Vận dụng quan điểm dạy học hiện đại thiết kế bài học chương khúc xạ ánh sáng vật lý 11 nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trung học phổ thông miền núi - Pdf 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
 VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC HIỆN ĐẠI THIẾT KẾ
BÀI HỌC CHƢƠNG “KHÚC XẠ ÁNH SÁNG” VẬT LÝ 11
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC
CỦA HỌC SINH THPT MIỀN NÚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên, năm 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn:
Thầy giáo PGS. TS. Tô Văn Bình đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt
thời gian thực hiện đề tài.
Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong
khoa Sau đại học, khoa Vật lí, thư viện trường Đại học Sư phạm đã tạo mọi điều
kiện cho việc học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Các trường: THPT Việt Vinh; THPT Kim Ngọc, các đồng nghiệp, các em học
sinh đã tận tình giúp đỡ trong quá trình tìm hiểu thực tế và kiểm nghiệm đề tài.
Toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ và động viên!
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014

Tác giả

Đỗ Thị Minh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Trang

1.4.4. Thiết kế các phương tiện giảng dạy- học tập và học liệu 34
1.4.5. Thiết kế tổng kết và hướng dẫn học tập 34
1.4.6. Thiết kế môi trường học tập 35
1.5.2. Phương pháp điều tra 37
Kết luận chương 1 42
Chƣơng 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC HIỆN ĐẠI THIẾT KẾ
MỘT SỐ BÀI HỌC CHƢƠNG “ KHÚC XẠ ÁNH SÁNG” VẬT LÝ 11
NHẰM PHÁT HUY TINH TÍCH CỰC,TỰ LỰC CỦA HỌC SINH THPT
MIỀN NÚI 43
2.1. Vận dụng LLDH hiện đại thiết kế bài học nhằm phát huy tính tích cực, tự
lực của học sinh THPT 43
2.1.1. Đặc điểm dạy học vật lý 43
2.1.2. Thiết kế bài học vật lí nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
THPT Miền núi 45
2.2. Phân tích vị trí, vai trò, cấu trúc chương “Khúc xạ ánh sáng” (Vật lý 11 cơ bản) 47
2.2.1. Vị trí,vai trò chương “Khúc xạ ánh sáng” 47
2.2. Cấu trúc của chương “ Khúc xạ ánh sáng” 47
2.2.3 Mục tiêu cần đạt khi dạy chương “Khúc xạ ánh sáng” theo chuẩn kiến
thức kĩ năng 48
2.3. Vận dụng quan điểm dạy học hiện đại thiết kế một số bài học chương
“Khúc xạ ánh sáng” vật lý 11 nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
THPT Miền núi 49
Kết luận chương 2 88
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 89
3.1. Mục đích, nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm (TNSP). 89
3.1.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm. 89
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 89
3.2. Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm. 89
3.2.1. Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 89
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Phương pháp dạy học
PPDHTC
Phương pháp dạy học tích cực
TTC
Tính tích cực
TLTHT
Tự lực trong học tập
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
THPT
Trung học phổ thông
SGK
Sách giáo khoa
TN
Thực nghiệm
ĐC
Đối chứng iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang

Bảng 1.1: Sử dụng sách phục vụ cho giảng dạy của giáo viên 38
Bảng 1.2: Phương pháp dạy học của giáo viên 39
Bảng 1.3: Mục đích, động cơ, hứng thú và cách thức học môn vật lý của HS 40
Bảng 1.4: Khả năng nhận thức, mức độ tích cực, tự lực của HS 40
Bảng 1.5: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình học tập môn Vật lí 41
1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Luật Giáo dục, điều 28.2 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm
của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo
nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Tư tưởng trên cũng được thể hiện trong “Chiến lược phát triển giáo dục
2001- 2010” ( ban kèm quyết định số 201/2001/QĐ – TTg ngày 28 tháng 12 năm
2001) của Thủ tướng Chính phủ ở mục 5.2: “ Đổi mới và hiện đại hóa phương
pháp giáo dục. Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi
sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy
cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống,
có tư duy phân tích tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường
tính chủ động tích cực của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập….”
Tuy nhiên, thực tiễn dạy và học môn vật lý trong nhà trường THPT Miền núi
hiện nay cho thấy, đa số giáo viên vẫn chỉ quan tâm đến việc truyền thụ kiến thức mà
ít chú trọng đến việc phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh. Năng lực tư duy
của học sinh còn rất nhiều hạn chế, dẫn đến chất lượng giáo dục còn ở mức rất thấp.
Phương pháp dạy học ở trường THPT Miền núi hiện nay chủ yếu vẫn là phương
pháp truyền thống – thuyết trình có kết hợp với đàm thoại, thông báo kiến thức theo
kiểu “đọc - chép” hay còn được gọi là truyền thụ một chiều. Giáo viên chưa phải là
người tổ chức cho học sinh hoạt động nhận thức, học sinh chưa tích cực, tự lực học

có thể phát huy tính tích cực, tự lực, của học sinh THPT Miền núi.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động học của học sinh lớp11 THPT và hoạt động dạy của giáo viên
trong quá trình dạy học.

3
4.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Nội dung chương trình và phương pháp dạy học chương “Khúc xạ ánh sáng”Vật
lý 11 ở các trường THPT Miền núi.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc phát huy tính tích cực, tự lực của học
sinh THPT Miền núi.
- Nghiên cứu quan điểm dạy học hiện đại.
- Điều tra thực trạng dạy và học chương “Khúc xạ ánh sáng” hiện nay ở các
trường THPT thuộc tỉnh Hà Giang theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của học
sinh.
- Nội dung, cấu trúc và đặc điểm của chương “Khúc xạ ánh sáng”
- Vận dụng quan điểm của dạy học hiện đại để thiết kế các hoạt động dạy học
chương “Khúc xạ ánh sáng” Vật lý 11 nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học
sinh THPT Miền núi.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết, đánh giá tính khả thi và
hiệu quả của việc thiết kế hoạt động dạy học đã đề xuất. Nêu được các kết luận về ý
nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu thực tiễn ( Điều tra thực tế )
- Thực nghiệm sư phạm ( Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí số
liệu)
7. Phạm vi nghiên cứu

nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển. Ví dụ phương pháp học tập tích cực.
Theo nghĩa khác thì tích cực là đem hết khả năng và tâm trí vào việc làm. Ví
dụ học tập tích cực.
Tích cực là chủ động, hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ được giao.
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã
hội. Để tồn tại và phát triển, con người luôn tìm tòi, khám phá ra các quy luật, định
luật để phục vụ cho con người, giúp con người có thể làm việc hiệu quả, giải thích
được các hiện tượng trong tự nhiên, hay dự đoán trước được hiện trượng.Tuy vậy
TTC có mặt tự phát và tự giác. Theo TSKH Thái Duy Tuyên mặt tự phát của TTC là
những yếu tố tiềm ẩn bên trong, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, linh hoạt
trong đời sống hàng ngày. Mặt tự giác của TTC là trạng thái tâm lý. TTC có mục đích
và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó. TTC tự giác thể
hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, tính tò mò trong khoa học… Nhờ TTC
tự giác, có ý thức, con người có thể đạt được những tiến bộ trong đời sống và phát
triển nhanh hơn so với tính tích cực tự phát. Vì vậy hình thành và phát triển TTC xã
hội là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người
năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng.
+ Tích cực trong học tập
Học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học. thông qua quá trình học tập,
con người nhận thức được, lĩnh hội được những tri thức loài người đã tích luỹ được,
đồng thời có thể nghiên cứu và tìm ra những tri thức mới cho khoa học.

6
TTC trong hoạt động học tập về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát
vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Trong hoạt động học tập, nó diễn ra ở nhiều phương diện khác nhau: tri giác tài liệu,
thông hiểu tài liệu, ghi nhớ, luyện tập, vận dụng… và được thể hiện ở nhiều hình
thức đa dạng phong phú.
* Các hình thức biểu hiện
- Xúc cảm học tập : Thể hiện ở niềm vui, sốt sắng thực hiện yêu cầu của giáo

: “TTC trong hoạt động nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, được đặc
trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ, Với nghị lực cao trong quá trình nắm
vững kiến thức cho chính mình”.
+ Các cấp độ của tính tích cực
- Tính tích cực bắt trước tái hiện: Xuất hiện do tác động kích thích bên ngoài
( yêu cầu của giáo viên), nhằm chuyển đối tượng từ ngoài vào trong theo cơ chế “
hoạt động bên ngoài và bên trong có cùng cấu trúc”. Nhờ đó kinh nghiệm hoạt động
được tích luỹ thông qua kinh nghiệm của người khác.
Tái hiện và bắt chước là TTC ở mức độ thấp. Có thể giáo viên thay đổi
một chút dữ kiện là học sinh lúng túng không làm được. Nhưng nó lại là tiền đề
cơ bản giúp các em nắm được nội dung bài giảng để có điều kiện nâng TTC lên
mức cao hơn.
- Tính tích cực tìm tòi: xuất hiện cùng với quá trình hình thành khái niệm,
giải quyết các tình huống nhận thức, tìm tòi các phương thức hành động trên cơ sở
có tính tự giác, có sự tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú và ý trí của học sinh.
Loại này xuất hiện không chỉ do yêu cầu của giáo viên mà còn hoàn toàn tự phát
trong quá trình nhận thức. Nó tồn tại không chỉ ở trạng thái, cảm xúc mà còn ở dạng
thuộc tính bền vững của hoạt động. Ở mức độ này tính độc lập cao hơn mức trên,
cho phép học sinh tiếp nhận nhiệm vụ và tự tìm cho mình phương tiện thực hiện.
Ý thức tìm tòi giúp các em say mê đi tìm kiến thức mới, khai thác kiến thức
đã học theo nhiều hướng khác nhau, kiểm tra lại những kiến thức đã học trước đó.
Ý thức tìm tòi là phẩm chất của trí tuệ. Đó là sự độc lập trong tư duy, tự mình phát
hiện ra vấn đề, tự mình xác định phương hướng và tìm cách giải đáp, tự mình kiểm
tra, thử lại đánh giá kết quả đạt được. Đây cũng là tiền đề cơ bản của tính tích cực
sáng tạo.

8
- Tính tích cực sáng tạo: Thể hiện khi chủ thể nhận thức tự tìm tòi kiến thức
mới, tự tìm ra phương thức hành động riêng và trở thành phẩm chất bền vững của cá
nhân. Đây là mức độ biểu hiện tính tích cực cao nhất. Học sinh có tính tích cực sáng

điều kiện:
+ Có phương tiện vật chất kĩ thuật tối thiểu cho học tập.
+ Có kiến thức, kĩ năng cơ bản, biết cách khắc phục khó khăn, niềm tin vào
năng lực bản thân
+ Phải ý thức được nhiệm vụ, cũng như mục đích học tập của bản thân học
sinh, tạo được hứng thú nhận thức cá nhân.
+ Phải biết tiến hành các thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái
quát hoá, trừu tượng hoá…và các suy luận logic: Quy nạp, diễn dịch…để rút ra kết
luận.
+ Biết tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập, từ đó tự chỉnh quá trình học tập
cho phù hợp.
+ Được học trong môi trường sư phạm thuận lợi.
1.1.2 Tính tự lực của học sinh
* Quan điểm về tính tự lực của học sinh
+ Theo nghĩa rộng:
Bản chất của tính tự lực trong học tập là sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho sự tự
học. Sự chuẩn bị này là tiền đề quan trọng cho hoạt động học tập có mục đích, cho
sự điều chỉnh đảm bảo hoạt động có hiệu quả. Nó giúp cho người học thực hiện có
kết quả trách nhiệm học tập của mình, sử dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm và
những phẩm chất cá nhân của mình một cách đúng đắn hợp lý giữa sự tự kiểm tra
và biết xây dựng lại hoạt động của mình khi gặp những trở ngại mà bản thân chưa
có sự đề phòng trước.
Sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho sự tự học thường biểu hiện ở việc:
- Học sinh tự ý thức được nhu cầu học tập của mình, yêu cầu của xã hội tập
thể hoặc nhiệm vụ do người khác đề ra đối với việc học tập của mình.

10
- Học sinh suy nghĩ kĩ, đánh giá đúng những điều kiện hoạt động học tập của
mình, tích cực hoá những kiến thức kinh nghiệm đã tích luỹ có liên quan đến việc
giải quyết các yêu cầu và nhiệm vụ học tập. Trên cơ sở đó xác định những cách thức

Tính tự lực nhận thức bao gồm những thành phần cấu trúc sau:
- Động cơ nhận thức: Thể hiện ở nhu cầu, hứng thú nhận thức, động cơ có
tính chất xã hội và thế giới quan, thiếu động cơ nhận thức thì không thể diễn ra hoạt
động nhận thức học tập.
- Năng lực học tập : Đặc trưng bằng tri thức, kĩ năng kĩ sảo vững vàng làm
chỗ dựa cho hoạt động nhận thức, bằng sự phát triển trí tuệ, phương pháp suy nghĩ.
Nhờ đó, người học có thể dễ dàng tự mình xác định được nhiệm vụ nhận thức, thay
đổi những cách thức hành động của mình để phù hợp với những hoàn cảnh mới và
biết đánh giá đúng những yêu cầu và nhiệm vụ đã đề ra. Từ đó mới có thể tự lĩnh hội
tri thức mới từ những nguồn nhận thức khác nhau, có thái độ phê phán, bình phẩm
trong học tập, biết vận dụng những kiến thức đã tiếp thu được để tự học, giải quyết
nhiệm vụ do thực tiễn học tập và thực tiễn cuộc sống đặt ra. Nhờ đó, niềm tin để bảo
vệ ý kiến của mình, bảo vệ chân lý.
- Sự tổ chức học tập là sự thống nhất giữa phương pháp suy nghĩ và phương
pháp lao động chung của hoạt động tự lực nhận thức.
- Hành động ý chí: thể hiện ở tính mục đích, tính kiên trì, tinh thần kắc phục
khó khăn, nhằm thực hiện có kết quả nhiệm vụ học tập.
* Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tính TLTHT của học sinh như
Giáo viên, cha mẹ học sinh, việc học tập hợp tác với bạn, bản thân người học sinh.
- Giáo viên : Trong quá trình giảng dạy, giáo viên sử dụng các thủ thuật để
hình thành ở học sinh nhu cầu hiểu biết, hứng thú nhận thức, từ đó hình thành động
cơ nhận thức. Năng lực học tập của học sinh có được là nhờ giáo viên giúp họ
phương pháp suy nghĩ, các phương pháp tự học như phương pháp tiếp nhận và sử lý
thông tin, phương pháp giảp quyết vấn đề để tích luỹ tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ
xảo. Trong quá trình học tập tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập dưới sự hướng
dẫn của giáo viên thì trí tuệ của họ cũng phát triển. Ngay đến tính tổ chức học tập và

12
hành động ý trí cũng được hình thành nhờ vào sự giúp đỡ của giáo viên. Tuỳ theo
trình độ học vấn và sự quan tâm của cha mẹ học sinh mà ảnh hưởng của họ đến việc

tâm hay không cũng như giáo viên bộ môn có sử dụng một cách nhiệt tình các biện
pháp để phát huy phẩm chất này ở họ hay không.
* Biện pháp dạy học phát huy tính tự lưc trong tự trong học tập
Ta có thể đưa ra một định nghĩa về biện pháp dạy học như sau : Biện pháp
hay thủ thuật dạy học là những chi tiết riêng biệt hay những yéu tố cấu thành của
phương pháp.
Người giáo viên chọn ra những phương pháp và thủ thuật công tác nào có thể
đảm bảo cho học sinh những tri thức cần thiết, thức tỉnh tính tích cực tư duy ở các
em, làm phát triển và duy trì hứng thú dối với việc học tập của các em .
Phương pháp bao gồm những thành phần hợp thành sau đây:
- Mục đích dự kiến của chủ thể, tức là kết quả cuối cùng của phương pháp ,
được hình dung trườc bằng tư duy và hy vọng sẽ đạt tới .
- Hoạt động của chủ thể .
- Phương tiện của hoạt động đó .
- Sự vận động của khách thể tới đích .
- Kết quả đạt được
Chính những phàn hợp thành nêu trên là những biện pháp của phương pháp.
* Các biện pháp dạy học nhằm phát huy tính TLTHT của học sinh
Thế nào là biện pháp phát huy tinh TLTHT của học sinh?
Đó là những thủ thuật do giáo viên sử dụng nhằm tác động vào các thành
phần của tính TLTHT của học sinh. Về phía học sinh, phải tích cực hưởng ứng và
làm theo sự hướng dẩn của giáo viên. chẳng hạn như khi giáo viên nêu câu hỏi có
liên quan đến nội dung bài học thì học sinh phải chú ý lắng nghe, tích cực suy nghĩ
để trả lời . Từ đó hình thành nhu cầu nhạn thức là yếu tố tiền đề, nền tảng cua tính
TLTHT của học sinh.
Theo các quan điểm dạy học mới thì vai trò truyền thụ tri thức của giáo viên
từng bước giảm dần, thay vào đó là vai trò tự học của học sinh có sự hướng dẫn của
giáo viên ngày càng tăng lên. Cho nên , các biện pháp nhằm phát huy tính TLTHT

14

chí) trong mô hình tâm lý của hoạt động nhận thức để chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện
kĩ năng. Nhưng để có tính TLTHT thì học sinh phải có phương pháp học tập có
năng lực và tính tổ chức học tập nữa. Chính vì vậy có thể nói tính tích cực nhận thức
có liên hệ với TLTHT nhưng hai phẩm chất này không đồng nhất với nhau được vì
về mặt cấu trúc chúng có sự khác nhau.
1.2. Quan điểm dạy- học trong dạy học hiện đại [18]
Hoạt động dạy và hoạt động học là sự tương tác lẫn nhau giữa hai mặt của
một hoạt động: hoạt động dạy học. Sự tồn tại và phát triển của mặt này quy định sự
tồn tại và phát triển của mặt kia.
1.2.1. Sự tương tác giữa người dạy, người học và đối tượng dạy học
Trong bất kì quá trình dạy học nào cũng tồn tại sự tương tác giữa ba yếu tố:
người dạy, người học và đối tượng dạy học.
Đối tượng dạy học là hoạt động của người học hoặc chính bản thân người học
là các chủ thể ý thức, năng động, sáng tạo, có tâm hồn nhạy cảm và đang trong quá
trình phát triển. Đối tượng và nội dung hoạt động dạy học có nhiều điểm khác với nội
dung lao động khác. Đây không phải là quan hệ chủ thể khách thể (người lao động-
đối tượng lao động) như vẫn thấy ở trong các loại hình lao động sản xuất mà là quan
hệ chủ thể - chủ thể (người dạy- người học). Trong hệ thống giáo dục trước đây, mối
quan hệ giữa người dạy và người học được hiểu là chủ thể - đối tượng trong đó giáo
viên là chủ nhân toàn quyền quyết định mục tiêu, nội dung và phương thức tác động
đến người học, còn người học là vật thụ động trước uy lực của người thầy. Vì vậy
hướng tác động chính là từ giáo viên đến học sinh, thông qua kênh chủ yếu là truyền
giảng và các phương pháp giáo dục độc đoán khác của thầy.
Ngày nay, hoạt động dạy học được quy về các hoạt động định hướng, giúp
đỡ, tổ chức, điều chỉnh và động viên hoạt động học tập của người học. Các cung bậc
hoạt động của người dạy tùy thuộc vào khả năng của người học, đây chính là bản
chất của dạy học hiện đại. Trường hợp lí tưởng nhất, người dạy chỉ đóng vai trò
hướng đạo, chủ yếu là định hướng cho người học hoạt động trong môi trường đối

16

Đối tượng học
Giáo viên Học sinh

Đối tượng học

Trích đoạn Phương pháp điều tra Thiết kế bài học vật lí nhằm phát huy tính tích cực,tự lực của học sinh Vị trí,vai trò chương “Khúc xạ ánh sáng” Các kết quả định tính của thực nghiệm sư phạm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status