ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THẾ ANH
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THẾ ANH
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HIỀN PHƢƠNG
HÀ NỘI - 2018
Mặc dù bản thân tôi đã rất nỗ lực song luận văn không tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô và quý
độc giả.
Trân trọng./.
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thế Anh
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO HIỂM Y TẾ VÀ QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ......................7
1.1.
Một số vấn đề về bảo hiểm y tế .................................................................7
1.1.1. Định nghĩa bảo hiểm y tế..............................................................................7
1.1.2. Các đặc điểm của bảo hiểm y tế .................................................................11
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm y tế ............................................................................13
1.2.
Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm y tế............................16
2.3.2. Về thực hiện chế độ hƣởng bảo hiểm y tế .................................................57
2.3.3. Công tác thu, chi và quản lý quỹ bảo hiểm y tế ........................................61
2.3.4. Xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp bảo hiểm y tế.............64
2.3.5. Những kết quả và hạn chế trong việc thực hiện pháp luật bảo hiểm y
tế ở tỉnh Lai Châu ........................................................................................65
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .......................................................................................73
Chƣơng 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO
HIỂM Y TẾ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU ..................................................................74
3.1.
Một số định hƣớng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm y tế ................74
3.1.1. Từng bƣớc mở rộng chính sách hỗ trợ của nhà nƣớc đối với ngƣời
yếu thế, lao động trong khu vực phi chính thức.................................. 74
3.1.2. Hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm và giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực bảo hiểm y tế ....................................................... 75
3.2.
Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm y tế ....................77
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về chế độ hƣởng bảo hiểm y tế.......... 77
3.2.2. Điều chỉnh mức đóng bảo hiểm y tế nhằm nâng cao quyền lợi
hƣởng và đảm bảo phát triển quỹ bảo hiểm y tế an toàn, bền vững ... 79
3.3.
Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo
hiểm y tế ở tỉnh Lai Châu ........................................................................80
3.3.1. Tăng cƣờng giáo dục, tuyên truyền pháp luật bảo hiểm y tế ...................80
KCB
Khám, chữa bệnh
NSNN
Ngân sách nhà nƣớc
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên bảng, biểu đồ
Trang
Bảng 2.1.
Tình hình thu quỹ BHYT giai đoạn 2013-2017 tại
tỉnh Lai Châu
62
Tình hình kiểm tra, thanh tra BHYT giai đoạn 20132017 tại tỉnh Lai Châu
nhƣ: ốm đau, bệnh tật. Rủi ro về sức khỏe không chỉ làm ảnh hƣởng đến khả
năng lao động mà còn khiến ngƣời lao động phải mất thời gian, tiền bạc để
điều trị, khắc phục, thậm chí còn ảnh hƣởng đến cuộc sống của những ngƣời
thân, ngƣời phụ thuộc họ. Đặc biệt là đối với những ngƣời có điều kiện kinh tế
khó khăn, hoàn cảnh éo le, khi rơi vào hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật, họ cần sự
tƣơng trợ của cộng đồng để khắc phục khó khăn, vƣợt qua rủi ro về sức khỏe.
Đƣợc ra đời vào cuối thế kỷ XIX, bảo hiểm y tế ngày càng phát triển và cho
đến nay đã trở thành chính sách an sinh xã hội quan trọng ở các quốc gia, giúp
đỡ và tạo ra sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ cho ngƣời dân.
Tại Việt Nam, bảo hiểm y tế là một trong những chính sách an sinh xã
hội quan trọng, thể hiện đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng và chính sách, pháp
luật của Nhà nƣớc về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân với mục tiêu vì
con ngƣời, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, ổn định và nâng cao chất
lƣợng cuộc sống của nhân dân. Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 07/09/2009 của
Ban Bí thƣ Trung ƣơng về Đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới
nhấn mạnh: “BHYT là một chính sách xã hội quan trọng, mang ý nghĩa nhân
đạo và có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, được Đảng và Nhà nước ta hết sức
coi trọng và luôn luôn đề cao trong hệ thống chính sách an sinh xã hội” [30].
Pháp luật về bảo hiểm y tế nƣớc ta đã đƣợc xây dựng và nhiều lần đƣợc sửa
đổi, bổ sung theo hƣớng ngày càng hoàn thiện hơn. Ngày 29/03/2013, Thủ
1
tƣớng Chính phủ ký Quyết định số 538/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thực hiện lộ
trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020. Mục tiêu của đề
án là mở rộng phạm vi bao phủ của BHYT tiến tới BHYT toàn dân nhằm
chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hƣớng công bằng, hiệu quả, chất lƣợng và
phát triển bền vững. Đây đƣợc xem là sự cam kết chính trị mạnh mẽ trong
chính sách “bảo đảm an sinh xã hội” và là một trong những nhiệm vụ chiến
Bình; bài viết “Nhìn lại một số quy định mới sau khi Luật bảo hiểm y tế đi
vào cuộc sống” của tác giả Phạm Văn Chung, đăng trên Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật số 12/2009; bài viết “Tiến tới bảo hiểm y tế bắt buộc toàn dân”
đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội số 5A và 5B năm 2010 của PGS.TS Đào
Văn Dũng, Ban Tuyên giáo Trung ƣơng; bài viết “Tăng cường quản lý nhà
nước hướng tới mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân” của tác giả Nguyễn Huy
Quang trên Tạp chí Quản lí nhà nƣớc số 182 (2011); loạt bài: “Chính sách
bảo hiểm y tế - thắp sáng những niềm tin” của Thái Dƣơng, “Bảo hiểm y tế
tạo ra nguồn lực phát triển y tế cơ sở” của Lê Công Minh Đức, “Thực hiện
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế qua lăng kính giám
sát” của Nguyễn Đức Thụ, “Bảo hiểm y tế Việt Nam – Mô hình có nhiều kinh
nghiệm tốt trong tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế” của tác giả Hải Hồng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội năm 2015; bài viết:
“Chuyển biến tích cực trên lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân” của tác giả Lê
Thị Thu Hạnh, “Bảo hiểm y tế toàn dân – Giải pháp giúp người dân tránh
“bẫy nghèo”” của tác giả Thái Dƣơng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội năm
2016 và nhiều bài viết khác nữa.
Các luận án: “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật bảo hiểm
y tế ở Việt Nam” năm 2012 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hƣơng, luận án
“Nghiên cứu phương thức thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế
theo nhóm chẩn đoán với nhóm bệnh tăng huyết áp” năm 2012 của tác giả
Lƣu Viết Tĩnh… Ngoài ra còn rất nhiều luận văn nghiên cứu về bảo hiểm y tế
3
có thể kể đến những luận văn gần đây: “Pháp luật bảo hiểm y tế ở Việt Nam
hiện nay” năm 2014 của tác giả Phạm Thị Vy Linh; luận văn “Thực trạng thi
hành pháp luật Bảo hiểm y tế bắt buộc ở Việt Nam” năm 2015 của tác giả Bùi
Thị Phƣơng Dung; luận văn “Thực trạng thi hành bảo hiểm y tế tự nguyện ở
tỉnh Lai Châu
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế và
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế tại tỉnh Lai Châu.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về các quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về bảo hiểm y tế, chủ yếu là quy định tại Luật Bảo hiểm y tế năm 2008,
đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2014 và các văn bản hƣớng dẫn thi hành. Nghiên
cứu về việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế tại
tỉnh Lai Châu từ năm 2013 đến nay, trong trƣờng hợp cần thiết, một số vấn đề
đƣợc đặt trong tƣơng quan so sánh với một số địa phƣơng khác và cả nƣớc.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về
bảo hiểm y tế. Trong quá trình thực hiện luận văn, có sự kết hợp sử dụng các
phƣơng pháp nghiên cứu: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; các phƣơng
pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, thống kê.
Sử dụng phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của lý luận chủ nghĩa
Mác - Lênin, các vấn đề về bảo hiểm y tế đƣợc đặt trong mối quan hệ không tách
rời với các yếu tố kinh tế, xã hội nƣớc ta và đặc điểm của địa bàn nghiên cứu.
Các vấn đề đƣợc nghiên cứu trong quá trình thay đổi chính sách, quy định pháp
luật về bảo hiểm y tế để làm rõ đƣợc cái mới, điểm tiến bộ, hạn chế.
Phƣơng pháp phân tích, so sánh đối chiếu các quy định của pháp luật
bảo hiểm y tế hiện hành và pháp luật bảo hiểm y tế trƣớc đây, nhận diện
những điểm mới và có luận giải nguyên nhân, cơ sở của những thay đổi, đánh
5
giá sự tiến bộ, phù hợp với thực tế. Phân tích việc thực hiện và kết quả thực
hiện pháp luật về bảo hiểm y tế gắn với những đặc điểm của địa bàn nghiên
cứu, quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Lai Châu để có những nhận
LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
1.1. Một số vấn đề về bảo hiểm y tế
1.1.1. Định nghĩa bảo hiểm y tế
Con ngƣời ai cũng muốn có cuộc sống khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc
nhƣng trong đời ngƣời, những rủi ro về sức khỏe do ốm đau, tai nạn lại luôn có
thể xảy ra. Khi rơi vào hoàn cảnh ốm đau, phải KCB thì các chi phí KCB dù
nhiều hay ít đều gây ảnh hƣởng, khó khăn đến tài chính của cá nhân ngƣời bị rủi
ro, gia đình họ, đặc biệt là những ngƣời có thu nhập thấp. Không những thế, việc
KCB còn có thể khiến ngƣời lao động phải gián đoạn, không tham gia quan hệ
lao động, làm cho khó khăn nặng nề hơn. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã
hội, đời sống của con ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao, con ngƣời ngày càng
nhận thức đƣợc đầy đủ hơn về vai trò của sức khỏe và sự dự phòng cho bản thân
và gia đình khi rơi vào hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật. Do đó, không chỉ khi bệnh
đã có biểu hiện nặng, rõ ràng con ngƣời mới đi KCB mà ngay khi có những dấu
hiệu không bình thƣờng của sức khỏe thì con ngƣời đã có nhu cầu đƣợc thăm
khám chẩn đoán về sức khỏe của mình. Nhằm giúp mỗi cá nhân vƣợt qua khó
khăn để tồn tại và đảm bảo sự phát triển của toàn xã hội, con ngƣời đã tìm ra
nhiều cách giải quyết khác nhau, trong đó có việc tham gia BHYT là một loại
bảo hiểm trong lĩnh vực y tế nhằm bảo vệ và phục hồi sức khỏe. Có thể nói,
BHYT đã ra đời nhƣ một tất yếu khách quan và đƣợc coi là một trong những loại
hình hoạt động có bản chất nhân đạo nhằm đối phó những rủi ro về sức khoẻ,
đảm bảo chi phí y tế khi cá nhân nào đó cần sử dụng các dịch vụ y tế.
Định nghĩa chung nhất về bảo hiểm “Bảo hiểm là hoạt động thể hiện
người bảo hiểm cam kết bồi thường (theo quy luật thống kê) trong từng trường
7
hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia bảo hiểm
nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc người thứ ba” [15, tr.15]. Mỗi quốc
các rủi ro tài chính liên quan tới sự thay đổi chi phí chăm sóc sức khoẻ cá
nhân bằng cách tổng hợp chi phí theo thời gian thông qua thanh toán trƣớc
(OECD, 2004). OECD còn phân loại mô hình BHYT theo bốn tiêu chí lớn là
nguồn tài chính; mức độ bắt buộc tham gia của chƣơng trình; BHYT theo
nhóm hoặc các chƣơng trình cá nhân và phƣơng pháp tính phí bảo hiểm sức
khoẻ (mức độ đóng có thể thay đổi theo nguy cơ, tình trạng sức khoẻ…).
Ở nƣớc ta, BHYT đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau với
những phạm vi rộng hẹp theo từng giai đoạn phát triển. Khái niệm BHYT
đƣợc tiếp cận ở những góc độ khác nhau đƣợc hiểu nhƣ sau:
Dưới góc độ xã hội, BHYT là một hình thức tƣơng trợ cộng đồng nhằm
mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong hoạt động BHYT thì tính cộng
đồng đoàn kết cùng chia sẻ rủi ro rất cao; nó là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ
và chăm sóc sức khỏe; nó điều tiết mạnh mẽ giữa ngƣời khoẻ mạnh với ngƣời
ốm yếu, giữa thanh niên với ngƣời già cả và giữa ngƣời có thu nhập cao với
những ngƣời có thu nhập thấp. Sự đoàn kết tƣơng trợ lẫn nhau trong BHYT là
sự đảm bảo cho từng ngƣời dựa trên cơ sở của sự đoàn kết không điều kiện,
của sự hợp tác cùng chung lòng, chung sức và gắn kết chặt chẽ với nhau. Các
thành viên trong xã hội đóng góp một phần thu nhập để tạo ra quỹ chung,
không vì mục đích lợi nhuận nhằm chăm sóc về y tế cho chính mình và các
thành viên khác trong xã hội. Thực chất đó là quá trình phân phối lại tổng sản
phẩm trong nƣớc giữa những ngƣời tham gia BHYT khi bị rủi ro về sức khỏe.
Tính xã hội của BHYT cũng đƣợc thể hiện ở đối tƣợng tham gia BHYT và
vai trò của nhà nƣớc trong việc thực hiện chính sách BHYT. Đối tƣợng tham
gia BHYT bao gồm tất cả thành viên trong xã hội không phân biệt tuổi tác,
giới tính, tôn giáo, trình độ, thu nhập… Nhà nƣớc không chỉ giữ vai trò là
ngƣời tổ chức, quản lý mà còn giữ vai trò bảo trợ thực hiện BHYT.
9
các đối tƣợng trong xã hội khi ốm đau, bệnh tật; do Nhà nƣớc bảo đảm thực
hiện nhằm chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong xã hội.
1.1.2. Các đặc điểm của bảo hiểm y tế
Ngoài những đặc điểm chung của bảo hiểm là có mục đích góp phần ổn
định tài chính cho ngƣời tham gia khi gặp rủi ro, phân phối không mang tính
bồi hoàn, BHYT có những đặc điểm riêng:
Thứ nhất, BHYT là một nội dung của hệ thống an sinh xã hội: An sinh
xã hội đƣợc hiểu là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình
thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về
kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thƣơng tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm
bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình đông con [56]. Xét về cấu trúc, một
trong ba trụ cột chính của an sinh xã hội là sự cung cấp dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ cho ngƣời lao động và các thành viên gia đình họ nhằm bảo đảm cho họ
tái tạo đƣợc sức lao động, duy trì và phát triển nền sản xuất xã hội, đồng thời
phát triển mọi mặt cuộc sống của con ngƣời, kể cả phát triển bản thân con
ngƣời. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe này đƣợc thiết lập, thực hiện bằng chế độ
BHYT và cùng với bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội là
những chính sách không thể thiếu trong hệ thống an sinh xã hội của một quốc
gia. Những chính sách này hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau góp phần thực hiện
bảo đảm xã hội, an sinh xã hội.
Thứ hai, BHYT có đối tượng tham gia rộng rãi: Xuất phát từ việc rủi ro
về sức khỏe có thể xảy ra với bất kỳ ai, do đó BHYT đƣợc áp dụng đối với mọi
thành viên trong xã hội mà không phân biệt giới tính, độ tuổi, tôn giáo, địa vị xã
hội, quan hệ lao động… Con ngƣời dù ở lứa tuổi nào và có đặc điểm về giới
tính, địa vị xã hội nhƣ thế nào thì nguy cơ bị ốm đau, tai nạn vẫn có thể xảy ra.
Cũng chính vì thế BHYT toàn dân luôn là mục tiêu hƣớng tới của mọi quốc gia.
11
12
BHYT sẽ thanh toán các chi phí y tế tùy thuộc vào từng loại bệnh tật, khả
năng hồi phục của từng ngƣời. Mặc dù đƣợc BHYT hỗ trợ cho đến khi ngƣời
bệnh phục hồi sức khỏe nhƣng mức độ đƣợc chăm sóc, bảo đảm về y tế còn
phụ thuộc vào khả năng cung cấp dịch vụ y tế của cơ sở y tế (trình độ khoa
học kỹ thuật, trình độ chuyên môn của y bác sỹ, trang thiết bị y tế...).
Thứ năm, quan hệ BHYT là mối quan hệ diễn ra giữa ba bên, bên thực
hiện BHYT, bên tham gia BHYT và cơ sở khám, chữa bệnh.
Có thể thấy, quan hệ BHYT vừa là một loại hình dịch vụ bảo hiểm, vừa
là một loại hình dịch vụ y tế. Dƣới góc độ là một loại hình dịch vụ BHYT,
ngƣời tham gia BHYT đóng góp vào quỹ BHYT và khi phát sinh nhu cầu
KCB, ngƣời tham gia BHYT thực hiện khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế và các
chi phí KCB sẽ do cơ quan BHYT chi trả một phần hoặc toàn bộ theo quy
định của pháp luật. Dƣới góc độ kinh tế, thị trƣờng các dịch vụ y tế là một thị
trƣờng đặc biệt, chính ngƣời cung cấp dịch vụ quyết định việc mua bán chứ
không phải do ngƣời mua quyết định nhƣ ở các thị trƣờng khác.Việc đáp ứng
các nhu cầu KCB phụ thuộc nhiều vào khả năng của cơ quan y tế. Vì vậy, dù
BHYT đƣợc tổ chức thực hiện ở các quốc gia có thể khác nhau nhƣng luôn có
ba bên tham gia, trong đó cơ sở KCB có vai trò quan trọng. Không phải ai
cũng có thể thực hiện việc KCB, công tác này đòi hỏi phải đƣợc thực hiện bởi
những ngƣời có chuyên môn và thực hiện tại các cơ sở y tế đảm bảo điều
kiện, tiêu chuẩn. Để BHYT có chất lƣợng, hiệu quả, đáp ứng đƣợc nhu cầu
của ngƣời tham gia BHYT thì cần sự phối hợp tốt của cơ quan BHYT và cơ
sở y tế, đặc biệt là năng lực và thái độ hợp tác của cơ sở y tế.
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế đƣợc coi là một trong những trụ cột chính của hệ thống an
sinh xã hội ở các quốc gia, có ý nghĩa quan trọng ảnh hƣởng đến sự phát triển
kinh tế xã hội. Vai trò của BHYT đƣợc xem xét ở góc độ vi mô, đối với ngƣời
thống y tế, công tác chăm sóc sức khỏe ngƣời dân. Tuy nhiên mỗi quốc gia có
khả năng chi trả khác nhau, đặc biệt là ở các nƣớc đang phát triển thƣờng là
14
khoản chi ngân sách chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu y tế, nhu cầu phát triển của
ngành y. Do cần cân đối chi ngân sách cho những nhiệm vụ khác nữa, phần
lớn các nƣớc chỉ đầu tƣ khoảng 60% ngân sách y tế [14, tr.16]. Phần còn lại là
huy động sự tham gia, đóng góp của cộng đồng thông qua nhiều hình thức
khác nhau. Quỹ BHYT có hạch toán thu chi độc lập với NSNN sẽ làm giảm
đƣợc gánh nặng rất lớn cho ngân sách trong việc đảm bảo hoạt động chăm
sóc, bảo vệ sức khỏe của ngƣời dân. BHYT là một nguồn tài chính rất quan
trọng dành cho chăm sóc sức khỏe ngƣời dân, nhất là khi tình hình ngân sách
của nhà nƣớc không đủ để bao cấp hoàn toàn cho chăm sóc sức khỏe.
Bản chất của BHYT là sự phân phối lại giữa những ngƣời tham gia
nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính cho việc KCB cho những ngƣời tham gia bị
rủi ro về sức khỏe. Khi tham gia BHYT, ngƣời tham gia bảo hiểm đều đƣợc
KCB tại các cơ sở y tế mà không có sự phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội do
đó đảm bảo đƣợc bình đẳng, công bằng xã hội. Thực hiện BHYT có ý nghĩa
thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân.
Mức hƣởng BHYT không phụ thuộc vào thời gian và số tiền phí bảo hiểm đã
đóng, do đó nhờ có BHYT ngƣời nghèo có cơ hội đƣợc chăm sóc y tế tốt
hơn.Việc đóng góp vào quỹ BHYT sẽ hỗ trợ cho ngân sách y tế, tạo điều kiện
cải thiện, nâng cao năng lực KCB của ngành y. Nhờ đó, ngƣời dân đƣợc chăm
sóc sức khỏe tốt hơn, chất lƣợng sống đƣợc nâng cao hơn.
Bên cạnh đó, BHYT còn góp phần nâng cao tính cộng đồng và gắn bó
các thành viên trong xã hội. Sự đóng góp và hƣởng BHYT khi gặp phải rủi ro
về sức khỏe của những ngƣời tham gia BHYT đã thể hiện nguyên tắc “số
đông bù số ít”, tính tƣơng trợ, tính xã hội, nhân văn sâu sắc của cộng đồng
Một là, bảo đảm mọi người đều có quyền tham gia và hưởng BHYT:
Quyền đƣợc chăm sóc y tế là một trong những quyền cơ bản của con ngƣời,
đƣợc các tuyên ngôn nhân quyền khẳng định và đƣợc pháp luật các quốc gia
ghi nhận. BHYT chính là chìa khóa để quyền con ngƣời trong lĩnh vực chăm
sóc sức khỏe đƣợc đảm bảo và phát huy. Công dân có quyền đƣợc hƣởng chế
16