VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƢU XUÂN LƠ
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ CAI NGHIỆN MA TÚY
TẠI CÁC CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ METHADONE Ở THÀNH PHỐ
LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 8.76.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN:
TS. TIÊU THỊ MINH HƢƠNG
HÀ NỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân tôi, chưa được công bố trong bất kỳ chương trình nghiên cứu nào trước
đây. Các số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn hoàn toàn hợp lệ và
đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.
Tác giả
Lƣu Xuân Lơ
CNMT
Cai nghiện ma túy
CSĐT
Cơ sở điều trị
CTXH
Công tác xã hội
NNMT
Sử dụng ma túy
NVCTXH
Nhân viên Công tác xã hội
Từ viết tắt
Dịch nghĩa
TVV
Tham vấn viên
UBND
2.1. Trên thế giới
Trong nghiên cứu “Kiến thức và nhận thức của nhân viên công tác xã hội
về hiệu quả và khả năng chấp nhận điều trị hỗ trợ bằng thuốc trong điều trị rối
loạn sử dụng chất” [16] của tiến sĩ Brian E.Bride và các cộng sự đã điều tra
kiến thức của nhân viên xã hội, nhận thức của họ về hiệu quả và khả năng
chấp nhận điều trị hỗ trợ bằng thuốc (gọi tắt là MAT) trong các trung tâm
điều trị rối loạn sử dụng chất gây nghiện dựa vào cộng động tại Mỹ (gọi tắt là
SUD). Theo nghiên cứu, điều trị duy trì bằng Methadone là một trong những
lựa chọn điều trị được sử dụng thường xuyên nhất cho sự lệ thuộc thuốc phiện
do chi phí thấp và hiệu quả đã được chứng minh trong việc giảm sử dụng ma
túy, các hành vi tội phạm, tỷ lệ nhiễm HIV và phục hồi chức năng nên đa
phần các nhân viên CTXH nắm được các kiến thức về hiệu quả của
Methadone, trong khi tỷ lệ này với naltrexone và buprenorphin. Nghiên cứu
cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của việc tiếp xúc với MAT của nhân viên xã
hội để họ có khả năng phát triển một nền tảng kiến thức liên quan đến hiệu
quả của thuốc hỗ trợ, nghiên cứu nhấn mạnh nhận thức của nhân viên xã hội
sẽ ảnh hưởng tới việc chấp nhận điều trị hỗ trợ thuốc của những người nghiện
ma túy tại các SUD. Tuy nhiên, nghiên cứu này tác giả chưa đưa ra các kết
quả các hoạt động của nhân viên xã hội tại các SUD trong việc tham vấn cho
người nghiện ma túy chấp nhận điều trị bằng thuốc hỗ trợ.
Trong nghiên cứu “Kết quả thực hành điều trị Methadone cho người
nghiện thuốc phiện được điều trị tại các phòng khám ma túy trong thực tế nói
chung: kết quả từ Nghiên cứu Kết quả Điều trị Quốc gia” [20] của M Gossop,
J Marsden, D Stewart, P Lehmann và J Strang đã trình bày kết quả điều trị sáu
tháng cho những NNMT được điều trị bằng Methadone tại cộng đồng trong
phòng khám chuyên khoa hoặc phòng khám đa khoa tại Vương quốc Anh.
Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra những cải thiện của người điều trị trong các
vấn đề liên quan đến thuốc, sức khỏe và chức năng xã hội. Kết quả này đã
nghiện và quan điểm về việc giải quyết chính trong thực tiễn. Tác giả chỉ ra
rằng việc ngăn ngừa hành vi nghiện ma túy và quá trình cai nghiện ma túy ở
thanh niên cần phải kết hợp giữa tri thức và các biện pháp của tâm lý học.
Mặc dù nghiên cứu này nhấn mạnh đến vai trò của tâm lý học trong trợ giúp
4
thanh niên nghiện ma túy nhưng chưa được làm rõ vai trò của tham vấn tâm
lý đối với thanh niên.
Một trong những giáo trình dạy về CTXH với người nghiện ma túy là
“Giáo trình Tham vấn Điều trị nghiện ma túy” [8] của tác giả Bùi Thị Xuân
Mai và các cộng sự. Tài liệu như là cầm tay chỉ việc cho những nhà tham vấn,
với việc cung cấp gần như đầy đủ các kiến thức, kỹ năng cùng các ví dụ minh
họa, lời khuyên trong những tình huống thực tế gặp phải trong quá trình can
thiệp, trợ giúp người nghiện ma túy. Đối với từng nhóm nghiện ma túy khác
nhau sẽ có những cách tham vấn cụ thể, các vai trò của CTXH và các hoạt
động của nhân viên CTXH đều được giáo trình đề cập tới. Có thể nói đây là
một công trình nền tảng đối với nhân viên CTXH làm việc trong lĩnh vực hỗ
trợ cai nghiện ma túy. Trên cơ sở này, tác giả đã thực tiễn hóa vào đề tài
nghiên cứu của mình các hoạt động của CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy
tại các CSĐT Methadone.
Trong nghiên cứu “Các yếu tố liên quan đến NNMT ra khỏi chương
trình điều trị nghiện bằng Methadone tại Tp Hồ Chí Minh, 2015 – 2017”[1]
của tác giả Đỗ Văn Dũng và cộng sự đã xác định được tỷ lệ người bỏ trị
Methadone tại các CSĐT Methadone trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh,
đồng thời tìm hiểu một số nguyên nhân NNMT bỏ trị và xác định các yếu tố
liên quan đến việc ra khỏi chương trình. Trong đó có nguyên nhân NNMT
thiếu hiểu biết về chương trình điều trị, thiếu sự tham vấn trong quá trình điều
trị chiếm tỷ lệ khá cao. Qua nghiên cứu có thể thấy rằng, việc tham vấn cho
Methadone (Nghiên cứu tại cơ sở điều trị methadone quận Nam Từ Liêm)”
[7]đã chỉ ra một số vai trò của nhân viên CTXH trong quá trình trợ giúp người
nghiện đang tham gia chương trình điều trị nghiện thay thế bằng thuốc
Methadone, cùng với phân tích các hoạt động hỗ trợ người nghiện ma túy
đang tham gia chương trình Methadone tại quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Tuy
nhiên, những đánh giá của nghiên cứu vẫn mang tính chủ quan của tác giả khi
nghiên cứu người nghiện ở vùng đô thị.
Qua quá trình tổng quan tài liệu cho thấy, đã có nhiều công trình nghiên
cứu về chủ đề CTXH đối với người nghiện ma túy ở trên thế giới và Việt
Nam, những năm gần đây người nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone đã
dần được quan tâm hơn. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu tập trung về đánh
6
giá chương trình điều trị Methadone, đánh giá về tuân thủ điều trị trong
chương trình Methadone, hoặc sự cải thiện của người nghiện sau khi tham gia
điều trị Methadone; còn rất ít nghiên cứu đánh giá CTXH trong hỗ trợ cai
nghiện ma túy tại các cơ sở điều trị Methadone. Chính vì vậy, nghiên cứu này
thực hiện nhằm tìm hiểu sâu hơn về lý luận cũng như đưa ra kết quả hoạt
động CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT methadone ở TP
Lào Cai, tỉnh Lào Cai với đặc thù là tỉnh miền núi với nhiều cửa khẩu quốc tế
và người nghiện có một phần không nhỏ là người dân tộc thiểu số tham gia
điều trị Methadone, người nghiện di biên động lớn... Trên cơ sở đó, đánh giá
và khuyến nghị cải thiện hiệu quả CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại
các CSĐT Methadone thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đánh giá thực trạng CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các
Cơ sở điều trị Methadone và một số yếu tố ảnh hưởng. Trên cơ sở đó, đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao, cải thiện hoạt động Công tác xã hội trong hỗ
CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone và các yếu tố
ảnh hưởng, cụ thể: Hoạt động tham vấn tâm lý, hoạt động hỗ trợ vay vốn, việc
làm, hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức, hoạt động kết nối dịch vụ,
nguồn lực, hoạt động biện hộ, vận động chính sách và đánh giá các yếu tố ảnh
hưởng đến CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone.
Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTXH trong
hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ thực trạng CTXH trong
hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone và đánh giá một số yếu tố
ảnh hưởng tới CTXH trong hỗ trợ cai nghiện tại các CSĐT Methadone ở
thành phố Lào Cai, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã
hội trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các CSĐT Methadone ở Tp Lào Cai.
8
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: Nghiên cứu hệ thống những
lý thuyết có liên quan trực tiếp tới đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như
công tác xã hội cá nhân, CTXH nhóm, phát triển cộng đồng, quản lý trường
hợp trong hỗ trợ cai nghiện ma túy; hệ thống chính sách xã hội đối với người
cai nghiện ma túy và NNMT điều trị bằng thuốc Methadone; Chủ trương đổi
mới công tác cai nghiện ma túy trong tình hình mới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, tôi chủ yểu yếu sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu
Sử dụng phương pháp này để thu thập thông tin từ các nguồn như: các
văn bản pháp luật, báo cáo, tạp chí, sách tham khảo, báo cáo khoa học… để
Sử dụng các thuật toán để xử lý số liệu, kết quả khảo sát bằng thống kê
toán học; tóm tắt, tổng hợp dữ liệu và trình bày dữ liệu dưới dạng biểu bảng;
Phân tích dữ liệu, tính toán các tham số thống kê và diễn giải kết quả.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Đề tài khái quát hóa các lý luận về CTXH, ma túy,
nghiện ma túy, người nghiện ma túy, cai nghiện ma túy, điều trị nghiện bằng
thuốc thay thế (Methadone)… trên cơ sở đó khái niệm về Công tác xã hội
trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài nghiên cứu là một trong số ít các nghiên cứu
về CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy tại các Cơ sở điều trị Methadone ở
Tp Lào Cai. Hiện nay chủ trương đổi mới công tác cai nghiện đang được đẩy
mạnh thực hiện, đặc biệt là việc nâng cấp các CSĐT Methadone thành các
CSĐT đa chức năng theo quy hoạch mạng lưới cơ sở cai nghiện ma túy đến
năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã được phê duyệt tại Quyết định số
1640/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 18 tháng 8 năm 2016 thì việc
đánh giá, xem xét hiệu quả CTXH trong hỗ trợ cai nghiện ma túy là một việc
làm rất quan trọng và cần thiết để được nhận một vai trò xứng đáng trong
tương lai.
10
Ngoài ra, các kết quả của đề tài có thể là tài liệu tham khảo đối với người
làm công tác cai nghiện ma túy hoặc hỗ trợ người nghiện ma túy như gia đình
người SDMT, nhân viên các CSĐT nghiện ma túy.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu, Danh mục từ
viêt tắt, các Phụ lục thì luận văn gồm có 3 chương sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về Công tác xã hội trong hỗ trợ cai nghiện ma
túy tại các Cơ sở điều trị Methadone
Trước hết, cần phải hiểu rằng thuật ngữ nghiện không chỉ đề cập đến sự
phụ thuộc vào các chất ma túy như là heroin hay cocaine. Theo Angres DH,
Bettinardi-Angres K có nói rằng Nghiện là sự lặp lại liên tục của một hành vi
bất chấp hậu quả xấu hoặc theo American Society for Addiction Medicine
(2012) có nói về nghiện là sự rối loạn thần kinh để dẫn đến những hành vi bất
chấp hậu quả. [14]
Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về lạm dụng ma túy (NIDA) cho rằng
nghiện là hình thức nghiêm trọng nhất của một loạt các rối loạn sử dụng chất
gây nghiện, và là một bệnh nội khoa do lạm dụng nhiều lần một chất hoặc các
chất. NIDA sử dụng thuật ngữ Nghiện như sau: “Nghiện là một rối loạn mãn
tính, tái phát đặc trưng bởi tìm kiếm ma túy bắt buộc, tiếp tục sử dụng bất
chấp hậu quả có hại và những thay đổi lâu dài trong não[23].
Định nghĩa về nghiện ma túy trên thế giới cũng như Việt Nam đã có
nhiều quan điểm. Theo tổ chức Mayo Clinic, nghiện ma túy được định nghĩa
như sau: “Nghiện ma túy còn được gọi là rối loạn sử dụng chất gây nghiện, là
một bệnh ảnh hưởng đến não và hành vi của một người và dẫn đến việc không
thể kiểm soát việc sử dụng thuốc hoặc thuốc hợp pháp hoặc bất hợp
pháp. Các chất như rượu, cần sa và nicotine cũng được coi là ma túy. Khi
bạn nghiện, bạn có thể tiếp tục sử dụng thuốc bất chấp tác hại của nó.”
14
Quan điểm mới về nghiện cho rằng: Nghiện là một bệnh tái phát mạn
tính của bộ não và tái phát như các loại bệnh tiểu đường, hen, viêm khớp và
tim mạch.
Trên cơ sở những luận điểm trên, có thể hiểu về nghiện ma túy là là sự
phụ thuộc (hoặc lệ thuộc) của con người vào các chất ma túy, việc đưa một
lượng ma túy nhất định vào cơ thể là một nhu cầu thường xuyên và bắt buộc,
nó luôn có xu hướng tăng dần liều sử dụng, khi ngừng sử dụng hoặc giảm
đáng kể liều lượng sẽ xuất hiện hội chứng cai rất khó chịu, thúc ép con ngưởi
nhà tù. Người nghiện ma túy cũng có xu hướng gặp các vấn đề sức khỏe mãn
tính khác, như viêm gan hay nghiêm trọng hơn là HIV. Có quan điểm cho
rằng, con người là tổng hòa của 3 yếu tố quan trọng là: Sinh lý, tâm lý và xã
hội. Một người nghiện ma túy thì cả 3 yêu tố trên đều bị ảnh hưởng.
Nếu xem xét con người là một sự tổng hòa của thể chất, tâm lý và xã hội.
Phần lớn người nghiện ma túy bị tổn thương ở cả ba phương diện trên. Cụ
thể:
Về sinh lý - thể chất: Người sử dụng ma túy sẽ bị suy giảm sức khỏe,
mắc các bệnh như là Viêm gan B, viêm gan C và chiếm đa số trong những
người nhiễm HIV/AIDS là người sử dụng ma túy.
Về tâm lý: Người nghiện ma túy thường có tâm trạng thất thường (lo
âu/trầm cảm, lo lắng về tương lai/hoảng loạn); đôi khi khó hoặc thậm chí
không có khả năng để thích ứng với những căng thẳng hoặc cơn giận giữ; có
một số người còn có tâm lý sợ hãi bị trả thù, bị truy sát, bị ngược đãi; hoang
tưởng, ảo giác; dễ rơi vào trầm cảm và tăng nguy cơ tự hủy hoại bản thân/tự
tử.
Về xã hội: Một số người sử dụng ma túy cho biết rằng họ rất tự ti về bản
thân mình, ngại không dám giao lưu với những người không sử dụng ma túy
và nhiều người nghiện ma túy bị gia đình, bạn bè xa lánh, cộng đồng xung
quanh kỳ thị, nhiều người do sử dụng ma túy mà bị mất công việc, vợ chồng
ly hôn…
Cuộc sống của một người nghiện ma túy có xu hướng “xoắn ốc” xuống
cho đến khi tình trạng nghiện ma túy nghiêm trọng khiến người nghiện chạm
“đáy”. Đó là khi cuộc sống của người nghiện trở nên tồi tệ, họ không cảm
thấy nó có thể trở nên tồi tệ hơn. Thông thường, chỉ đến lúc này, những người
nghiện ma túy mới cân nhắc nghiêm túc việc điều trị nghiện ma túy của mình.
1.1.4. Khái niệm cai nghiện ma túy
1.1.4.1.
ngoại nhập[11].
Như vậy, có thể hiểu về cai nghiện ma túy là việc giúp người nghiện
không bị lệ thuộc vào CDTP, giảm tác hại, tái phục hồi chức năng thể chất,
tâm lý và xã hội; xây dựng lối sống không cần chất gây nghiện. Có sự tham
gia tích cực của toàn xã hội, kế hoạch điều trị hợp lý, kết hợp chặt chẽ giữa
thầy thuốc, gia đình và cộng đồng.
17
Dù vậy, chúng ta cần biết rằng khi đã hồi phục hay “cai nghiện thành
công”, tình trạng tái nghiện là khá phổ biến, nhưng điều này không phải là
điều trị thất bại. Mặc dù tái nghiện là điều không được khuyến khích, nhưng
không nên coi đó là một thất bại. Bởi vì, cai nghiện ma túy là một quá trình
suốt đời và “trượt” là bình thường.
1.1.4.2. Một số biện pháp cai nghiện ma túy
Các phương pháp cai nghiện ma túy ngày nay rất đa dạng, cùng với sự
phát triển của nền khoa học, hiệu quả đã ngày càng được nâng cao.
Trên thế giới, có một số biện pháp cai nghiện ma túy đã được chứng
nhận bởi Viện lạm dụng ma túy (Mỹ) [824]:
Trị liệu hành vi nhận thức (CBT) - giải quyết các hành vi liên quan
đến nghiện bằng cách xác định chúng và học các kỹ năng để sửa đổi
chúng. Tự nhận thức và tự kiểm soát là điều quan trọng trong biện pháp này.
Phƣơng pháp tiếp cận củng cố cộng đồng (CRA) - tập trung vào
năng người nghiện tham gia cai nghiện và tham gia vào các nhóm 12
bước. Ba khía cạnh chính của loại tham vấn nghiện ma túy này là: chấp nhận
việc nghiện ma túy; chấp nhận chính mình với một sức mạnh cao hơn; tham
gia tích cực vào các hoạt động 12 bước.
Tại Việt Nam, có thể phân loại các phương pháp cai nghiện ma túy thành
2 nhóm là cai nghiện có dùng thuốc và cai nghiện không dùng thuốc. Trong
Đề tài giới thiệu một số biện pháp cai nghiện phổ biên hiện nay, cụ thể như
sau:
Nhóm các phương pháp cai nghiện không dùng thuốc
-
Phương pháp cai khô hay cách gọi khác là cai chay, cai bo hay cắt
ngang, bằng cách cô lập NNMT, không cho tiếp xúc với môi trường bên
ngoài, ngừng hoàn toàn việc sử dụng các chất ma túy. Sau thời gian khoảng 710 ngày các hội chưng cai sẽ giảm dần và mất đi, nhưng di chứng kéo dài 2-3
tháng, người cai nghiện mệt mỏi, mất ngủ, đau nhức cơ xương kéo dài hàng
tháng.
-
Phương pháp phẫu thuật thùy trán: Đã có một số trường hợp ở Trung
Quốc thực hiện thành công. Theo đó, người bệnh sẽ được tiến hành phẫu
thuật nhằm phá hủy một số điểm ở thùy trán của não liên quan đến đoạn trí
nhớ về cảm giác thèm muốn ma túy, làm cho người bệnh không còn cảm thấy
cần ma túy nữa. Tuy nhiên biện pháp này vẫn còn nhiều nhược điểm như chi
phí cao, người bệnh sau phẫu thuật thường bị ảnh hưởng tới phân biệt phương
-
Dùng các thuốc hướng tâm thần: Phương pháp này đã được Bộ Y tế
ban hành và áp dụng từ năm 1995, bằng cách dùng các thuốc giải lo âu, thuốc
an thần kinh, các thuốc chống trầm cảm cắt cơn trong vòng 7- 10 ngày.
-
Dùng thuốc Đông y: Các loại thuốc Đông y có nguồn gốc từ thảo
dược, an toàn, ít độc và ít tác dụng phụ, có hiệu lực trong hỗ trợ cắt cơn
nghiện ma túy, quá trình cắt cơn êm dịu, thuốc có khả năng bình ổn các triệu
chứng của hội chứng cai, như là triệu chứng dị cảm và thèm ma túy. Thuốc
đông y mới được nghiên cứu thành công gần đây có tên khoa học là
CEDEMEX đã có kết quả thử nghiệm lâm sàn khá tốt và đang được xem xét
mở rộng trong thời gian sắp tới.
1.1.5. Khái niệm về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng
thuốc thay thế Methadone
Theo Bộ y tế, các chất dạng thuốc phiện như thuốc phiện, morphin,
heroin là những chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh); thời gian tác
dụng nhanh nên người bệnh nhanh chóng xuất hiện triệu chứng nhiễm độc hệ
thần kinh trung ương; thời gian bán hủy ngắn do đó phải sử dụng nhiều lần
trong ngày và nếu không sử dụng lại sẽ bị hội chứng cai [3].
Cũng theo Bộ Y tế, Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược
lý tương tự như các CDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ
thần kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán
huỷ dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để
20