây dựng được nhân vật tiêu biểu cho vẻ đẹp con người Việt Nam
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đó là nhân vật anh thanh niên và
Phương Định. Họ là những con người hăng say, nhiệt tình trong lao động; dũng
cảm kiên cường, bất khuất trong chiến đấu; giàu lí tưởng, lạc quan, yêu đời,
nguyện hiến trọn tuổi thanh xuân cho non sông đất nước.
b, Thân bài. Triển khai các luận điểm đã xác định
b.1. Vẻ đẹp chung của hai tác phẩm và hai nhân vật
- Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long và Những ngôi sao xa xôi của
Lê Minh Khuê cùng ra đời trong một giai đoạn lịch sử đấy cam go, quyết liệt
của dân tộc, các tác phẩm đều hướng vào phản ánh hiện thực ấy.
- Cùng có mục đích xây dựng những con người điển hình trong hoàn
cảnh điển hình, mang vẻ đẹp tiêu biểu của con người Việt Nam trong lao động
và chiến đấu, manh chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùnh của thời đại cách
mạng. Họ là những con người sống đẹp, giàu lí tưởng, nhiệt tình, hăng say lao
động sản xuất, xây dựng đất nước, không vụ lợi, toan tính ở bất cứ lĩnh vực công
22
bạn đồng nghiệp trên đỉnh Phan-xi-păng và dưới Sa Pa… thì thực lòng từ chối
và giới thiệu họ.
=> Nét nổi bật của anh: giàu lí tưởng, sống đẹp, nguyện dâng hiến tuổi trẻ
cho quê hương, đất nước, góp sức nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng và
bảo vệ đất nước.
- Nhân vật Phương Định trong Những ngôi sao xa xôi
Nếu anh thanh niên tiêu biểu cho thanh niên miền Bắc tham gia cùng đất
nước xây dựng chủ nghĩa xã hội thì Phương Định lại tiêu biểu cho nữ thanh niên
miền Bắc tham gia vào tuyến lửa miền Nam đánh Mĩ, bảo vệ Tổ quốc.
+ Điều kiện sống và làm việc của Phương Định cũng như hàng ngàn,
hàng vạn nữ thanh niên thời chống Mĩ trên tuyến lửa Trường Sơn đầy cam go và
ác liệt. Phương Định cùng các chị em (đồng chí, đồng đội) của mình sống trên
một trọng điểm bắn phá hàng ngày của không quân Mĩ. Sự sống luôn kề bên cái
chết nhưng Phương Định và đồng đội của chị sống rất hồn nhiên, hiên ngang,
bất khuất.
+ Luôn đoàn kết, thương yêu đồng chí đồng đội.
23