CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-----------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC PHẦN CÔNG DÂN VỚI
KINH TẾ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11
Quảng Bình, tháng 1 năm 2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-----------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC PHẦN CÔNG DÂN VỚI
KINH TẾ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11
Họ tên : Trần Thị Kim Huệ
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác: Trƣờng THPT Đào Duy Từ
Quảng Bình, tháng 1 năm 2019
KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. HĐTN: Hoạt động trải nghiệm
2. PPDH: Phương pháp dạy học
4
2.2 .Cơ sở thực tiễn...........................................................................................
4
2.3. Thực trạng vấn đề ......................................................................................
5
2.4. Một số phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn
Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông ..........................................
6
2.5. Sản phẩm minh họa trong các bài học .......................................................
10
2.6. Kết quả đạt được........................................................................................
24
2.6.1. Đánh giá chung về hiệu quả của việc áp dụng đề tài..............................
24
2.6.2. Đánh giá cụ thể về hiệu quả của việc áp dụng đề tài...............................
kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất.
Trong những năm gần đây, các nhà quản lí giáo dục và nghiên cứu giáo dục học
quan tâm nhiều đến thuật ngữ “trải nghiệm” trong dạy học nhằm chuyển đổi hình thức
dạy học chú trọng đến cung cấp tri thức cho người học sang dạy học phát triển năng
lực. Đây là sự chuyển đổi cần thiết cho việc đổi mới PPDH, phù hợp với xu thế phát
triển của thời đại. “ Trải nghiệm” có thể là những hoạt động ngoài giờ lên lớp hoặc
cũng có thể là các hoạt động diễn ra ở trong lớp học tạo điều kiện cho học sinh quan
sát, suy ngẫm và tham gia các hoạt động thực tiễn, nghiên cứu, tìm ra những giải pháp
mới, sáng tạo những cái mới trên cơ sở kiến thức đã học trong nhà trường và những gì
đã trải qua trong thực tiễn cuộc sống, từ đó hình thành ý thức, phẩm chất, kĩ năng sống
và năng lực cho học sinh.
Môn GDCD ở trường trung học phổ thông cung cấp cho học sinh những kiến
thức cơ bản về đạo đức, kinh tế, pháp luật, các chủ trương đường lối của Đảng về
chính trị - xã hội…Những kiến thức này có vị trí rất quan trọng trong việc giáo dục
đạo đức, định hướng hành vi, hình thành nhân cách cho học sinh. Để giải quyết vấn
đề, đáp ứng nhu cầu mà môn GDCD đặt ra, đòi hỏi việc đổi mới PPDH là điều hết sức
cần thiết. Việc đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay phải chú trọng đến các PPDH
trải nghiệm, cho học sinh được chủ động lĩnh hội tri thức, hình thành những cảm xúc
tích cực từ đó tự giác điều chỉnh hình vi bản thân, trở thành công dân có ích cho xã hội
Trong “ chương trình tổng thể” của Bộ Giáo dục đào tạo chỉ rõ vai trò của môn
GDCD trong giai đoạn hiện nay: “GDCD giữ vai trò chủ đạo trong việc giúp học sinh
1
hình thành, phát triển ý thức và hành vi của người công dân. Thông qua các bài học về
lối sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế, môn GDCD bồi dưỡng cho học sinh những phẩm
chất chủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là tình cảm, niềm tin, nhận thức, cách ứng xử
phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật, có kĩ năng sống và bản
lĩnh để học tập, làm việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp
động lĩnh hội và chiếm lĩnh tri thức, các em được tham gia vào các hoạt động để tìm ra
2
bài học cho mình và củng cố khắc sâu bài học, vận dụng được những kiến thức vào
đời sống thực tiễn. Cách học trải nghiệm khiến việc tiếp cận kiến thức vốn khô khan,
vốn xa lạ, trừu tượng trở nên dễ hiểu, dễ vận dụng và bài học trở nên nhẹ nhàng hơn.
Thông qua việc tham gia vào các hoạt động trải nghiệm, học sinh được phát huy vai
trò chủ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân.
Điểm mới của đề tài còn thể hiện ở những phương pháp cụ thể để người giáo
viên tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh. Tùy vào kiến thức của từng bài, tùy
vào từng nội dung, tùy vào điều kiện cụ thể của lớp học để người giáo viên đưa ra các
phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm phù hợp. Bởi vì trải nghiệm với những
loại hình khác nhau rất đa dạng cũng sẽ tạo ra các hoạt động vô cùng phong phú. Các
hoạt động này sẽ được tổ chức linh hoạt tùy vào tình hình thực tế của trường, lớp, đối
tượng học sinh và bài dạy chứ không phải chỉ có tổ chức ngoài trời mới được coi là
trải nghiệm. Với những môi trường không có điều kiện để tổ chức hoạt động ngoài
trời, giáo viên có thể tổ chức ngay trong phạm vi lớp học, sử dụng các phương pháp
phù hợp để tạo cho học sinh những trải nghiệm phong phú, hình thành những xúc cảm
tích cực, tạo cơ hội cho học sinh vận dụng những kiến thức đã có vào thực tiễn, tìm ra
tri thức mới, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực cũng như phát huy tiềm
năng sáng tạo của bản thân.
1.3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Dựa trên thực tiễn giảng dạy GDCD trong những năm vừa qua ở nhà trường,
bản thân tôi luôn băn khoăn, trăn trở, tìm tòi những PPDH mới để làm sao bài dạy đạt
kết quả cao, giờ học sôi nổi, học sinh học tập tích cực, phát huy được các năng lực bản
thân, biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống. Vì vậy tôi mạnh
dạn đưa ra một số phương pháp tổ chức HĐTN vào bài dạy GDCD nhằm nâng cao
hiệu quả dạy và học. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tôi chỉ minh họa
loại hình hoạt động phong phú, thu thập và xử lý thông tin từ môi trường xung quanh
để tạo thành tri thức cho bản thân, từ đó biến đổi và hoàn thiện bản thân. Trong dạy
học trải nghiệm, người thầy không chỉ đơn thuần là người truyền thụ tri thức mà sẽ trở
thành người hỗ trợ, hướng dẫn, trọng tài, cố vấn nhằm phát huy tối đa tính năng động
chủ quan của người học.
Thông qua HĐTN, học sinh thể hiện được giá trị bản thân, thiết lập các mối
quan hệ tương tác giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, cá nhân với môi
trường học, môi trường sống. Sự trải nghiệm sẽ tác động đến cả cảm xúc, ý thức và
hành động, phát huy toàn bộ năng lực hành động, sự liên kết và trách nhiệm của học
sinh đối với xã hội.
Trong học tập qua trải nghiệm, chúng ta có thể quan sát được hành vi của người
học qua cả một quá trình, đánh giá sản phẩm của quá trình học tập đó để thấy được sự
tiến bộ. Mỗi học sinh thông qua HĐTN sẽ tiếp nhận và biến đổi thông tin từ thực tế để
hình thành tri thức cá nhân. Chính việc này cũng sẽ tạo sự tương tác, gắn kết giữa
nhận thức và cảm xúc, hành vi của người học, giữa người học với người học, giữa
người học và người dạy, từ đó giá trị của mỗi cá nhân đều được thể hiện, điều chỉnh,
hình thành và cũng cố các kĩ năng để hoàn thiện bản thân.
2.2. Cơ sở thực tiễn
Trong xu hướng hiện nay, việc dạy học không chỉ còn là việc truyền thụ tri thức
đơn thuần mà nó là sự định hướng quá trình nhận thức của người học, giúp người học
tích cực, chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học, hình thành kĩ năng,
4
năng lực và ứng dụng một cách linh hoạt vào trong đời sống. Để phát huy tối đa tính
tích cực của học sinh, giáo viên phải lực chọn các PPDH tối ưu nhất cho từng bài
giảng. Ngày nay, dạy học môn GDCD là nhằm hình thành, phát triển cho học sinh các
phẩm chất đạo đức và năng lực chủ yếu của người công dân thông qua các bài học về
lối sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế, nghĩa là chuyển các giá trị văn hóa, đạo đức, các
5
Bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận giáo viên và học sinh vẫn coi đây là một
môn học phụ nên học sinh thì xem nhẹ, lơ là trong giờ học, giáo viên thì không chịu
khó đầu tư về chuyên môn. Chính vì vậy mới có thực trạng giáo viên chậm đổi mới
PPDH, chủ yếu chỉ dừng lại ở phương pháp vấn đáp hoặc thuyết trình về nội dung bài
học. Từ đó học sinh học thuộc lòng, học vẹt, không hiểu bản chất vấn đề, không phát
huy các năng lực bản thân, không biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Giờ học thì
diễn ra nặng nề, khô khan; học sinh học tập một cách uể oải, nhàm chán…
Để thay đổi thực trạng này, để nâng cao chất lượng dạy và học môn GDCD
trong trường trung học phổ thông, trong quá trình giảng dạy tôi đã áp dụng nhiều
phương pháp dạy học tích cực khác nhau trong đó đặc biệt nhất là phương pháp tổ
chức HĐTN. Đồng thời đây chính là chìa khóa thực hiện mục tiêu giáo dục hiện nay:
Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển
toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực
tiễn, học qua làm, học qua giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống ngay trong
lớp, trong trường.
2.4. Một số phƣơng pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn
Giáo dục công dân ở trƣờng trung học phổ thông
HĐTN là hoạt động giáo dục được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm cuộc sống
để học sinh trải nghiệm, do đó đòi hỏi các hình thức và phương pháp tổ chức các hoạt
động đó phải đa dạng, linh hoạt, mang tính mở, học sinh tự hoạt động, trải nghiệm là
chính.
* Phương pháp giải quyết vấn đề
Phương pháp giải quyết vấn đề là phương dạy học, trong đó giáo viên tạo ra các
tình huống mâu thuẫn, đưa học sinh vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó
hướng dẫn, khích lệ học sinh tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí
khác. Khi quyết định được phương án thích hợp là đã kết thúc việc giải quyết vấn đề.
* Phương pháp đóng vai
Phương pháp đóng vai là PPDH mà trong đó giáo viên tổ chức cho người học
thực hành, làm thử một số cách ứng xử nào đó trong mọi tình huống giả định. Phương
pháp đóng vai mang tính chất tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với
học sinh, giữa học sinh với môi trường học tập.
Đóng vai có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành và phát triển các kĩ năng giao
tiếp cho học sinh. Thông qua đóng vai, học sinh được rèn luyện, thực hành những kĩ
năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực
tiễn, tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo của các em, khích lệ thay đổi thái độ và hành
vi theo hướng tích cực trước một vấn đề hay đối tượng nào đó. Về mặt tâm lý học,
thông qua các hành vi, cá nhân nhận thức và giải quyết tốt hơn vấn đề của bản thân,
vai trò lĩnh hội được trong quá trình đóng vai cho phép học sinh thích ứng với cuộc
sống tốt hơn. Phương pháp đóng vai rất thích hợp với các môn khoa học xã hội nhằm
hình thành cho học sinh các kĩ năng xâm phập vào đời sống nội tâm của người khác,
thấu cảm và lắng nghe tâm sự của người khác cũng như kĩ năng giao tiếp, ứng xử của
học sinh.
Phương pháp đóng vai được tiến hành theo các bước nhất định bao gồm:
- Nêu tình huống đóng vai (phù hợp với chủ đề hoạt động; phải là tình huống mở;
phù hợp với trình độ học sinh).
7
- Cử nhóm chuẩn bị vai diễn (có thể chuẩn bị trước khi tiến hành hoạt động): Yêu
cầu nhóm đóng vai xây dựng kịch bản thể hiện tình huống sao cho sinh động, hấp dẫn,
mang tính sân khấu nhưng không đưa ra lời giải hay cách giải quyết tình huống. Kết
thúc đóng vai là một kết cục mở để mọi người thảo luận.
- Thảo luận sau khi đóng vai: Khi đóng vai kết thúc, người dẫn chương trình đưa
ra các câu hỏi có liên quan để học sinh thảo luận.
8
thích sự cần thiết; làm rõ khái niệm và cách thể hiện; tạo ra tình huống để luyện tập; tổ
chức cho học sinh tự nhận xét, đánh giá; yêu cầu học sinh thể hiện các kĩ năng đó
trong hoạt động.
Bước 2: Thực hiện
Giáo viên quan sát, nắm bắt thông tin ngược từ học sinh xem các nhóm có hiểu rõ
nhiệm vụ không? Có thể hiện đúng các kĩ năng làm việc nhóm không? Các vai trò thể
hiện như thế nào?
Giúp đỡ những nhóm vận hành đúng hướng và duy trì mối quan hệ phụ thuộc lẫn
nhau một cách tích cực, khuyến khích, động viên các nhóm hoặc cá nhân làm việc tốt.
Can thiệp, điều chỉnh hoạt động của nhóm khi thấy cần thiết,...
Bước 3: Đánh giá hoạt động. Ở bước này giáo viên cần
Lôi cuốn học sinh nhận xét, đánh giá về kết quả hoạt động của nhóm, mức độ
tham gia của từng thành viên. Gợi mở cho học sinh phân tích sự phối hợp hoạt động
giữa các thành viên trong nhóm, thể hiện các kĩ năng làm việc nhóm. Điều chỉnh, bổ
sung trên cơ sở đánh giá đúng sự cố gắng của từng nhóm, chú trọng phân tích những
kĩ năng làm việc nhóm mà học sinh đã thể hiện. Đưa ra kết luận gồm kết quả hoạt
động và mức độ thể hiện các kĩ năng làm việc nhóm (những gì đã làm tốt, điều gì cần
rèn luyện thêm và rèn luyện như thế nào?).
* Phương pháp dạy học dự án
Dạy học dự án là PPDH mà trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập
phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp giữa lí thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch,
thực hiện và đánh giá kết quả. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án
là những sản phẩm hoạt động có thể giới thiệu được. Đặc điểm của PPDH này là định
hướng hành động cho học sinh. Khi thực hiện, học sinh có thể thiết kế và thực hiện dự
án với sự giúp đỡ của giáo viên.
Phương pháp dạy học dự án giúp học sinh phát triển các kĩ năng điều tra gồm
Phần: Tính hai mặt của cạnh tranh
Phương pháp làm việc nhóm
Bài 5: Cung – cầu trong sản xuất và lƣu
thông hàng hóa
- Phần: Người sản xuất, kinh doanh vận - Phương pháp giải quyết vấn đề
dận dụng quan hệ cung – cầu
- Phần: Người tiêu dùng vận dụng quan hệ - Phương pháp đóng vai
cung – cầu
Bài 6: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nƣớc
Phần: Trách nhiệm của công dân đối với Phương pháp giải quyết vấn đề
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước
Bài 7: Thực hiện nền kinh tế nhiều
thành phần và tăng cƣờng vai trò quản
lí kinh tế của Nhà nƣớc
- Phần: Thành phần kinh tế tư nhân
- Phương pháp dạy học dự án
- Phần: Củng cố bài học
- Phương pháp giải quyết vấn đề
2.5. Sản phẩm minh họa trong các bài học
Bài 3: Quy luật giá trị trong sản xuất và lƣu thông hàng hóa
* Phần 1: Nội dung của quy luật giá trị
- Giáo viên sử dụng phương pháp làm việc nhóm, tạo cho các thành viên trong
lớp đều được làm việc, được bàn bạc, trao đổi và đưa ra kết luận làm rõ nội dung của
10
quy luật giá trị được biểu hiện trong sản xuất và trong lưu thông đối với một hàng hóa.
Đồng thời học sinh tự trải nghiệm vào đời sống thực tế, tự đặt mình vào hoạt động sản
có lãi cao ?
11
Thời gian thảo luận: 7 phút.
Bước 3: Tiến hành thảo luận: Học sinh trong nhóm tiến hành thảo luận, nhóm
trưởng điều hành chung, thư kí ghi lại ý kiến của các bạn trong nhóm. Sau đó nhóm
trưởng và thư kí sắp xếp, chọn lọc ý kiến và trình bày kết quả thảo luận.
Bước 4: Giáo viên tổng kết chốt lại kiến thức cơ bản làm rõ nội dung của quy
luật giá trị được biểu hiện trong sản xuất và lưu thông hàng hóa.
- Nhóm “ Sản xuất”:
1. Trường hợp (1) có thời gian lao động cá biệt = Thời gian lao động xã hội cần
thiết
Thực hiện đúng yêu cầu của quy luật giá trị
Thu được lãi bình quân.
Trường hợp (2) có thời gian lao động cá biệt < Thời gian lao động xã hội cần thiết
Thực hiện tốt yêu cầu của quy luật giá trị
Thu được lãi cao.
Trường hợp (3) có thời gian lao động cá biệt > Thời gian lao động xã hội cần thiết
Vi phạm yêu cầu của quy luật giá trị
Thua lỗ, phá sản.
2. Nếu là người sản xuất hàng hóa, để tạo ra sản phẩm có thời gian lao động cá
biệt nhỏ hơn so với thời gian lao động xã hội cần thiết chúng ta cần phải: Cải tiến kĩ
thuật; nâng cao tay nghề cho người lao động; hợp lí hóa sản xuất, thực hành tiết kiệm.
- Nhóm lưu thông:
1. Bán hàng tại điểm A: Giá cả > Giá trị
Người kinh doanh sẽ thu được lãi
lớn.
Bán hàng tại điểm B: Giá cả = Giá trị
- Các nhóm phân công nhiệm vụ cho mỗi thành viên.
- Các thành viên trong nhóm thực hiện kế hoạch đã đề ra. Khi thực hiện dự án, các
hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành, thực tiễn xen kẽ và tác động qua lại với
nhau; kết quả là tạo ra sản phẩm của dự án.
- Học sinh thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau rồi tổng hợp, phân tích và tích
lũy kiến thức thu được qua quá trình làm việc. Như vậy, các kiến thức mà người học
tích lũy được thử nghiệm qua thực tiễn.
Bước 4: Thu thập kết quả
- Kết quả thực hiện dự án được trình bày trên Power Point.
- Đại diện của nhóm trình bày kết quả của dự án.
- Sản phẩm của dự án được trình bày trong tiết học trên lớp.
Đề tài 1: Giải pháp vận dụng tác động điều tiết sản xuất của quy luật giá trị trong các
cơ sở sản xuất ở tỉnh Quảng Bình.
13
TỔ CHỨC HỘI NGHỊ ĐẦU BỜ “MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI ĐẤT TRỒNG LÚA
SANG TRỒNG RAU MÀU (KHOAI LANG) VỤ ĐÔNG XUÂN 2017 - 2018” TẠI XÃ
TÂN THỦY
Ngày 29 tháng 5 năm 2018, tại thôn Tân Hòa, xã Tân Thủy, Lệ Thủy, Quảng
Bình, Ủy ban nhân dân huyện, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm
Khuyến nông huyện đã tổ chức Hội nghị đầu bờ “Mô hình chuyển đổi đất trồng lúa
sang trồng rau màu (Khoai lang) vụ Đông – Xuân 2017 – 2018 tại Tân Thủy.
Mô hình trồng khoai lang ở Tân Hòa, Tân Hạ xã Tân Thủy được thực hiện trên diện tích 4,5
ha vốn là chân ruộng lúa kém hiệu quả, thu nhập bấp bênh, năng suất vụ Hè Thu không đạt
đến 50 tạ/ha. Sau khi trừ các chi phí lợi nhuận chỉ đạt 4,8 triệu/ha.
Tại Hội nghị, theo báo cáo thực tế của Khuyến nông huyện, năng suất khoai ở
vùng thực hiện mô hình đạt 18 tấn/ha, với giá bán 7.000 đồng/kg thì lợi nhuận thu được của
bà con đã đạt 75,57 triệu đồng.
Làm giàu từ mô hình nuôi gà thả vườn
In ài này Email
09:41, Thứ Ba, 02/01/2018 (GMT+7)
.
.
Anh Nguyễn Thanh Hải đã đầu tư 700
triệu đồng mua 1,5ha đất ở khu vực
thôn Tiền Phong để xây chuồng nuôi gà
và đào ao thả cá.
Hiện nay mỗi năm trang trại của anh
nuôi 10.000 con gà thả vườn và trên 2,5
vạn con cá rô phi, sau khi thu hoạch,
trừ mọi chi phí cho lãi từ 250-300 triệu
đồng/năm.
Lực lượng lao động chính là vợ chồng
và thuê mướn thêm 3 người.
Mô hình nuôi gà thả vườn của anh Nguyễn
Thanh Hải (Thanh Trạch, Bố Trạch)
Đề tài 2: Giải pháp vận dụng tác động điều tiết lưu thông của quy luật giá trị trong các
cửa hàng ở TP Đồng Hới.
BÁO CÁO DỰ ÁN
Giải pháp vận dụng tác động điều tiết sản lưu thông của quy
luật giá trị trong các cửa hàng ở TP Đồng Hới
Nhóm thực hiện: Tổ 3, 4 lớp 11D3
Trường THPT Đào Duy Từ. TP Đồng Hới.
phố Hà Nội và Đà
Lạt giá rẻ do nguồn
cung lớn. Các Sóp
hoa đã chuyển hoa
từ TP Hà Nội và
TP Đà Lạt về TP
Đồng Hới bán giá
cao, thu lợi nhuận
lớn.
16
Khảo sát ở Showroom
Mazda Quảng Bình:
Số 95 Đường Hữu Nghị,
Phường Nam Lý,TP Đồng
Hới, Tỉnh Quảng Bình.
Trước đây, các nhà kinh doanh
chủ yếu cung cấp xe máy.
Những năm gần đây do nhu
cầu người dân ở TP Đồng Hới
sử dụng xe ô tô ngày càng
nhiều. Vì vậy các hãng xe ô tô
nổi tiếng đã được luân chuyển
về TP Đồng Hới tiêu thụ.
Khảo sát ở chợ Đồng Hới và
Shop TRY – 41 Trần Hưng
Đạo, TP Đồng Hới
17
+ Nhóm 1: Trình bày những biểu hiện của cạnh tranh lành mạnh. Lấy ví dụ
phân tích làm rõ. Nếu sau này là chủ doanh nghiệp, các em sẽ làm gì để phát huy mặt
tích cực của cạnh tranh ?
+ Nhóm 2: Trình bày những biểu hiện của cạnh tranh không lành mạnh. Lấy ví
dụ phân tích làm rõ. Khi thấy có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, các em sẽ xử
lí như thế nào ?
Thời gian thảo luận: 5 phút.
Bước 3: Tiến hành thảo luận: Học sinh trong nhóm tiến hành thảo luận, đặc biệt
học sinh cần tự trải nghiệm, đưa bản thân vào thực tiễn đời sống để lí giải được nếu
học sinh là chủ doanh nghiệp, học sinh sẽ làm gì để phát huy mặt tích cực của cạnh
tranh; khi thấy có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, học sinh sẽ xử lí như thế
nào.
Học sinh trong nhóm trình bày ý kiến của mình, nhóm trưởng điều hành chung,
thư kí ghi lại ý kiến của các bạn trong nhóm. Sau đó nhóm trưởng và thư kí sắp xếp,
chọn lọc ý kiến, nhóm trưởng thay mặt nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm.
Bước 4: Giáo viên tổng kết chốt lại kiến thức cơ bản làm rõ mặt tích cực và mặt hạn
chế của cạnh tranh.
- Nhóm 1: Mặt tích cực của cạnh tranh: Kính thích lực lượng sản xuất, khoa học
– kĩ thuật phát triển và năng suất lao động xã hội tăng lên; khai thác tối đa mọi nguồn
lực của đất nước vào việc đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế, góp phần chủ động hội nhập quốc tế.
Ví dụ: Công ty sữa vinamilk là công ty sữa hàng đầu tại Việt Nam đã phát triển hệ
thống các trang trại chăn nuôi bò sữa chuyên nghiệp, phù hợp với các chuẩn mực quốc
tế. Với hệ thống chuồng trại chăn nuôi bò sữa được Công ty đầu tư xây dựng theo
công nghệ hiện đại nhất của thế giới. Công ty rất chú trọng đào tạo và phát triển nguồn
khen thưởng kịp thời với những phần trả lời đúng, có tính sáng tạo, có trải nghiệm vào
thực tế quá trình sản xuất kinh doanh hàng hóa trên thị trường.
Bài 5: Cung – Cầu trong sản xuất và lƣu thông hàng hóa
* Phần 3: Người sản xuất kinh doanh vận dụng quan hệ cung – cầu
Giáo viên sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề để tạo ra các tình huống mâu
thuẫn, đưa học sinh vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,
khích lệ học sinh tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái
độ độc lập.
Cách tiến hành:
Bước 1: Giáo viên đưa ra vấn đề: “ Khi biết quầy bán vải của mẹ thời gian này ế
ẩm, lượng cung vẫn còn nhiều mà nhu cầu người dân ngày càng ít do xu thế dùng hàng
may sẳn được ưa chuộng. Lan vẫn động viên mẹ cứ tiếp tục kinh doanh, không nên lo
lắng nhiều.
Em có đồng ý với lời khuyên của Lan dành cho mẹ không ? Vì sao ? Nếu em là bạn
Lan, em sẽ khuyên mẹ như thế nào ?”
Bước 2: Học sinh giải quyết tình huống theo ý kiến chủ quan.
Bước 3: Giáo viên nhận xét phần giải quyết tình huống của học sinh và kết luận
về tình huống làm rõ người sản xuất kinh doanh biết vận dụng quan hệ cung – cầu để
điều chỉnh quả trình sản xuất kinh doanh phù hợp nhằm thu lợi nhuận.
19
Lời khuyên của Lan dành cho mẹ không đúng, vì nếu tiếp tục kinh doanh vải sẽ
bị thua lỗ do nhu cầu người dân sử dụng ít. Trong trường hợp này, Lan nên khuyên mẹ
chuyển qua bán đồ may sẳn vì nhu cầu người dân cao, bán chạy hàng nên sẽ thu lợi
nhuận…
* Phần 3: Người tiêu dùng vận dụng quan hệ cung – cầu
Giáo viên sử dụng phương pháp đóng vai, tổ chức cho học sinh thực hành, làm
thử một số cách ứng xử nào đó trong mọi tình huống giả định. Phương pháp đóng vai
Giáo viên sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề để tạo ra tình huống mâu
thuẫn, đưa học sinh vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,
khích lệ học sinh tìm cách giải quyết để nắm được trách nhiệm của công dân đối với
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Cách tiến hành:
Bước 1: Giáo viên đưa ra vấn đề: “ Trong một lần tranh luận với nhau về trách
nhiệm của công dân đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bạn
Hải và bạn Long đã có quan điểm khác nhau:
Bạn Hải: Theo mình, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp lớn lao vì
vậy chỉ những người có chức vụ cao mới có trách nhiệm thực hiện được sự nghiệp
này.
Bạn Long: Tất cả mọi người dân Việt Nam trong đó có cả học sinh chúng ta đều có
trách nhiệm đối với sự nghiệp công nghiệp hoán, hiện đại hóa đất nước.
Em đồng ý với ý kiến bạn nào ? Vì sao ? ”
Bước 2: Học sinh giải quyết tình huống theo ý kiến chủ quan.
Bước 3: Giáo viên nhận xét phần giải quyết tình huống của học sinh, kết luận về
tình huống, làm rõ trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Đồng ý với ý kiến bạn Long, bác bỏ ý kiến của bạn Hải. Bởi vì, sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước là sự nghiệp của toàn dân, tất cả mọi người dân đều nổ lực
cố gắng đóng góp sức mình. Học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường phải ra sức học
tập tốt, rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt để sau này góp phần thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bài 7: Thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần và tăng cƣờng vai trò quản
lí kinh tế của Nhà nƣớc.
* Phần: Thành phần kinh tế tư nhân
Giáo viên sử dụng phương pháp dạy học dự án.
Bước 1: Chọn đề tài