PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂN TRỤ
TRƯỜNG MẪU GIÁO QUÊ MỸ THẠNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ 3 – 4 TUỔI
TỰ TIN MẠNH DẠN TRONG GIAO TIẾP
Giáo viên: Châu Thị Hồng Nhung
Lớp: Mầm
Năm học: 2017-2018
* Nhận xét đánh giá của đơn vị:
1
1
- Đề tài có yếu tố mới và sáng tạo:
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
- Đề tài sáng kiến có khả năng áp dụng:
……………………………………………………………………………………
- Đề tài có khả năng áp dụng:
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Quê Mỹ Thạnh, ngày…..tháng……năm…….
Thủ trưởng đơn vị
thành công trong cuộc sống. Chính vì thế mà việc giáo dục cho trẻ tính tự tin
mạnh dạn ngay từ bậc học mầm non là điều rất quan trọng.
Hiện nay chúng ta phải thừa nhận một điều là trẻ con ngày nay đã thông
minh hơn, hoạt bát hơn, lém lĩnh hơn. Nhưng khi cháu vào lớp học thì các cháu
không dám nói lên những điều trẻ thích, không dám mạnh dạn sinh hoạt trong
tập thể, giao tiếp với người lớn theo suy nghĩ của mình.
Đầu năm tôi được BGH phân công dạy lớp Mầm với điều kiện lớp tôi thì
đa số lần đầu tiên trẻ được đến lớp đến trường nên trẻ thiếu tự tin dẫn đến các
hoạt động của trẻ không được sôi nổi. Chính vì vậy tôi đã chọn “Một số biện
pháp giúp trẻ 3 – 4 tuổi tự tin mạnh dạn trong giao tiếp” làm đề tài nghiên cứu
cho mình tại trường Mẫu Giáo Quê Mỹ Thạnh năm học 2017 – 2018.
Trong quá trình thực hiện đề tài này trên lớp, tôi đã gặp những thuận lợi,
khó khăn sau:
1. Thuận lợi:
Ban giám hiệu luôn tạo điều kiện giúp đỡ giáo viên về chuyên môn.
Giáo viên nắm vững phương pháp, có trình độ trên chuẩn.
Luôn học hỏi và tìm tòi hiểu biết để giúp trẻ mạnh dạn tự tin thông qua
bạn bè, trẻ, đồng nghiệp và sách báo.
2. Khó khăn:
Đặc điểm sinh lý trẻ mẫu giáo bé còn chưa ổn định, trẻ chưa phát triển
nhiều về ngôn ngữ.
Nhiều trẻ còn nhút nhát, rụt rè, cá tính… không chịu tham gia vào cuộc
chơi đòi hỏi tính tập thể cao.
Sự phối kết hợp giữa phụ huynh đối với nhà trường vẫn chưa thường
3
3
3
Trẻ biết bày tỏ cảm xúc với người khác
14/29
48.3
Với những kết quả như trên, bản thân tôi nhận thấy cơ bản trẻ chưa có
tính mạnh dạn tự tin khi ở trường, số trẻ có tính mạnh dạn tự tin và thì còn ít.
II. NỘI DUNG CẦN GIẢI QUYẾT
Từ thực trạng của lớp qua nghiên cứu tìm tòi học hỏi cho thấy để dạy tốt
cho trẻ tính tự tin mạnh dạn tôi cần:
Tham khảo nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm nâng cao nghiệp vụ
chuyên môn để rèn cho trẻ tính mạnh dạn, tự tin.
Tạo môi trường thân thiện giúp trẻ thể hiện mình thông qua trò chơi và
các hoạt động lễ hội giúp trẻ thể hiện mình với cô và các bạn trong lớp.
Kết hợp với phụ huynh rèn tính mạnh dạn tự tin cho trẻ.
Quan tâm tới từng cá nhân trẻ, đặc biệt là trẻ nhút nhát thụ động.
Nêu gương bé ngoan trong ngày, trong tuần.
III. BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
1. Tham khảo nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm nâng cao nghiệp vụ
chuyên môn để rèn cho trẻ tính mạnh dạn, tự tin.
Để thực hiện tốt việc rèn luyện cho trẻ tính tự tin mạnh dạn tại lớp mình
việc đầu tiên khi thực hiện đề tài tôi cần dựa trên tình hình thực tế của nhóm lớp
khả năng nhận thức cùng đặc điểm tâm sinh lí của trẻ trong lớp để thực hiện xây
dựng kế hoạch cho mình.
4
5
5
2. Tạo môi trường thân thiện giúp trẻ thể hiện mình thông qua trò
chơi và các hoạt động lễ hội giúp trẻ thể hiện mình với cô và các bạn trong
lớp.
2.1 Thông qua trò chơi tập thể
Với trẻ mầm non mạnh dạn tự tin giao tiếp tốt trong tập thể giúp trẻ thích
nghi dễ dàng, nhanh chóng với môi trường mới, thầy cô, bạn bè mới và những
đòi hỏi mới của hoạt động học tập, ý thức và tinh thần tập thể sẽ giúp tránh được
những xung đột không đáng có giữa trẻ với nhau, giữa trẻ với thầy cô, làm nảy
sinh ở trẻ tính mạnh dạn tự tin chủ động trong giao tiếp với người khác và trên
cơ sở đó phát triển những mối quan hệ thân thiện, gần gũi, cảm thông giữa trẻ
với những người xung quanh.
Tất cả những điều này tác động một cách tích cực lên trẻ, làm cho trẻ cảm
thấy hứng thú muốn đến trường, muốn giao tiếp với cô, bạn bè và muốn họ.
VD: Trò chơi: Bạn hãy làm giống tôi
6
6
Tổ chức: Cô và trẻ ngồi thành vòng tròn. Trước tiên cô giáo nói tên của
mình (chào các bạn tôi tên là Nhung) sau đó ném bóng cho một trẻ bất kỳ. Trẻ
nhận được bóng từ cô giáo sẽ nói tên mình. Cứ như vậy cho đến khi tất cả các
trẻ nhớ tên nhau. Trẻ mạnh dạn đứng lên giới thiệu tên của mình.
8
bà mạnh khỏe”. Các bé được tập luyện những bài hát, bài thơ hay về bà và mẹ
thể hiện niềm vui niềm tự hào trên những khuôn mặt ngây thơ. Dường như các
bé cũng hiểu mình đang làm một việc tốt, ý nghĩa dành tặng cho những người
thân yêu.
3. Kết hợp với phụ huynh rèn tính mạnh dạn tự tin cho trẻ
Để góp phần nâng cao tính mạnh dạn cho trẻ nhỏ giáo viên càn biết phối
hợp chặt chẽ với phụ huynh nhằm tạo điều kiện cho trẻ có được môi trường họa
tập tốt giúp trẻ hình thành và phát triển một cách toàn diện.
Để lôi cuốn phụ huynh cùng tham gia với giáo viên trong lớp, giáo viên
cần đặc biệt quan tâm chú trọng đến công tác tuyên truyền đến phụ huynh theo
phương pháp "mưa dầm thấm lâu", với các thông điệp như:
Hãy lắng nghe trẻ nói; Thật thà trung thực khi chơi; Lỡ sai biết lỗi bé
thời đáng khen; Trao đồ lễ phép, hai tay đón nhận, điều hay bé làm; Đánh răng
súc miệng hàng ngày; Miệng thơm răng trắng đẹp thay nụ cười; Kính trọng yêu
quý ông bà; Vâng lời cô giáo thương cha mẹ mình; Bạn khóc bé lại dỗ dành,
bạn ngã lại đỡ chẳng đành đứng xem.
Có không ít phụ huynh khi gửi con đến trường mầm non yên tâm giao
trọng trách giáo dục trẻ cho nhà trường cho cô giáo mà quên rằng vai trò của cha
mẹ là vô cùng quan trọng trong việc phối hợp với nhà trường giáo dục con,
bởi “Cha mẹ là những người thầy đầu tiên của bé” ngay cả khi giao bé cho
những cô giáo mầm non vai trò của cha mẹ cũng không hề mờ nhạt đi. Cha mẹ
cần đi cùng với con suốt quãng đường đời mà những năm tháng tuổi thơ sẽ tạo
nên một nền tảng vững chắc cho bé khi trưởng thành.
Xác định được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà
trường ngay từ đầu năm học khi mới đón trẻ vào lớp chúng tôi luôn tiếp xúc phụ
huynh với một thái độ tích cực, thân thiện, mạnh dạn trao đổi cụ thể với phụ
thường buồn và không tham gia được các hoạt động học tập chung. Để giúp các
bé mạnh dạn, thích đi học đến lớp, chúng tôi lôi cuốn bé vào các hoạt động tập
thể, khéo léo gợi ý những bé mạnh dạn tự tin như: Bảo Thy, Cát Tường… đến
kết bạn, tạo cho các bé nhiều cơ hội mạnh dạn tự tin giao tiếp với các bạn, như
cùng vẽ tranh, nặn quả, làm đồ chơi…dần dần các bé đã quen hơn với môi
10
10
trường tập thể và thích đi học. Bây giờ bé Hải Lâm, Quỳnh Anh… được cô giáo
và các bạn rất yêu quý vì bé rất ngoan, đã mạnh dạn tự tin giao tiếp với bạn bè
và còn hát hay, múa dẻo, thích được biểu diễn văn nghệ nữa.
Còn đối với những trẻ mạnh dạn, tự tin, có năng khiếu nghệ thuật, tôi luôn
tìm cách tạo cơ hội cho trẻ được thể hiện hết mình vào các hoạt động như: tổ
chương trình văn nghệ tổng hợp biểu diễn vào cuối mỗi chủ đề.
Tìm được cho mình biện pháp rèn cho các bé trong lớp mạnh dạn tự tin
hơn trong các tiết học cũng như trong các hoạt động khi đến trường. Tôi luôn tạo
nhiều cơ hội cho các em được nói được làm và được chia sẻ mọi lúc mọi nơi khi
đến trường.
5. Nêu gương bé ngoan trong ngày, trong tuần
Để tạo hứng thú cho trẻ thì nên khen trẻ hơn là chê bằng cách nêu gương
trẻ trước lớp. Vì nếu cô giáo chê việc gì trẻ làm thì tự nhiên trẻ sẽ không còn tự
tin để làm công việc đó nữa.
Giúp trẻ nhút nhát thụ động, mạnh dạn hơn với mọi hoạt động trong ngày.
Bản thân trẻ rất thích được khen và quan tâm tới: “Bảng bé ngoan”, “Cờ bé
ngoan” khi trẻ được lên cắm cờ trẻ sẽ rất phấn khởi, tự hào với các bạn bè, mong
chờ được khoe với cha mẹ vào mỗi buổi chiều, báo cáo lại kết quả vì sao mình
được lên cắm cờ cho cha mẹ biết. Từ đó tôi đã dần tạo cho trẻ tính mạnh dạn tự
tin trong giao tiếp với bạn bè, biết giúp đỡ cô, biết làm việc tốt với bản thân và
giao tiếp với mọi người với các bạn trong lớp.
Và 96.6% trẻ biết cách bày tỏ cảm xúc của mình với mọi người. Cảm thấy
mình tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người xung quanh.
Qua đánh giá trẻ kết quả cho thấy:
Đầu năm
STT
Tính mạnh dạn
tự tin
Số trẻ
Đạt
1
Trẻ dám làm điều mình nghĩ
13/29
Tỉ
lệ
(%)
44.
Cuối năm
Số trẻ
Đạt
28/29
Tỉ
28/29
96.6
Từ những thực tế áp dụng các biện pháp đã thực hiện thường xuyên trên
trẻ với kết quả đã đạt được. Tôi thấy giờ đây các bé đều rất vui vẻ tự tin khi đến
lớp, thân thiết nhau hơn, không những thế các bé còn mạnh dạn giao lưu với cô
giáo và bạn bè, người thân. Và giờ đây với các bé “Mỗi ngày đến trường là một
ngày vui” là điều thật sự.
* Đối với giáo viên:
Giáo viên linh hoạt, sáng tạo hơn trong việc tổ chức các hoạt động cho trẻ.
Đồng thời tạo được sự thân thiện, gần gũi với trẻ vừa là người hướng dẫn
vừa là bạn chơi của trẻ.
Hiểu được tâm lý của trẻ, tạo được cảm giác gần gũi, an toàn, cởi mở,
thân thiện với trẻ và và lòng tin yêu của phụ huynh.
Nắm chắc kỹ năng sư phạm trong việc rèn tính mạnh dạn tự tin cho trẻ.
Được nhà trường, đồng nghiệp đánh giá cao trong công tác rèn tính mạnh
dạn tự tin cho trẻ.
* Đối với phụ huynh:
Phụ huynh rất phấn khởi và quan tâm hơn khi thấy con mình tự tin mạnh
dạn trong mọi hoạt động ở trường cũng như ở nhà. Đồng thời cảm thấy an tâm
hơn khi đưa trẻ đến với lớp với trường trong vòng tay bạn bè, cô giáo.
V. KẾT LUẬN
1. Tóm lượt giải pháp:
Là một giáo viên mầm non tôi cần nhận thức sâu sắc tầm quan trọng và
vai trò trách nhiệm với cái tên người mẹ thứ hai của trẻ, thật sự yêu mến trẻ,
nhiệt tình và say mê với công việc, có tấm lòng yêu thương trẻ thực sự. Tôi đã
không ngừng học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện bản thân trở thành tấm
13
14
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG
I. QUI ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC:
- Viết trên mặt khổ giấy 21 x 33, đánh máy hoặc viết tay. Nếu thiếu giấy trong
mẫu thì gắn thêm giấy vào cần viết thêm.
- Phải ghi đầy đủ tên đề tài, họ tên, tháng năm hoàn thành vào chỗ quy định.
II. TRÌNH TỰ CỦA BÀI VIẾT:
1. Theo trình tự gợi ý, có thể thêm các phần khác nhau nhưng không được thiếu
các phần như trong trình tự đã nêu.
2. Lưu ý ở các mục như sau:
Mục I:
Thực trạng đề tài
Mục II:
(1) Miêu tả, thống kê số liệu của thực tế trước khi áp dụng kinh nghiệm, SKKN.
(2) Từ thực tế rút ra điều gì phải làm
(3) Miêu tả tiến trình thực hiện, các giải pháp, kinh nghiệm, SKKN
(Nêu rõ các phương pháp thực hiện đề tài).
(4) Đánh giá kết quả đạt được: Thống kê số liệu cụ thể (nếu có). Có mặt diễn đạt
của đối tượng.
Mục III:
(1) Tóm lược giải pháp, đút rút kinh nghiệm đã nêu (rõ ràng, dễ hiểu,…) Có thể
nêu lên về mặt lý luận.
(2) Giá trị của kinh nghiệm, SKKN áp dụng ở đâu? Đối tượng nào?
(3) Nêu những kiến nghị là những yêu cầu tối thiểu để hổ trợ cho việc thực hiện
kinh nghiệm, SKKN đã nêu.
III. GỢI Ý CÁCH CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Loại đề tài mang tính chất chung: Giáo dục đạo đức cho học sinh. Giáo dục
học sinh cá biệt. Rèn luyện học sinh yếu; Bồi dưỡng học sinh giỏi, Quản lý lao
ĐT, Sở GD&ĐT (có biên bản chung và lời nhận xét đánh giá trên từng sáng kiến
kinh nghiệm ở trang 2).
(2) Dựa vào hình thức và nội dung bài viết, các bài viết (kinh nghiệm, SKKN)
được đánh giá xếp loại như sau:
* LOẠI A:
+ Hình thức: Đảm bảo theo đúng mẫu qui định.
+ Nội dung: Là những sáng kiến giải quyết những vấn đề đường lối, quan điểm
giáo dục, đảm bảo tính khoa học, có những biện pháp cụ thể, thiết thực, sát
đúng, có hiệu quả rõ rệt, có thể phổ biến cho ngành áp dụng rộng rãi trong tỉnh
và có thể từ đó rút ra được một số vấn đề về lý luận giáo dục.
* LOẠI B:
+ Hình thức: Đảm bảo theo đúng mẫu qui định.
+ Nội dung: Là những sáng kiến chưa đạt loại A nhưng cao hơn loại C.
* LOẠI C:
+ Hình thức: Đảm bảo theo đúng mẫu qui định.
+ Nội dung: Là những sáng kiến bình thường giải quyết giải quyết được một số
vấn đề cần thiết với những biện pháp cụ thể, đạt kết quả vừa phải, có thể phổ
biến trong phạm vi trường học hoặc huyện, không phổ biến được trong tỉnh.
* KHÔNG XẾP LOẠI:
16
16
- Những sáng kiến không đạt yêu cầu:
+ Sai quan điểm, đường lối, phương pháp giáo dục.
+ Sáng kiến kinh nghiệm không có hiệu quả.
+ Sáng kiến kinh nghiệm không có tính khả thi.
+ Loại bài viết không phải là sáng kiến kinh nghiệm.
+ Loại bài viết sao chép từ tài liệu đã có.