SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HÀ VĂN MAO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC
TẬP TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “KHÚC XẠ ÁNH
SÁNG” VẬT LÍ 11, NHẰM PHÁT HUY HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
Người thực hiện:
Chức vụ:
SKKN thuộc môn:
Vũ Thế Biên
Tổ trưởng chuyên môn
Vật lí
THANH HÓA NĂM 2018
MỤC LỤC
DANH MỤC
TỪ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHT:
Phiếu học tập;
Dạy học Vật lí;
VL:
Vật lí;
SKKN:
Sáng kiến kinh nghiệm.
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm qua, Ngành giáo dục nước ta đã có nhiều đổi mới về
nội dung và phương pháp dạy học. Trong đó yếu tố phát triển năng lực của
Học sinh được chú trọng và đề cao. Đặc biệt để phù hợp với đổi mới giáo dục
hiện tại và trong tương lai, thì việc tăng cường năng lực tự học cho người học
là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng của hoạt động dạy và học [4].
Đã có nhiều đợt tập huấn về phát huy tính tự học của HS cho Giáo viên
các cấp. Trong năm học 2017 - 2018 Sở giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa đã
mở đợt tập huấn cho Tổ trưởng chuyên môn các trường THPT trong tỉnh từ
ngày 20/3 đến 22/3/2018 về phương pháp kỹ thuật tổ chức hoạt động tự học
của Học sinh THPT môn Vật lí. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay tại các nhà
trường nói chung và các trường trên địa bàn các huyện miền núi của Thanh
hóa nói riêng việc này còn gặp nhiều khó khăn. Một số khó khăn có thể kể
đến: điều kiện về cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ dạy học còn thiếu thốn,
Học sinh có tính ì lớn lười vận động, lười tư duy. Phương pháp và hình thực
tổ chức hoạt động học cho HS của GV còn nghèo nàn, vẫn thiên về phương
pháp truyền thống: thầy cô giảng, Học sinh tiếp thu thụ động.
“khúc xạ ánh sáng” vật lí 11 vì đây là chương đầu tiên của phần II vật lí 11 là
phần có nhiều nội dung liên quan đến thực tiễn đời sống và gần gũi với HS.
Mặt khác, trong chương này nếu dùng PHT một cách phù hợp và kết hợp với
phương tiện hỗ trợ dạy học khác như máy chiếu projecter, máy chiếu hắt,
tivi... để HS có thể quan sát những hiện tượng, hình ảnh trực quan trong thực
tế thì hiệu quả dạy và học sẽ được nâng cao đặc biệt là khả năng tự học của
HS.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận về PHT, các loại PHT và quy trình thiết kế
PHT nhằm phát huy tính chủ động, tích cực của HS trong học tập.
Thiết kế được các mẫu phiếu học tập phù hợp chương “khúc xạ ánh
sáng” Vật lí 11. Thông qua việc thực hiện các phiếu học tập trên lớp (ở nhà)
làm nảy sinh yếu tố tìm tòi khám phá cho Học sinh, qua đó HS chủ động tìm
hiểu về vấn đề và lĩnh hội tri thức.
Ngoài ra nếu thiết kế được PHT và sử dụng chúng một cách khoa học
sẽ tăng cường được hoạt dộng nhóm, rèn luyện kỹ năng làm việc tập thể cho
HS. Qua đó làm cho HS thích thú và tự giác hơn trong học tập, từ đó nâng cao
chất lượng dạy và học của môn Vật lí ở trường THPT.
Thông qua nghiên cứu việc sử dụng PHT trong chương “khúc xạ ánh
sáng” lớp 11 đạt hiệu quả có thể mở rộng ra các chương, các bài và ở các khối
lớp khác nhau. Tất nhiên việc sử dụng PHT phải linh động phù hợp với kiểu
bài, nội dung lên lớp, không phải bài nào cũng cần đến PHT.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về thiết kế và sử dụng PHT để dạy học
chương “khúc xạ ánh sáng” Vật lí 11 nhằm tăng cường khả năng tự học của
HS tại trường THPT Hà Văn Mao - Bá Thước.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm kiểm tra kết quả vận dung đề tài ở HS
khối lớp 11 trường THPT Hà Văn Mao thông qua hoạt động dạy học trên lớp,
dự giờ, lấy ý kiến của HS, của GV và bài kiểm tra năng lực HS.
4. Phương pháp nghiên cứu
định một lượng thông tin, dữ liệu hoặc sự kiện xuất phát cần thiết cho người
học. Trong DH hợp tác, người học có thể nghiên cứu những tư liệu này theo
phương thức cá nhân trong nhóm, hoặc cộng tác với nhau trong trong nhóm
trên cơ sở phân chia dữ liệu thành những bộ phận khác nhau cho mỗi thành
viên [1].
- Chức năng công cụ hoạt động và giao tiếp: PHT còn nêu lên nhiệm vụ
học tập, những yêu cầu hoạt động, những hướng dẫn học tập, những công việc
và vấn đề người học cần sử dụng để HS thực hiện hoặc giải quyết. Thông qua
nội dung và tính chất này nó thực hiện chức năng công cụ hướng dẫn và giao
tiếp trong quá trình học tập của người học [1].
1.2. Các dạng phiếu học tập
Tùy theo các căn cứ khác nhau mà ta có các dạng PHT khác nhau:
* Căn cứ vào chức năng của phiếu học tập có thể phân PHT thành 2
dạng sau:
- Phiếu cung cấp thông tin và sự kiện: Đây là loại phiếu có nội dung là
những thông tin bổ sung để làm rõ kiến thức cho bài học. Loại phiếu này
thường được sử dụng khi dạy những bài có nội dung trừu tượng, phức tạp,
khó hiểu hoặc những bài, mục trong sách giáo khoa viết quá ngắn, HS khó có
thể tự hiểu nếu không bổ sung thêm thông tin [1]. Để xây dựng loại phiếu này,
trước hết GV cần có quá trình thu thập thông tin thành kho tư liệu, khi cần có
thể chọn lọc, xử lý thông tin một cách nhanh chóng để đưa vào phiếu.
- Phiếu là công cụ hoạt động và giao tiếp: Loại phiếu này có nội dung
là những câu hỏi, bài tập, mệnh lệnh, yêu cầu... kèm theo những hướng dẫn,
gợi ý để HS hoàn thành nhằm lĩnh hội tri thức của bài học. Loại phiếu này
được sử dụng trong rất nhiều trường hợp khác nhau như kiểm tra bài cũ, dạy
bài mới, củng cố, ôn tập [1]. Khi sử dụng loại phiếu này trong DH, GV chỉ
phải làm ít, nói ít, còn HS phải làm việc nhiều, điều này phù hợp với quan
4
chừa sẵn chỗ trống để HS thực hiện nhằm mục đích khái quát hóa, hệ thống
lại những kiến thức, kỹ năng vừa mới học [1]. Phiếu này thường được dùng
lúc gần cuối tiết học sau khi học xong bài mới, hoặc có thể dùng sau khi học
xong một phần nào đó của bài mà cần củng cố lại kiến thức của phần đó ngay.
- Phiếu dùng để giao bài về nhà: Đây là loại phiếu được HS thực hiện ở
nhà. Phiếu này dùng để ra bài về nhà là những câu hỏi, bài tập, ... có mục đích
yêu cầu HS vận dụng, ôn tập lại những kiến thức, kỹ năng vừa được học hoặc
tìm hiểu bài mới trước khi đến lớp.
* Căn cứ vào nội dung của phiếu học tập có các dạng phiếu sau:
5
- Phiếu bài tập: Phiếu bài tập là dạng phiếu yêu cầu HS làm bài tập,
trên phiếu có nội dung là những bài tập mà HS cần giải quyết. Những bài tập
này có thể được cho đáp số hoặc trình bày dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm [1].
Để giải được những bài tập này yêu cầu HS phải vận dụng linh hoạt các kiến
thức đã học, qua đó rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho HS. Loại phiếu này
thường được dùng trong tiết bài tập hoặc để củng cố, giao bài về nhà.
- Phiếu yêu cầu giải quyết tình huống: Phiếu yêu cầu giải quyết tình
huống là dạng PHT có nội dung nêu tình huống và vấn đề thảo luận hoặc
nghiên cứu yêu cầu HS phải giải quyết để lĩnh hội các tri thức mới. Loại
phiếu này thường được dùng để dạy bài mới, ra bài về nhà hoặc để kiểm tra
bài cũ.
- Phiếu thực hành: Phiếu thực hành là loại phiếu có nội dung là những
nhiệm vụ thực hành, rèn luyện các kỹ năng thực hành, thí nghiệm. Loại phiếu
này thường được sử dụng khi dạy các bài thực hành [1].
* Căn cứ vào tiêu chí phát triển kỹ năng có thể phân loại PHT thành
các dạng sau:
- Phiếu phát triển kỹ năng quan sát: Đối với loại phiếu này, nội dung
phương tiện DH phải được đáp ứng đầy đủ [4].
Phiếu học tập là một phương tiện DH do GV tự thiết kế bao gồm những
nhiệm vụ học tập được trình bày một cách logic, khoa học, trong đó GV đã
tính toán kĩ từng bước nhỏ, vừa sức với HS để các em có thể tự làm được, qua
đó có thể tự mình chiếm lĩnh kiến thức mới. PHT đồng thời cũng là công cụ
để GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS. HS sử dụng PHT như một tài
liệu học tập để thực hiện các nhiệm vụ học tập được giao nhằm lĩnh hội kiến
thức mới. Thông qua các hoạt động cá nhân hay hoạt động nhóm, HS rèn
luyện được kỹ năng học tập độc lập hay học tập hợp tác, kỹ năng trình bày ý
kiến, thảo luận,...
Khi sử dụng PHT, HS phải tự nghiên cứu SGK và các tài liệu tham
khảo, mọi HS phải tự thực hiện nhiệm vụ được giao trong PHT, hạn chế được
thói quen ỷ lại, dựa dẫm của đa số HS kém và trung bình. Trong lúc HS tiến
hành các hoạt động học tập bằng tay, các biến đổi sinh hóa được diễn ra một
cách mạnh mẽ, sâu sắc trong não của các em, giúp các em hiểu sâu và nhớ lâu
bài học. Trong quá trình thảo luận để hoàn thành phiếu, HS được tự do trình
bày ý kiến của mình trước lớp, qua đó sẽ bộc lộ những quan niệm của HS, từ
đó GV sẽ có hướng khắc phục các quan niệm của HS, đặc biệt là những quan
niệm sai lầm, không chính xác. Đồng thời, khi tiếp nhận những ý kiến đóng
góp, sửa đổi của các HS khác trong nhóm, lớp, của GV, các em sẽ phần nào tự
đánh giá được kết quả làm việc của mình.
Mặt khác, trong quá trình HS thực hiện nhiệm vụ trong PHT, qua quan
sát, GV có thể thu nhận được thông tin về năng lực, thái độ học tập của HS để
có biện pháp uốn nắn kịp thời. Đồng thời, qua các sản phẩm của quá trình làm
việc bằng tay của HS, GV có được nguồn thông tin phản hồi trung thực hơn,
từ đó điều chỉnh được PPDH của mình.
Như vậy, việc sử dụng PHT đóng một vai trò quan trọng trong DH phát
huy tính tích cực nhận thức của HS. Do đó, việc nghiên cứu thiết kế và đưa
vào sử dụng PHT trong dạy học Vật lí là rất quan trọng và cần thiết.
2. Thực trạng vấn đề
cao, hơn nữa Học sinh THPT đang hình thành thói quen tự học, tự nghiên cứu
nên rất thích hợp cho việc học tập độc lập, tự làm việc theo hướng dẫn của
PHT.
Bên cạnh đó, theo xu thế đổi mới PPDH hiện nay, nhà trường đang
khuyến khích, ủng hộ các GV tiếp cận những phương pháp mới nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập. Đây là nguồn
động viên rất lớn cho GV trong việc sử dụng các PPDH mới.
Ngoài ra, việc sử dụng PHT còn giúp GV đánh giá được thái độ và khả
năng học tập của HS thông qua quá trình quan sát HS làm việc với phiếu và từ
kết quả thể hiện trên phiếu học tập.
* Khó khăn
Hầu hết GV đều gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình thiết kế và sử
dụng PHT, trong đó khó khăn mà không phải ai cũng khắc phục được đó là
việc soạn PHT mất nhiều thời gian, GV phải đầu tư nhiều công sức, việc in
sao phiếu lại rất tốn kém đối với mức thu nhập của người GV. Hơn nữa, thời
gian tiết học thì quá ngắn không đủ để HS làm việc với phiếu. Ngoài ra, cơ sở
vật chất, thiết bị, đồ dùng DH trong tình hình hiện nay còn lạc hậu, thiếu thốn,
8
số lượng HS trong một lớp học còn quá đông,... chưa đáp ứng được yêu cầu
khi sử dụng PHT.
3. Các biện pháp tiến hành nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về thiết kế và sử dụng PHT trong DHVL.
Các tài liệu liên quan đến phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực.
- Nghiên cứu chuẩn kiến thức kỹ năng yêu cầu trong chương 6 “khúc
xạ ánh sáng”. Chương trình SGK, SBT Vật lí 11 và các sách tham khảo.
- Thiết kế và sử dụng PHT trong DH chương “khúc xạ ánh sáng” Vật lí
11 chương trình chuẩn.
- Thiết kế giáo án mẫu về sử dụng PHT của một bài trong chương
cường sử dụng kết hợp kênh hình và kênh chữ nhằm giúp HS tiếp nhận thông
tin nhanh hơn và nhớ bài tốt hơn.
Bước 4: Biên soạn phiếu học tập
Dựa vào mục tiêu, nội dung, tài liệu và phương tiện đã xác định, đồng
thời dựa vào mức độ nhận thức của HS trong lớp để GV đưa ra các câu hỏi,
bài tập cho phù hợp. Các thông tin, nhiệm vụ học tập được giao trong phiếu
phải được trình bày một cách rõ ràng, ngắn gọn dưới dạng tường minh. Các
câu hỏi, nhiệm vụ học tập đưa ra trong phiếu phải đảm bảo mọi HS đều hiểu
được phải làm gì. Thông thường, những yêu cầu đưa ra cần phải chỉ rõ căn cứ,
nguồn để HS có thể dễ dàng hoàn thành nhiệm vụ đề ra, như: “Căn cứ vào....
hãy cho biết...”, “Dựa vào... hãy chứng minh...”, “Từ thí nghiệm ... hãy nhận
xét...”. Sau mỗi câu hỏi, bài tập cần có một khoảng trống thích hợp để HS
trình bày kết quả. Khối lượng công việc cần phù hợp với thời gian suy nghĩ và
thời gian trình bày phiếu. Mỗi phiếu có thể thể hiện một đơn vị kiến thức hoặc
nhiều đơn vị kiến thức.
4.2. Phiếu học tập để tổ chức học bài mới
Phiếu dùng trong dạy bài mới là loại phiếu hỗ trợ cho quá trình nhận
thức bài mới của HS. Trong phiếu có ghi rõ các yêu cầu, được sắp xếp có hệ
thống và logic để HS thực hiện nhằm tự lực tìm ra kiến thức mới của bài học
[1]. Thông thường, phiếu này phải có gợi ý, hướng dẫn để HS có thể tự lực
hoàn thành phiếu. Loại phiếu này có thể sử dụng cho một hoặc một vài đơn vị
kiến thức hay có thể cho cả bài học (phụ lục 1).
Việc sử dụng PHT trong dạy bài mới có rất nhiều ưu điểm như phát huy
tính tích cực học tập của HS, tự lực tìm ra kiến thức mới, tiết kiệm được thời
gian giao câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ học tập, GV có thể nhận biết được thái
độ, năng lực học tập của từng HS... Bên cạnh đó, việc sử dụng phiếu cũng có
những hạn chế như việc giao tiếp bằng lời giữa GV và HS không nhiều,
không phải bất cứ HS nào cũng hiểu được và làm được những yêu cầu mà GV
đưa ra để có thể tiếp thu được bài mới, do đó, cần có sự hướng dẫn riêng đối
với những HS này.
hợp với HS cả về mức độ và số lượng, và phải đảm bảo rèn luyện được cho
HS các kỹ năng vận dụng kiến thức. Tiếp theo, GV chọn những yêu cầu mang
tính chất sáng tạo nhiều hơn, vì khi tự học ở nhà các em sẽ chủ động hơn về
thời gian cũng như tài liệu tham khảo. Vì vậy, GV phải đầu tư, tránh đưa ra
những yêu cầu có nội dung giống hệt như SGK hay SBT.
Ngoài ra, trong PHT để HS tự học ở nhà GV nên hướng dẫn HS chuẩn
bị trước nội dung kiến thức, cũng như chuẩn bị một số công việc cho bài học
sau. Ngay cả trong nội dung luyện tập cũng cần thiết mang những yếu tố
chuẩn bị cho việc tiếp thu kiến thức mới. Sự chuẩn bị này giúp cho việc tiếp
thu kiến thức của các em được thuận lợi hơn, các em nhanh chóng nắm bắt
được kiến thức mới. Những yêu cầu mà GV cho HS chuẩn bị không những
giúp cho HS đỡ bỡ ngỡ trước kiến thức mới mà còn giúp HS giải quyết được
nhanh chóng phần kiến thức của bài mới. Từ đó, GV sẽ có nhiều thời gian
hơn trong khâu củng cố, giúp HS hệ thống kiến thức được sâu sắc hơn (phụ
lục 3).
4.4. Nguyên tắc sử dụng phiếu học tập
Khi sử dụng PHT trong DHVL để đạt hiệu quả tốt, Tôi thấy rằng Giáo
viên cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
4.4.1. Sử dụng đúng mục đích, đúng nội dung, đúng đối tượng
Các loại PHT có tác dụng hình thành kiến thức, rèn luyện các kỹ năng
khác nhau. Nếu là bài lý thuyết thì PHT yêu cầu khai thác kiến thức lý thuyết,
11
nếu là bài thực hành thì PHT phải yêu cầu rèn luyện kỹ năng thí nghiệm, thực
hành.
Việc sử dụng PHT cũng cần lưu ý đến đối tượng HS ở các vùng miền
khác nhau và trình độ nhận thức chung của lớp mà thiết kế và sử dụng PHT
có nội dung phù hợp.
4.4.2. Sử dụng vừa đủ số lượng phiếu học tập trong một tiết học
+ Trước hết tôi họp nhóm chuyên môn phân công GV dạy ở hai lớp
khác nhau và dự giờ cùng một bài trong chương “khúc xạ ánh sáng” Vật lí 11.
12
Trong đó, một lớp dạy theo phương pháp truyền thống bình thường, một lớp
dùng PHT. Thông qua việc dự giờ tôi đã quan sát HS làm việc với PHT kết
hợp với lấy ý kiến của Học sinh về việc dùng PHT. Hầu hết HS đều hứng thú
với PHT, bản thân GV giảng dạy cũng thoải mái đỡ vất vả hơn vì làm việc ít
hơn. Thông qua quan sát HS làm việc, GV cũng nhận định được năng lực của
mỗi HS thông qua các hoạt động nhóm.
+ Sau đó bản thân tôi trực tiếp dạy chương “khúc xạ ánh sáng” ở hai
lớp (học theo chương trình chuẩn) đó là lớp 11A2 và 11A3 trường THPT Hà
Văn Mao năm học 2016 - 2017. Trong đó lớp 11A2 dùng PHT trong dạy học
còn lớp 11A3 không dùng PHT. Sau khi kết thúc chương tôi cho HS hai lớp
làm bài kiểm tra (phụ lục 5) và kết quả như sau:
TC
Lớp
Số HS
Giỏi
Khá
Trung
bình
Yếu
(100%)
(8,57%)
(34,29%)
(45,71%)
(11,43%)
kiểm tra
11A2
11A3
+ Trong năm học 2017 - 2018 tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở hai
lớp 11A4 và 11A6. Trong đó, lớp 11A6 tôi sử dụng PHT trong dạy học còn
11A4 thì không. Sau khi kết thúc chương 6 tôi tiến hành kiểm tra ở hai lớp kết
quả như sau:
TC
Lớp
11A4
11A6
Số HS
4
17
18
2
(100%)
(9,7%)
(41,5%)
(43,9%)
(4,9%)
kiểm tra
+ Qua kết quả thực nghiệm trong hai năm học 2016 - 2017 và 2017 2018 cho thấy, việc sử dụng PHT trong dạy học đã có tác động tích cực đến
kết quả học tập của HS. Ngoài kết quả thể hiện ở điểm số thì việc dùng PHT
trong dạy học còn hình thành các kỹ năng cần thiết cho Học sinh như làm việc
tập thể, thuyết trình...vv.
13
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Đối với tổ, nhóm chuyên môn: cần tăng cường đổi mới sinh hoạt
chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học. Qua đó trao đổi và thảo luận về
việc thiết kế và sử dụng PHT cho bài học đó nếu bài dạy phù hợp cho việc
dùng PHT.
- Nhà trường: cần có chế độ khuyến khích, ủng hộ GV về điều kiện vật
chất cũng như tinh thần trong việc áp dụng phương pháp dạy học có sử dụng
14
PHT vì việc dạy học có sử dụng PHT Giáo viên cần có nhiều thời gian để
thiết kế phiếu, đồng thời cần photo phiếu cho từng HS (hoặc nhóm HS).
- Các Sở, Ban, Ngành: cần có sự quan tâm tạo điều kiện về cơ sở vật
chất cho nhà trường như: giảm bớt số lượng HS trên một lớp, tăng cường các
thiết bị DH như máy chiếu, bảng học nhóm, phim giáo khoa.
Trên đây là nội dung SKKN của tôi, chắc chắn còn có nhiều thiếu sót
rất mong được quý Thầy cô và đồng nghiệp tham khảo, góp ý kiến.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh hóa, ngày 25 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN
Vũ Thế Biên
15
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh
Kết quả
giá, xếp loại đánh giá
xếp loại
Ứng dụng mối liên hệ giữa Sở Giáo dục
chuyển động tròn đều và và Đào tạo
dao động điều hòa, để giải Thanh Hóa
bài toán về dao động điều
hòa.
Kinh nghiệm giải nhanh bài Sở Giáo dục
toán cực trị trong dòng điện và Đào tạo
xoay chiều không phân Thanh Hóa
nhánh.
Năm học
được đánh
giá xếp loại
Loại C
2012-2013
Loại C
2014-2015
là gì?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
2. Các PHT dùng trong dạy học bài: “Phản xạ toàn phần”
PHIẾU HỌC TẬP SỐ ......
(Dùng trong DH phần I bài 27. Phản xạ toàn phần, SGK vật lý 11)
----1. Chiếu tia sáng đi từ môi trường chiết quang kém (chiết suất n 1) sang môi
trường chiết quang hơn (chiết suất n2) (Hình 27.1- SGK). Thay đổi góc tới i.
Quan sát thí nghiệm và áp dụng định luật “khúc xạ ánh sáng” hãy trả lời các
câu hỏi sau:
a) Góc tới i và góc khúc xạ r có thể lấy các giá trị trong khoảng nào?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
b) Góc tới i và góc khúc xạ r góc nào lớn hơn? Vì sao?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
c) Ta đã biết nếu tăng dần góc tới i thì góc khúc xạ r cũng tăng theo. Góc tới i
đạt tới giá trị lớn nhất thì góc khúc xạ r đạt giá trị giới hạn i gh. Lập công thức
tính igh theo n1, n2?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
d) Kết luận về sự tồn tại tia khúc xạ:
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Phụ lục 2: Các PHT Dùng để củng cố bài
1. PHT dùng củng cố bài trong DH bài 26: ““khúc xạ ánh sáng””
PHIẾU HỌC TẬP SỐ .......
(Dùng trong phần củng cố bài 26: “khúc xạ ánh sáng”, SGK vật lý 11).
---1. Hình vẽ biểu thị đúng một tia sáng đi từ môi trường kém chiết quang (n 1)
sang môi trường chiết quang hơn (n2) là:
A.
B.
n1
C.
n1
n2
n2
D.
n1
B. 48º.
C. 22º.
D. 41°.
2. PHT dùng củng cố bài trong DH bài 27: “Phản xạ toàn phần”
PHIẾU HỌC TẬP SỐ .......
(Dùng củng cố trong dạy học bài 27. Phản xạ toàn phần, SGK vật lý 11)
----Chọn phương án đúng:
Câu 1: Khi ánh sáng đi từ môi trường có chiết suất n 1 sang môi trường có
chiết suất n2 (với n1< n2) thì góc khúc xạ giới hạn được xác định bởi công
thức
A.
B.
C.
D.
Câu 2: Một tia sáng (đơn sắc) truyền trong môi trường (1), chiết suất n 1 tới
mặt phân cách với môi trường (2), chiết suất n 2≠n1. Nếu tia này phản xạ toàn
phần thì góc tới giới hạn được xác định bởi hệ thức nào?
A.
.
B.