Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa vào bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở tỉnh bắc ninh hiện nay - Pdf 57

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
===o0o===

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN
HÓA
VÀO BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA TRUYỀN
THỐNG
Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh

HÀ NỘI - 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
===o0o===

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA
VÀO BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA TRUYỀN
THỐNG Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:

cứu của riêng cá nhân tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung
thực và chưa được công bố trong các công trình khác.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2019
Sinh viên

Nguyễn Thị Hường


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA ........................... 5
1.1. Một số khái niệm cơ bản......................................................................... 5
1.2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa...................... 14
CHƯƠNG 2: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH...... 27
2.1. Sự cần thiết của việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở tỉnh
Bắc Ninh hiện nay........................................................................................ 27
2.2. Thực trạng bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở tỉnh Bắc
Ninh hiện nay ............................................................................................... 30
2.3. Nguyên nhân của thực trạng bảo tồn và phát huy văn hóa truyền
thống ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay ................................................................... 41
2.4. Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở
tỉnh Bắc Ninh hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh ................................... 44
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 54


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hóa hiếu khách, cần cù,
chịu thương chịu khó và sáng tạo với những bàn tay khéo léo mang đậm nét
dân gian. Tính đến ngày 05/12/2015 Bắc Ninh đã vinh dự nhận được 3 danh
hiệu UNESCO Việt Nam đó là dân ca Quan họ, Ca trù và trò chơi kéo co
truyền thống. Bởi vậy, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở tỉnh Bắc
Ninh hiện nay là việc làm có ý nghĩa to lớn.
Từ những nhận thức đó, tác giả chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về văn hóa vào bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở tỉnh
Bắc Ninh hiện nay” làm đề tài khóa luận, chuyên ngành tư tưởng Hồ Chí
Minh.
2. Lịch sử nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nội dung có sức hấp dẫn lớn và thu hút đối
với rất nhiều nhà nghiên cứu. Đã có nhiều đề tài khoa học xã hội, nhiều công
trình nghiên cứu các cấp về tư tưởng Hồ Chí Minh được nghiên cứu một cách
sâu sắc và hệ thống, trong đó các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh về văn hóa ngày càng đa dạng phong phú, đề cập nhiều mặt, nhiều khía
cạnh của văn hóa dưới các góc độ khác nhau. Tiêu biểu có một số công trình:
- Huy Cận (1996), "Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
- Đỗ Huy (1997), "Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh", Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
- Thành Duy (1998), "Cơ sở khoa học và nền tảng văn hóa của tư tưởng
Hồ Chí Minh", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Đinh Xuân Lâm - Bùi Đình Phong (2009), “Văn hóa và triết lý phát
triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Song Thành (2010), “Hồ Chí Minh, nhà văn hóa kiệt xuất”, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Về thời gian: Từ năm 2010 - 2018
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận
gồm 2 chương, 6 tiết.


CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Văn hóa
Văn hoá theo quan niệm truyền thống phương Đông
hông phải “Văn hoá” mới được đề cập trong một vài thế kỷ gần đây mà
nó xuất hiện lâu hơn thế với những cách hiểu xuất phát từ hoạt động sản xuất
nông nghiệp, việc hình thành những nhóm cộng đồng dân cư trên thế giới.
Cách đây hàng chục thế kỷ, ở phương Đông đã hình thành một cách hiểu “văn
hoá” mà cách dùng văn hoá ngày nay vẫn còn bị ảnh hưởng không ít.
Từ “Văn” trong ngôn ngữ Trung Hoa được hiểu là vẻ bề ngoài, hơn thế
nó còn là nội dung được thể hiện ra như các hiện tượng tự nhiên: mây, mưa,
gió, bão …. Nó chính là văn của trời. Theo cách hiểu này, con người cũng có
cái “văn” riêng, đó là: thẩm mĩ, phong tục, đạo đức được biểu hiện trong mối
quan hệ giữa người với người, con người với tự nhiên mà cụ thể đó là sự trật
tự trong các mối quan hệ đó. “Văn” là cái bên ngoài và được thể hiện ra bên
ngoài, có nghĩa nó chứa cả yếu tố nội dung và hình thức. Con người có thể
làm cho con người “thiện”, “mĩ” hơn. Đó cũng chính là tác dụng giáo dục đạo
đức của văn chương.
Người Trung Quốc thường quan niệm văn hoá là chế độ, văn trị, giáo
hoá, lễ nhạc, điển chương. Trong lịch sử lâu dài, Trung Quốc đạt được nhiều
thành tựu trên lĩnh vực, nhưng khoa học về văn hoá chưa phát triển, nên cách
hiểu trên duy trì mãi đến thời cận đại khi tiếp nhân nghĩa của khái niệm văn
hoá phương Tây du nhập sang.
Văn hoá theo quan niệm truyền thống phương Tây

nhận văn hoá là những giá trị to lớn do con người sáng tạo ra. Năm 1982, Tổ
chức UNESCO đã thống kê (chưa đầy đủ) có khoảng 200 định nghĩa về văn


hoá trên thế giới. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội trong vài thập kỷ
gần đây, con số này chắc chắn nhiều hơn thế. Cũng trong năm này, trong
Tuyên bố về Những chính sách văn hoá, Tổ chức UNESCO đã thống nhất
định nghĩa “văn hoá” như sau: “Trên ý nghĩa rộng nhất, văn hoá có thể coi
là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm
quyết định tính cách của xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hoá
bao gồm nghệ thuật hay văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản
của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục, những tín ngưỡng.
Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn
hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý
tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà
chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi sự lựa chọn. Chính nhờ
văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là
một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản
thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những
công trình vượt trội lên bản thân”.[36 - tr.23]
Theo Từ điển tiếng Việt, văn hóa dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học
thức, lối sống.; theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai
đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả từ những sản
phẩm tinh vi, hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống…
Theo Đại Từ điển tiếng Việt “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do
con người sáng tạo ra trong lịch sử”.
Các nhà khoa học trước đây khi nghiên cứu về văn hóa xuất phát từ
những cứ liệu riêng , góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình
cần nghiên cứu cũng đã đưa ra một số định nghĩa về văn hóa:
Theo Đoàn Văn Chúc cho rằng: “Văn hóa - vô sở bất tại: Văn hóa không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con


phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời
sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [8 – tr.458].
Trong định nghĩa này, Hồ Chí Minh cho chúng ta hiểu được:
Văn hóa là những sáng tạo và phát minh của con người.
Nguồn gốc của văn hóa là lẽ sống sinh tồn của con người.
Văn hóa là mục đích và động lực của cuộc sống, nhằm thích ứng những
nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.
Cấu trúc của văn hóa bao gồm ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học - nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng
ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt như ứng xử, giao tiếp.
Trong định nghĩa văn hóa trên của Hồ Chí Minh có nhiều điểm gần
giống với quan niệm hiện đại về văn hóa của UNESCO theo các khía cạnh
như phức thể, tổng thể nhiều mặt: nét riêng biệt, đặc trưng riêng về tinh thần
và vật chất, khắc họa nên bản sắc; nghệ thuật, văn chương và những quyền
cơ bản của con người; hệ thống giá trị, cách ứng xử và sự giao tiếp.Quan niệm
của Hồ Chí Minh về văn hóa xuất phát từ cách tiếp cận mác - xít và rất gần
gũi với nhận thức hiện đại, Người coi văn hóa không đơn thuần là đời sống
tinh thần của con người - xã hội, mà từ trong bản chất nó chính là hệ thần
kinh của một xã hội, là linh hồn sức mạnh trường tồn của cả dân tộc, là sức
sống vươn lên của thời đại.
Có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa có ý nghĩa to lớn, đặc
biệt quan trọng trong chiến lược phát triển toàn diện của đất nước. Nó không
chỉ là mục tiêu phấn đấu vươn tới những giá trị cao đẹp cho cuộc sống mà nó
còn có vai trò làm nền tảng và sức mạnh, động lực hết sức to lớn trong phát



mất mà nó được giữ lại dưới dạng mới hoàn thiện hơn. George Mclean cho
rằng: “Truyền thống là sự phát triển của các giá trị, đức hạnh và sự hội nhập
của chúng nhằm tạo ra một nền văn hóa đặc sắc và phong phú trong lịch sử và
vì thế phụ thuộc vào kinh nghiệm và sức sáng tạo của nhiều thế hệ. Nền văn
hóa được truyền lại được gọi là truyền thống văn hóa”. Như vậy nó phản ánh
được những thành tựu mà con người đúc rút được trong quá trình tìm hiểu,
thực hiện và truyền bá ý nghĩa sâu lắng nhất của cuộc sống. Đó chính là
truyền thống theo nghĩa hài hoà của nó.
Như vậy, văn hóa truyền thống được hiểu là văn hóa được hình thành
trong thời quá khứ xa xưa và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Văn hoá truyền thống có tính ổn định, phổ biến, được kết tinh trong đời
sống của cộng đồng và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua
con đường xã hội hoá. Văn hoá truyền thống thể hiện ở nhiều phương diện
khác nhau: vật chất và tinh thần, vật thể và phi vật thể và cả trong cơ sở hạ
tầng lẫn kiến trúc thượng tầng của xã hội. Trong văn hoá truyền thống có yếu
tố giá trị cả trong quá khứ lẫn hiện tại; có yếu tố giá trị trong lịch sử nhưng
không còn giá trị trong hiện tại (lạc hậu, tiêu cực, không phù hợp với những
đổi thay của thời cuộc). Ví dụ, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là giá trị đến từ
truyền thống, nhưng nội dung của nó cần được đổi mới. Người Việt Nam giàu
lòng yêu nước, nhưng nội dung của lòng yêu nước trong mỗi thời kỳ lịch sử là
khác nhau. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện nay khác xa với chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam thời phong kiến. Văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam
không phải chỉ là văn hóa do người Việt Nam sáng tạo nên trong quá khứ, mà
còn là văn hóa do các dân tộc khác sáng tạo nên trong quá khứ và được người
Việt Nam chọn lọc, tiếp thu, kế thừa. Nói cách khác, trong văn hóa truyền
thống của dân tộc Việt Nam có một số yếu tố văn hóa riêng của dân tộc mình


và một số yếu tố văn hóa chung của dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác.
Ví dụ, văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam và văn hóa truyền thống

mất vì lý do này hoặc lý do khác. Bảo tồn gồm nhiều hoạt động khác nhau
như việc điều tra, nghiên cứu, bảo quản, tu bổ và phục dựng sản phẩm văn
hóa. Bên cạnh đó việc bảo tồn các sản phẩm văn hóa vật thể phải tuân thủ các
quy định, nguyên tắc về trùng tu, tôn tạo và bảo quản.
Phát huy văn hóa truyền thống được hiểu là các sản phẩm văn hóa tốt
đẹp thì không những cần được gìn giữ và bảo tồn mà còn cần phải xây dựng
và phát triển nó ngày càng hoàn thiện, tốt đẹp hơn.
Bảo tồn và phát huy văn hóa có mối liên hệ biện chứng với nhau. Đó là
hai lĩnh vực vừa thống nhất, vừa tương hỗ, vừa chi phối ảnh hưởng qua lại
trong các hoạt động nhằm giữ gìn, bảo tồn văn hóa truyền thống . Bảo tồn văn
hóa có thành công thì mới phát huy được những giá trị của văn hóa. Và phát
huy cũng là một trong những cách bảo tồn văn hóa tốt nhất (lưu giữ các giá trị
văn hóa trong ý thức cộng đồng xã hội).
Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị văn hóa vật thể và giá trị văn hóa
phi vật thể) cần thỏa mãn được hai điều kiện:
Một là, sản phẩm văn hóa phải được coi là tinh hoa, là một giá trị đích
thực được thừa nhận là minh bạch và không có gì phải hoài nghi hay bàn cãi.
Hai là, sản phẩm văn hóa phải hàm chứa khả năng, tiềm năng đứng
vững tồn tại lâu dài với thời gian, có giá trị với nhiều thời (tức có giá trị lâu
dài) trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất cũng như tinh thần của
con người, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi nền kinh tế thị trường và quá
trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động.
Trong thời kỳ tích cực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và giao
lưu hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương đường
lối và chính sách bảo vệ và phát huy các sản phẩm văn hóa tiến bộ nhằm mục
đích nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân đồng thời góp phần phát triển
kinh tế xã hội của đất nước.


1.2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

đời sống tươi vui hạnh phúc”.

hi chỉ rõ “văn hóa phải soi đường cho quốc

dân đi”, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò, động lực của văn hóa. Theo
Người, tiến lên chủ nghĩa xã hội phải có cả vật chất lẫn tinh thần song con
người là quyết định; để đưa đất nước đi lên không thể không đặt trọng tâm
vào kinh tế, nhưng chủ thể của hoạt động kinh tế lại chính là con người và
thước đo trình độ con người lại chính là văn hóa.
Thứ hai, văn hóa là một mặt hợp thành toàn bộ đời sống xã hội. Người
nhấn mạnh: “trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề chú ý đến;
cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Vì thế,
văn hóa không thể đứng ngoài “mà phải ở trong kinh tế và chính trị” và ngược
lại kinh tế, chính trị cũng nằm trong văn hóa. Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi
với phát triển văn hóa và giải quyết những vấn đề xã hội; nếu chỉ coi tăng
trưởng kinh tế là mục tiếu duy nhất thì chẳng những môi trường văn hóa - xã
hội bị hủy hoại mà mục tiêu kinh tế cũng không đạt được.
Thứ ba, văn hóa là linh hồn, bản sắc dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng,
văn hóa không thể tách rời với quốc gia dân tộc, văn hóa trước hết là văn hóa
của một dân tộc, nó mang tâm hồn, diện mạo dân tộc, đó chính là bản sắc dân
tộc của văn hóa. Từ đó Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lấy kinh nghiệm tốt của
văn hóa xưa và văn hóa nay trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần
thuần túy Việt Nam”, “cần phải mở rộng kiến thức của mình về văn hóa thế
giới”, “phương Đông hay phương Tây có cái gì hay, cái gì tốt ta phải học
lấy”. Song điều cốt yếu là “đừng biến ta thành kẻ bắt chước” và “đừng chịu
vay mà không trả”, “cái gốc của văn hóa mới là dân tộc”. Học tập văn hóa
hiện đại của các nước phải phù hợp với điều kiện Việt Nam, kết hợp với văn
hóa Việt Nam tạo ra những giá trị mới đóng góp vào việc phát triển văn hóa



dồi cho văn hóa, văn nghệ có tinh thần thuần túy Việt Nam”, phải “lột tả cho
hết tinh thần dân tộc” đó là chủ nghĩa yêu nước, đoàn kết, khát vọng độc lập,
tự chủ, tự lực, tự cường… của dân tộc. Người cho rằng, “nếu dân tộc hóa mà
phát triển đến cực điểm thì tức là đến chỗ thế giới hóa nó vì lúc bấy giờ văn
hóa thế giới sẽ phải chú ý đến văn hóa của mình và văn hóa của minh sẽ
chiếm được địa vị ngang với các nền văn hóa thế giới”. Tính dân tộc của nền
văn hóa không chỉ thể hiện ở chỗ biết giữ gìn, kế thừa, phát huy những truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, mà còn phải phát triển những truyền thống tốt đẹp
ấy cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới của đất nước.
Tính khoa học của nền văn hóa mới thể hiện ở tính hiện đại, tiên tiến,
thuận với trào lưu tiến hóa của thời đại. Tính khoa học của văn hóa đòi hỏi
phải đấu tranh chống lại những gì trái với khoa học, phản tiến bộ, phải truyền
bá tư tưởng triết học mácxít đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, thần bí,
mê tín dị đoan, phải biết gạn đục khơi trong, kế thừa truyền thống tốt đẹp của
dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Tính đại chúng của nền văn hóa được thể hiện ở chỗ nền văn hóa ấy phải
phục vụ nhân dân và do nhân dân xây dựng nên, Hồ Chí Minh nói, “văn hóa
phục vụ ai? cố nhiên, chúng ta phải nói là phục vụ công nông binh, tức là
phục vụ đại đa số nhân dân”; “Quần chúng là những người sáng tạo, còn nông
là những người sáng tạo. Nhưng quần chúng không chỉ sáng tạo ra những của
cải vật chất cho xã hội. Quần chúng còn là người sáng tác nữa…”.
1.2.1.3. Quan điểm về chức năng của văn hóa
Khi bàn về chức năng nhiệm vụ của văn hóa, Hồ Chí Minh xác định: văn
hóa “phải làm thế nào cho ai cũng có lí tưởng tự chủ, độc lập, tự do. Đồng
thời phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích
chung mà quên đi lợi ích riêng của mình”; “văn hóa phải sửa đổi được tham
nhũng, lười biếng, xa hoa”. Có nghĩa là “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”.


Người còn khẳng định văn hóa là tinh hoa của dân tộc, do đó phải góp



phong cách thường có mối quan hệ gắn bó với nhau. Mỗi người thường có
nhiều phẩm chất, trong đó có phẩm chất chung và phẩm chất riêng, tùy theo
nghề nghiệp, vị trí công tác. Các phẩm chất thường được thể hiện qua phong
cách, tức là lối sinh hoạt, làm việc, lối ứng xử trong đời sống. Căn cứ vào yêu
cầu của nhiệm vụ cách mạng, Hồ Chí Minh đã đề ra những phẩm chất và
phong cách cần thiết để mỗi người tự tu dưỡng. Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ
Chí Minh đặc biệt quan tâm đến phẩm chất đạo đức - chính trị. Bởi vì, nếu
không có những phẩm chất này thì họ không thể hoàn thành được những
nhiệm vụ cách mạng, không thể biến lý tưởng thành hiện thực.
Những phẩm chất và phong cách tốt đẹp làm nên giá trị của con người.
Văn hóa giúp con người hình thành những phẩm chất phong cách và lối sống
tốt đẹp, lành mạnh thông qua phân biệt cái đẹp, lành mạnh với cái xấu xa. hư
hỏng, cái tiến bộ với cái lạc hậu, bảo thủ. Từ đó giúp con người phấn đâu lảm
cho cái tốt đẹp. lành mạnh ngày càng tăng, càng nhiều, còn cái lạc hậu,
bảo thủ, ngày càng giảm, vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ để hoàn thiện
bản thân. Với ý nghĩa đó Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Phải làm thế nào cho văn
hóa thấm sâu vào tâm lý quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được những
tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi.
1.2.2. Quan điểm về một số lĩnh vực chính của văn hóa
1.2.2.1. Văn hóa giáo dục
Sau khi tìm thấy con đường cứu nước cho dan tộc, Hồ Chí Minh đã
bỏ nhiều công sức phân tích sâu sắc nền giáo dục phong kiến và thực dân,
chuẩn bị tư tưởng cho việc xây dựng nền giáo dục của nước Việt Nam độc
lập sau này. Người đã phê phán gay gắt nền giáo dục phong kiến (tầm
chương, kinh viện, xa rời thực tế, bất bình đẳng, trọng nam khinh nữ…)
và nền giáo dục thực dân (ngu dân, đồi bại, xảo trá nguy hiểm hơn cả sự
dốt nát).




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status