MỤC LỤC
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
Nội dung
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng của vấn đề
2.3. Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề.
19
21
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Như lời Bác dạy:
“ Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người”
úng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện
ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này
chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học
sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI - những con người
thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng,
lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn
thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung
môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm
nhất định.
Đ
Toán học có vị trí rất quan trọng trong cuộc sống thực tiễn, nó cũng là
công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp cho học sinh nhận thức thế
giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn. Khả năng giáo dục
nhiều mặt của môn Toán rất to lớn, nó giúp khả năng phát triển tư duy lôgic,
phát triển trí tuệ. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy
nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có suy luận, có căn
cứ khoa học toàn diện, chính xác, có tác dụng phát triển trí thông minh, tư duy
thiết, nó cũng là một công cụ quan trọng giúp các em giải các bài toán phức tạp
hơn ở các lớp trên. Để đạt được những mục tiêu đó, việc bồi dưỡng học sinh có
năng khiếu môn Toán, đặt ra cho tôi những nhiệm vụ sau:
1. Phát hiện những học sinh có khả năng trở thành học sinh có năng khiếu
Toán học.
2. Bồi dưỡng hứng thú học Toán cho học sinh.
3. Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng giải Toán có lời văn điển hình cho học
sinh.
Để tạo tiền đề cho học sinh học môn Toán ngày càng tốt hơn, tôi đã dành
nhiều thời gian để nghiên cứu, nâng cao chất lượng học tập môn Toán, đặc biệt
là phương pháp giải các dạng toán có lời văn điển hình từ cơ bản đến nâng cao
cho học sinh lớp 4. Vì thế, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Bồi dưỡng
chuyên đề dạng toán có lời văn điển hình cho học sinh năng khiếu tham gia
CLB "Em yêu Toán 4" của trường TH&THCS Cát Vân”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
* Đối với giáo viên: Phát hiện khả năng, năng khiếu học Toán của học
sinh từ đó cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, những khái niệm đơn
giản khi học Toán và nâng cao dần các bài tập cho học sinh theo nguyên tắc từ
dễ đến khó, từ cơ bản đến phức tạp.
- Phân loại các dạng bài tập về toán điển hình.
* Đối với học sinh:
- Bồi dưỡng hứng thú học Toán cho học sinh.
- Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng giải các dạng Toán có lời văn điển hình
cho học sinh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- 11 học sinh có năng khiếu môn Tiếng Việt tham gia Câu lạc bộ “Em yêu
Toán 4” của trường Tiểu học và Trung học cơ sở Cát Vân .
- Các tài liệu liên quan đến Toán Tiểu học như:
+ Bồi dưỡng học sinh giỏi Toán 4.
+ Toán nâng cao lớp 4.
thì không giải quyết được nhiệm vụ dạy - học.
Đối với môn Toán là môn học tự nhiên nhưng rất trừu tượng, đa dạng và
lôgic, hoàn toàn gắn với thực tiễn cuộc sống hàng ngày. Bởi vậy, nếu học sinh
không có phương pháp học đúng sẽ không nắm được kiến thức cơ bản về Toán
học và với các môn học khác nhận thức cũng cũng gặp rất nhiều khó khăn.
Môn Toán là môn học quan trọng, nó là chìa khóa để mở ra các môn học
khác. Đồng thời, nó có khả năng phát triển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ cần
thiết giúp con người vận dụng vào cuộc sống hàng ngày.
Trong giờ Toán, bên cạnh việc tìm tòi và sáng tạo phương pháp giảng dạy
phù hợp với yêu cầu bài học và đối tượng học sinh. Mỗi giáo viên cần giúp các
em có phương pháp lĩnh hội tri thức Toán học. Học sinh có phương pháp học
Toán với từng dạng bài thì việc học mới dạt kết quả cao. Từ đó khuyến khích
tinh thần học tập của các em cao hơn.
2.2. Thực trạng của vấn đề
Qua nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy giáo viên dạy bồi dưỡng
học sinh có năng khiếu Toán nắm khá chắc nội dung chương trình và kiến thức
Toán lớp 4, đặc biệt là dạng toán giải có lời văn điển hình, biết vận dụng đổi mới
PPDH: Lấy học sinh làm trung tâm, biết trân trọng sự sáng tạo dù nhỏ của học
sinh, biết sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học sinh phân tích tìm
hiểu bài tập.
Công tác chỉ đạo của nhà trường cũng như mỗi cán bộ giáo viên đã nhân
thức sâu sắc về các cuộc vận động lớn của ngành như “Đổi mới công tác quản
lí và nâng cao chất lượng giáo dục”, phong tào thi đua “Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực”...
Tuy nhiên thời gian dành cho chương trình bồi dưỡng và hoạt động Câu
lạc bộ học sinh có năng khiếu không phải là nhiều so với lượng kiến thức các em
cần nắm thì quá rộng. Các bài tập về giải toán điển hình trong các sách bồi
dưỡng học sinh năng khiếu (học sinh giỏi) thì đa dạng và phong phú.
Kết quả khảo sát 11 học sinh có năng khiếu môn Toán lớp 4 tham gia Câu
lạc bộ “Em yêu Toán 4” về giải toán điển hình trong chương trình nâng cao của
trong môn Toán 4 của học sinh năng khiếu không đạt yêu cầu như mong muốn?
Qua quá trình giảng dạy lớp 4 năm học 2018 - 2019, tôi nhận thấy học
sinh học Toán nâng cao chưa tốt là do môn Toán là một môn học đòi hỏi học
sinh phải có khả năng tư duy trừu tượng, lôgic, khả năng phán đoán và giải
quyết vấn đề một cách nhạy bén, nhưng lâu nay chúng ta chưa có cách phát huy
tối đa năng lực học tập của học sinh; chưa bồi dưỡng được cho các em sự đam
mê Toán học, đam mê tìm tòi, phát hiện tri thức từ những bài toán trong chương
trình SGK và trong tài liệu nâng cao.
* Về phía giáo viên: Do phải dạy nhiều môn học, thời gian dành cho
nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng
học sinh đặc biệt là học sinh có năng khiếu trong môn Toán chưa nhiều. Nên
giáo viên chưa lôi cuốn được sự tập trung chú ý của học sinh vào tìm hiểu vấn
đề, phân tích, phát hiện vấn đề và giải quyết những bài toán nâng cao đặc biệt là
giải toán có lời văn điển hình của Toán 4. Bên cạnh đó, nhận thức về vị trí, tầm
quan trọng của các bài toán điển hình trong môn Toán cũng chưa đầy đủ, dẫn
đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức còn dàn trải. Những học sinh
có năng khiếu sau khi hoàn thành các bài tập trong sách giáo khoa mà chưa hết
thời gian của tiết Toán nhưng giáo viên chưa biết đưa ra các bài tập bổ sung với
lượng kiến thức được nâng cao hơn giúp các em phát huy khả năng tư duy, sự
sáng tạo trong học Toán của mình.
* Về phía học sinh: Các em thường gặp khó khăn trong xác định dạng
toán, hoặc học song dạng toán này sang dạng toán khác lại quên đi cách giải của
dạng toán đã học trước đó. Đặc biệt gặp các bài toán được lồng ghép 2-3 thậm
chí đến 4 dạng toán trong một bài là các em sợ khó và lúng túng trong tìm
hướng giải quyết. Bên cạnh đó, một số phụ huynh kiến thức còn hạn chế lại
chưa thường xuyên động viên, khích lệ sự sáng tạo, tìm tòi của con em mình mà
chỉ cần thấy con bảo bài khó là để hỏi thầy cô.
Xuất phát từ thực trạng và nguyên nhân trên, đồng thời thấy rõ vai trò,
nhiệm vụ của một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tôi mạnh dạn đưa ra các
giải pháp sau đây, hy vọng sẽ nâng cao được chất lượng bồi dưỡng học sinh có
38kg, 40kg, 34kg. Hỏi trung bình mỗi em cân nặng bao nhiêu kg?
- Yêu cầu HS nêu cách giải bài toán. Vận dụng công thức nào ? (Số trung
bình cộng = ( Tổng của các số hạng) : Số các số hạng.)
- HS nêu công thức vận dụng và tiến hành giải.
Bài giải:
Trung bình một bạn cân nặng số kg là:
(36 + 38 + 40 + 34) : 4= 37(kg).
Đáp số: 37 kg
- Dạng nâng cao:
Bài toán 2: Trung bình cộng của ba số bằng 24. Nếu gấp số thứ nhất lên 2
lần thì trung bình cộng của chúng bằng 28. Nếu gấp số thứ ba lên 3 lần thì trung
bình cộng của chúng bằng 36. Tìm 3 số đó.
- Yêu cầu HS phân tích đề và tìm hướng giải quyết bài toán.
- Nêu công thức vận dụng. Cách tìm mỗi số khi dữ liệu bài toán đã cung
cấp.
Bài giải:
Tổng của ba số cần tìm là:
24 3 = 72
Tổng 2 lần số thứ nhất với số thứ hai và số thứ ba là: 28 3 = 84
Số thứ nhất là: 84 – 72 = 12
7
Tổng 3 lần số thứ ba với số thứ nhất và số thứ hai là:
36 3 = 108
Số thứ ba là: (108 - 72) : 2 = 18
Số thứ hai là:
72 – 12 – 18 = 42
Đáp số : Số thứ nhất : 12 ; Số thứ hai : 42.
Số thứ ba : 18.
Đây là một số bài làm của học sinh trong quá trình ôn luyện dạng toán
“Tìm số trung bình cộng”.
(Bài làm của em Lê Thị Thanh Huyền)
(Bài làm của em Lê Hữu Bảo Quốc)
2.3.2. Dạng thứ hai: “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”
a) Kiến thức cơ bản:
Công thức tổng quát:
Cách 1:
Số bé = (Tổng – Hiệu) : 2
Số lớn = Số bé + Hiệu
Hay: Số lớn = Tổng – Số bé
Cách 2:
Số lớn = (Tổng + Hiệu) : 2
Số bé = Số lớn – Hiệu
Hay: Số bé = Tổng – Số lớn
b) Các bài toán vận dụng:
- Dạng cơ bản:
Bài toán 1: Tổng hai số là 48, hiệu hai số là 12. Tìm hai số đó?
Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ, căn cứ sơ đồ hướng dẫn học sinh tìm ra
phương pháp giải.
Sử dụng sơ đồ biểu thị mối quan hệ về hiệu, các em sẽ tóm tắt bài toán
bằng sơ đồ dưới đây.
Số lớn:
Số bé:
Đáp số: 140 m2
Bài toán 3: Một phép trừ có tổng của số bị trừ, số trừ và hiệu là 7652.
Hiệu lớn hơn số trừ 798 đơn vị. Hãy tìm phép trừ đó ?
Phân tích:
Số bị trừ - số trừ = hiệu => số bị trừ = số trừ + hiệu
Số bị trừ + số trừ + hiệu = số bị trừ + số bị trừ = 2 x số bị trừ
Bài giải:
Số bị trừ là: 7652 : 2 = 3826
Tổng của số trừ và hiệu bằng số bị trừ và bằng 3826
Hiệu là: (3826 + 798) : 2 = 2312
Số trừ là: 3826 – 2312 = 1514
Vậy phép trừ đó là: 3826 – 2312 = 1514
+ Dạng suy luận lồng ghép 2 dạng toán trong một bài toán :
Bài toán 4: Trung bình cộng số lít dầu ở 2 thùng là 264 lít, biết nếu rót 90
lít dầu ở thùng thứ nhất sang thùng thứ hai hơn thừng thứ nhất 64 lít dầu. Tìm số
lít dầu ban đầu ở mỗi thùng.
Phân tích : Phân tích : Lồng ghép 2 dạng toán trong 1 bài : “Trung bình
cộng” và “Tổng - hiệu”.
- Yêu cầu HS xác định dạng toán (Tổng – Hiệu)
- Vậy tổng của bài toán ở đâu ? (Được giấu trong trung bình cộng số lít
dầu của 2 thùng).
- Yêu cầu HS xác định hiệu của bài toán. (Hiệu là 64 lít vì khi rót 90 lít
dầu từ thùng 1 sang thùng 2 thì tổng số lít dầu ở 2 thùng không thay đổi).
10
Bài giải :
Tổng số lít dầu ở 2 thùng là : 264 2 = 528 (lít)
Khi rót 90 lít dầu từ thùng thứ nhất sang thùng thứ hai thì tổng số lít dầu ở
2 thùng không thay đổi.
- Dạng cơ bản:
Bài toán 1: Tổng của hai số là 84, tỉ số của hai số đó là
2
. Tìm hai số đó?
5
- HS vận dụng công thức để giải một cách đơn giản.
Bài giải::
Ta có sơ đồ:
Số lớn:
84
Số bé:
Số bé là : 84 : (5 + 2) 2 = 24
Số lớn là : 84 – 24 = 60
Đáp số: Số bé : 24 ; Số lớn : 60.
- Dạng nâng cao thể hiện dưới dạng ẩn tổng hoặc tỉ số:
Nắm được quy tắc giải học sinh sẽ biết áp dụng để giải nhiều bài toán
cùng dạng, học sinh năng khiếu sẽ biết áp dụng quy tắc để giải các bài toán khó
dạng này (đó là các bài toán cùng dạng như tổng, tỉ được thể hiện dưới dạng ẩn).
Bài toán 2: Tổng số tuổi của 2 anh em hiện nay là 25 tuổi. Trước đây khi
tuổi anh bằng tuổi em hiện nay thì tuổi anh gấp hai lần tuổi em. Tính tuổi của
mỗi người hiện nay?
Phân tích: Đây thực sự là bài toán về tìm 2 số khi biêt tổng và tỉ số nhưng
không ở dạng cơ bản mà đã được nâng cao lên bằng cách diễn đạt tỉ số dưới
dạng ẩn. Vì vậy khi nhận được đề bài này học sinh rất lúng túng khi xác định
được cách giải đúng. Sau khi gợi ý, phân tích và hướng dẫn từng bước sơ đồ hoá
nội dung bài toán các em nhận ra ngay dạng toán quen thuộc “Tìm hai số khi
biết tổng và tỉ số của hai số đó”.
+ Trước hết yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ biểu thị số tuổi của 2 anh em trước
- Để tìm tỉ số ta cần tiến hành quy đồng tử số của hai phân số đó: Khi số
phần lấy đi bằng nhau thì số phần chia ra của mỗi loại con cũng chính là số phần
bằng nhau biểu thị cho số con đó.
Bài giải:
2 2 3
6
3 3 2 6
=
= và =
=
3 3 3
9
4 4 2 8
6
6
Vì
số con trâu bằng
số con bò nên số con trâu chiếm 9 phần và số
9
8
Ta có:
con bò chiếm 3 phần như thế.
Theo bài ra, ta có sơ đồ:
Trâu :
Bò :
68 con
Tổng số cây lớp 4B và 4C trồng được là: 540 – 210 = 330 (cây)
Theo bài ra, ta có sơ đồ:
Lớp 4C:
330 cây
Lớp 4B:
Số cây lớp 4B trồng được là: 330 : (2 + 3) 3 = 198 (cây)
13
Số cây lớp 4C trồng được là: 330 – 198 = 132 (cây)
Đáp số: Lớp 4A: 210 cây; Lớp 4B: 198 cây;
Lớp 4C: 132 cây.
Đây là một số bài làm của học sinh trong quá trình ôn luyện dạng toán
“Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”
(Bài làm của em Lê Thị Thanh Lam)
(Bài làm của em Lê Thị Hoài Thương)
2.3.4. Dạng thứ tư: “Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó”
a) Kiến thức cơ bản.
Công thức tổng quát:
Bước 1: Vẽ sơ đồ.
Bước 2: Tìm số bé: Số bé = Hiệu : (SPSL - SPSB) SPSB
(SPSB: Số phần số bé; SPSL: Số phần số lớn)
Bước 3: Tìm số lớn: Số lớn = Hiệu + Số bé.
(Học sinh có thể tìm số lớn trước, rồi tìm số bé sau)
b) Các bài toán vận dụng:
- Dạng cơ bản:
Bài toán 1: Tìm hai số tự nhiên biết hiệu của chúng là 30 và số này bằng
7
5 lần số thứ nhất:
39
Số thứ hai:
Với sơ đồ trên thì học sinh có thể thấy ngay :
Bốn lần số thứ nhất là: 39 – 7 = 32
Số thứ nhất là:
32 : 4 = 8
Số thứ hai là:
8–7=1
Vậy hai số đó là 8 và 1
Bài toán 3: Hiện nay, tuổi cha gấp 4 lần tuổi con. Trước đây 6 năm tuổi
cha gấp 13 lần tuổi con. Tính tuổi cha và tuổi con hiện nay?
Đây là một bài toán khó, học sinh sẽ lúng túng vì cả hiệu và tỉ số đều dưới
dạng ẩn. Nhưng sử dụng sơ đồ đoạn thẳng các em sẽ dễ có cơ sở để suy luận và
đưa ra bài toán về dạng điển hình.
Sơ đồ bài toán: Trước đây 6 năm:
Tuổi con:
Tuổi cha:
Hiện nay:
12 lần tuổi con trước đây 6 năm
Tuổi con:
Tuổi cha:
12 lần tuổi con trước đây 6 năm
Theo sơ đồ, hiệu số tuổi của cha và con bằng 12 lần tuổi con lúc đó.
Còn hiệu số tuổi của cha và con hiện nay bằng 3 lần tuổi con hiện nay.
15
16
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy
những học sinh có năng khiếu môn Toán sinh hoạt Câu lạc bộ “Em yêu Toán 4”
mà tôi phụ trách đã có nhiều bước chuyển biến mới. Về kiến thức giải các dạng
toán điển hình các em nắm rất chắc và đã quen thuộc với các dạng đề. Khả năng
hiểu đề và phân tích đề của các em cũng rất tốt. Các em đã có sự tiến bộ vượt
bậc so với khảo sát đầu năm học.
Qua đợt khảo sát cuối tháng 3 năm 2019 vừa qua, tôi đã thu được kết quả
rất đáng mừng:
TRƯỜNG TH & THCS CÁT VÂN
ĐỀ KHẢO SÁT HỌC SINH CÓ NĂNG KHIẾU MÔN TOÁN
LỚP 4
Tháng 3 năm 2019
Bài 1: (2 điểm): Tìm số có hai chữ số, biết khi viết thêm chữ số 8 vào bên trái số
đó thì số đó gấp 26 lần số đã cho.
Bài 2: (2 điểm): Bốn bạn trồng cây ở vườn cây thuốc nam của trường. Bạn
Xuân trồng 12 cây, bạn Hạ trồng hơn Xuân 4 cây, bạn Thu trồng được số cây
bằng trung bình cộng của Xuân và Hạ. Bạn Đông rất tự hào vì mình đã trồng
được số cây nhiều hơn số trung bình cộng của 4 bạn là 3 cây. Đố bạn biết bạn
Đông trồng bao nhiêu cây?
Bài 3: (3 điểm): TBC xoài, ổi, na, táo là 150 quả, biết táo ít hơn ổi, na và xoài là
100 quả. Biết số quả na bằng
3
2
số quả ổi và xoài, số quả xoài bằng số quả ổi.
Hoàn thành
(điểm 5 - 6)
SL
TL
1
9,1%
Qua bảng số liệu trên cho thấy, sau khi áp dụng những biện pháp bồi
dưỡng học sinh có năng khiếu môn Toán sinh hoạt Câu lạc bộ “Em yêu Toán 4”
đã thu được kết quả rất tốt.
* Giáo viên và nhà trường:
- Từ khi áp dụng kinh nghiệm vào giảng dạy, bản thân tôi cảm thấy rất vui
vì học sinh đã làm được các đề giao lưu hoàn chỉnh, có thể làm được các dạng
đề tổng hợp kiến thức với các mạnh kiến thức trong chương trình nâng cao.
17
- Với sáng kiến kinh nghiệm này đồng nghiệp đến lớp tôi dự giờ thăm lớp
đều tỏ thái độ rất hài lòng và đều muốn chia sẻ kinh nghiệm.
- Với kết quả đạt được của HS như trong bảng số liệu trên, nhà trường
cũng rất hài lòng và mong muốn sáng kiến kinh nghiệm của tôi sẽ được sử dụng
cho các lớp khác trong khối 4-5.
Sáng kiến kinh nghiệm này không những áp dụng hiệu quả khi bồi dưỡng
học sinh lớp 4 mà nó còn rất hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh năng khiếu lớp 5
trong giải các bài toán liên quan đến các mạch kiến thức của lớp 5.
Bên cạnh đó, Ban Giám hiệu nhà trường đã phân công cho tôi phụ trách
hoạt động của Câu lạc bộ Toán – Tiếng Việt khối 4,5 và luôn quan tâm, tạo điều
kiện để tôi được đăng các đề tổng hợp kiến thức trong tuần các em đang học và
kiến thức của các tuần trước đó lên bảng tin nhà trường (không những đối với
- Có phương pháp nghiên cứu bài, soạn bài, ghi chép giáo án một cách
thuận tiện, khoa học, chia đối tượng học sinh và có hệ thống bài tập phù hợp với
từng đối tượng học sinh cụ thể, đặc biệt là học sinh năng khiếu.
- Tham khảo nhiều sách báo, tài liệu có liên quan, giao lưu, học hỏi các
đồng nghiệp có kinh nghiệm và các trường có nhiều thành tích.
- Luôn thân thiện, cởi mở với HS, luôn mẫu mực trong lời nói, việc làm,
thái độ, cử chỉ, có tấm lòng trong sáng, lối sống lành mạnh để HS noi theo.
- Đối với học sinh: Tạo cho các em có niềm say mê hứng thú học môn
Toán.
- Học sinh cần có nhiều loại sách để tham khảo.
- Luôn phối hợp với gia đình để tạo điều kiện tốt nhất cho các em tham
gia học tập.
3.2. Kiến nghị:
* Đối với giáo viên:
- Phải coi trọng việc bồi dưỡng học sinh có năng khiếu và việc này phải
diễn ra thường xuyên. Đặc biệt học sinh có năng khiếu Toán và Tiếng Việt.
- Tăng cường luyện tập thực hành cho học sinh có năng khiếu và hướng
để các em vận dụng thường xuyên trong làm các bài Toán nâng cao.
- Cần lồng ghép các mạnh kiến thức nâng cao vào trong các tiết học Toán
để các em có cơ hội được phát huy năng lực tư duy sáng tạo của mình
* Đối với nhà trường:
- Trang bị thêm các tài liệu và đồ dùng học tập phục vụ cho môn Toán.
- Tổ chức cho học sinh có nhiều sân chơi giao lưu Toán với nhau để tạo cơ
hội cho các em được hiểu hơn và ham thích hơn môn Toán.
Trên đây là SKKN mà tôi đã tích luỹ và thực hiện trong quá trình bồi
dưỡng cho học sinh có năng khiếu môn Toán tham gia câu lạc bộ “Em yêu
Toán 4” tại đơn vị Trường Tiểu học và THCS Cát Vân. Tôi xin mạnh dạn trình
bày và mong sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học các cấp để tôi rút kinh
nghiệm và ngày một hoàn thiện hơn.
19
THANH
HÓA1, 2)- NXBGD,
Trần Diên Hiển (chủ biên).
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ XUÂN
- Tuyển tập đề thi học sinh giỏi bậc Tiểu học môn Toán - NXBGD, Đỗ
Trung Hiệu – Lê Tiến Thành (chủ biên).
- Bồi dưỡng học sinh giỏi Toán Tiểu học - NXBGD, PGS.TS.NGƯT Vũ
Dương Thụy – NGƯT. Nguyễn Ngọc Hải (chủ biên).
- Tập san Tạp chí Giáo dục hàng tháng.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BỒI DƯỠNG CHUYÊN ĐỀ DẠNG TOÁN CÓ LỜI VĂN ĐIỂN
HÌNH CHO HỌC SINH NĂNG KHIẾU THAM GIA
CÂU LẠC BỘ “EM YÊU TOÁN 4”
CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ THCS CÁT VÂN
Người thực hiện: Hoàng Thị Thu
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH&THCS Cát Vân
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Toán
21
NHƯ XUÂN, NĂM 2019