Việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành Hà Nội - Pdf 57

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ KIM HUỆ

VIỆC LÀM CỦA NỮ THANH NIÊN
Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ KIM HUỆ

VIỆC LÀM CỦA NỮ THANH NIÊN
Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62 31 01 02

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN QUANG THUẤN

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu, số

Trang
1
8
8
16
23
28
28
44
53

65
76

3.1. Những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội các
huyện ngoại thành Hà Nội ảnh hưởng đến việc làm của nữ thanh niên 76
3.2. Thực trạng việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành
Hà Nội
87
3.3. Đánh giá chung về việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại
thành Hà Nội
111
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VIỆC LÀM
CỦA NỮ THANH NIÊN Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ
NỘI ĐẾN NĂM 2025-2030

4.1. Phương hướng phát triển việc làm của nữ thanh niên ở các huyện
ngoại thành Hà Nội
4.2. Những giải pháp chủ yếu để phát triển việc làm của nữ thanh niên ở
các huyện ngoại thành Hà Nội

:

Công nghiệp hoá, đô thị hoá

DNNVV

:

Doanh nghiệp nhỏ và vừa

FAO

:

Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc

GDP

:

Tổng sản phẩm quốc nội

ILO

:

Tổ chức Lao động quốc tế

KCN


:

Nông thôn mới

PTKT

:

Phát triển kinh tế

THCS

:

Trung học cơ sở

THPT

:

Trung học phổ thông

TNCS HCM

:

Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

TP.HCM


Bảng 2.1:
Bảng 2.2:
Bảng 2.3:
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:
Bảng 3.3:

Bảng 3.4:

Bảng 3.5:
Bảng 3.6:
Bảng 3.7:
Bảng 3.8:
Bảng 3.9:
Bảng 3.10:
Bảng 3.11:
Bảng 3.12:
Bảng 3.13:

Số lượng và phân bố phần trăm thanh niên đang làm việc
Tỷ số việc làm trên dân số của thanh niên và tỷ số việc làm
trên dân số của dân số từ 15 tuổi trở lên
Cơ cấu tuổi của lao động có việc làm chia theo vị thế
việc làm
Cơ cấu đất sử dụng tính đến 31/12/2016
Một số chỉ tiêu kinh tế chính giai đoạn 2005 - 2016
Diện tích, dân số, mật độ dân số và đơn vị hành chính
tính đến 31/12/2016 của các huyện ngoại thành thành
phố Hà Nội
Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động chia

85
88
89
91
91
93
94
98
100


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
Trang
Biểu đồ 2.1:

Tỷ lệ phân bổ lực lượng lao động theo nhóm tuổi và
thành thị/nông thôn, năm 2017

Biểu đồ 3.1:

41

Mạng lưới các trường học trên địa bàn các huyện ngoại
thành Hà Nội

83

Biểu đồ 3.2:

Tỉ lệ đi học theo các vùng kinh tế xã hội

96

Biểu đồ 3.7:

Cơ cấu lao động nông nghiệp Hà Nội 2017

96

Biểu đồ 3.8:

So sánh cơ cấu lao động nông nghiệp ở huyện Ba Vì và
Hoài Đức

Hình 3.1:

97

Bản đồ địa giới hành chính các huyện ngoại thành thành
phố Hà Nội

77


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm là một trong những yêu cầu cơ bản nhất của đời sống con người.
Đối với quốc gia, việc làm có tác động đối với sự phát triển kinh tế và ổn định
đời sống xã hội... của mỗi nước, giúp thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã

bất cập về số lượng thấp, chất lượng không ổn định, cơ cấu mất cân đối, nghề
nghiệp chủ yếu là việc lam giản đơn, thu nhập thấp... Mặc dù có lợi thế là lực
lượng thanh niên của thủ đô, tuy nhiên NTN ở các huyện ngoại thành phân tán
trên địa bàn rộng, trình độ không đều, những vấn đề tập quán, văn hóa vùng
miền còn nhiều khác biệt... Mặt khác, xuất phát từ cơ chế phối hợp giữa các cơ
quan ban ngành trong việc thực thi vấn đề việc làm còn nhiều bất cập. Chất
lượng đội ngũ thực hiện công tác phát triển việc làm không đồng đều, vai trò
xung kích của tổ chức Đoàn các cấp với vấn đề việc làm của thanh niên còn mờ
nhạt và các nội dung, phương thức tạo việc làm của NTN ở các huyện ngoại
thành Hà Nội còn nhiều hạn chế...
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới, để có cơ sở lý luận và những đánh giá toàn
diện, tổng quát dựa trên những căn cứ khoa học khách quan vấn đề việc làm của
NTN trong trong bối cảnh mới. Từ đó, soi chiếu vào vấn đề việc làm của NTN ở
các huyện ngoại thành. Coi đó là căn cứ để đề xuất các phương hướng và giải
pháp phù hợp nhằm hoàn thiện và phát triển việc làm của làm của NTN ở các
huyện ngoại thành trong quá trình xây dựng và phát triển nông thôn của thủ đô
văn minh hiện đại. Đó là lý do vấn đề "Việc làm của nữ thanh niên ở các
huyện ngoại thành Hà Nội" được chọn làm đề tài nghiên cứu của luận án tiến
sỹ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu để xây dựng khung lý luận về việc làm của nữ thanh niên ở
các huyện ngoại thành thành phố trong quá trình CNH, ĐTH trước tác động của
quá trình hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Qua đó, làm căn
cứ để khảo sát thực tiễn thực trạng việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành
Hà Nội. Luận án phân tích, đánh giá dựa vào các phương thức, điều kiện, tiêu chí
và các nhân tố ảnh hưởng... để làm rõ thực trạng việc làm của NTN ở các huyện
ngoại thành Hà Nội trên các mặt kết quả đạt được, khó khăn tồn tại và nguyên



huyện ngoại thành thành phố với xuất phát điểm tiếp cận từ góc độ quan hệ sản
xuất trong mối liên hệ với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng.


4

Trong đó, lực lượng sản xuất nhấn mạnh các nguồn lực để tạo việc làm và
giải quyết việc làm. Quan hệ sản xuất được đề cập đến với các phương thức,
hình thức tổ chức và quan hệ lợi ích trong phát triển việc làm của nữ thanh niên
trong điều kiện mới của quá trình phát triển. Kiến trúc thượng tầng nghiên cứu
hướng vào vai trò của nhà nước, các tổ chức của hệ thống chính trị, đặc biệt là
tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (TNCS HCM) về vấn đề việc
làm của NTN ở các huyện ngoại thành trong bối cảnh phát triển mới của đất
nước nói chung và của thủ đô Hà Nội.
Khi trình bày luận án xin phép được sử dụng cụm từ "việc làm của nữ
thanh niên ở các huyện ngoại thành" với hàm ý "việc làm của nữ thanh niên
nông thôn" và "việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành của thành
phố trực thuộc Trung ương- cấp tỉnh".
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu về việc làm của nữ thanh niên ở các
huyện ngoại thành. Khi khảo sát, căn cứ vào số liệu, tư liệu về các nội dung liên
quan đến việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành Hà Nội để chỉ ra những nét
riêng thể hiện tính đặc thù.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu việc làm của NTN ở các huyện
ngoại thành Hà Nội (gồm 17 huyện, có phân chia tương đối thành 03 vùng có
các điều kiện KT-XH và văn hóa khác nhau gồm: Các huyện phía Tây vùng Ba
Vì, Sơn Tây cũ; các huyện phía Đông Nam và các huyện phía Bắc... để có những
phân tích chuyên sâu gắn với thực tiễn các vùng).
- Về thời gian: Luận án phân tích, đánh giá thực trạng việc làm của nữ
thanh niên ở các huyện ngoại thành Hà Nội giai đoạn 2010 - 2017, một số tư liệu

lôgíc với lịch sử, thống kê, khảo sát, tổng kết thực tiễn để giải quyết các nhiệm
vụ đặt ra trong nghiên cứu. Các phương pháp sẽ được sử dụng linh hoạt, phù hợp
trong các chương, các tiết của bản luận án, cụ thể:
- Chương 1: Chủ yếu sử dụng phương pháp hệ thống hoá, phân tích, luận
giải nhằm rút ra những kết luận mang tính tổng quát để đánh giá mức độ, phạm
vi, nội dung, kết quả... của các công trình nghiên cứu đã được công bố. Từ đó,
đặt trong bối cảnh mới về nội dung nghiên cứu nhằm tìm ra những khoảng trống
về lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu để định hướng thực hiện
hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu.
- Chương 2: Tập trung các phương pháp hướng vào hệ thống hoá những


6

vấn đề lý luận theo cách tiếp cận đặc thù của kinh tế chính trị là: Trừu tượng hoá
khoa học gắn với mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm hoàn thiện và kế thừa có
bổ sung để hình thành khung lý thuyết về việc làm của NTN ở các huyện ngoại
thành. Từ đó làm căn cứ khoa học để khảo sát vấn đề việc làm của NTN ở các
huyện ngoại thành Hà Nội.
- Chương 3: Kết hợp sử dụng linh hoạt phương pháp tổng hợp, thống kê,
phân tích so sánh theo các tiết và tiểu tiết của chương để kiểm chứng các số liệu,
tư liệu đã thu thập được từ thực tế việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành
thủ đô. Đồng thời, khi trình bày kết quả khảo sát có sử dụng các sơ đồ, biểu đồ,
đồ thị theo nhiều dạng để minh hoạ cho các phân tích, đánh giá.
- Chương 4: Từ việc chắt lọc kết quả nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn
của 3 chương. Luận án hướng vào sử dụng phương pháp khái quát hoá để vừa dự
báo và đề xuất những mục tiêu, phương hướng gắn với tình hình thực tế của thế
giới, trong nước và của thủ đô Hà Nội. Từ đó suy luận thực chứng để đề xuất các
giải pháp có tính khách quan, khoa học, khả thi cả trước mắt và lâu dài nhằm đạt
được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.

hướng và các giải pháp khả thi cả trước mắt và lâu dài nhằm hoàn thiện và phát
triển việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành Hà Nội. Đây sẽ là tài liệu có ý
nghĩa thiết thực giúp các cấp chính quyền thành phố và các tổ chức của hệ thống
chính trị làm căn cứ hoàn thiện chính sách, biện pháp, thực hiện tốt những nội
dung về việc làm nói chung và giải quyết việc làm của NTN ở các huyện ngoại
thành nói riêng trong quá trình xây dựng thủ đô văn minh hiện đại.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương 11 tiết.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về việc làm của nữ thanh niên
ở các huyện ngoại thành
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm của nữ thanh niên ở các
huyện ngoại thành
Chương 3: Thực trạng việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại
thành Hà Nội giai đoạn 2010 - 2018
Chương 4: Phương hướng và giải pháp phát triển việc làm của nữ thanh
niên ở các huyện ngoại thành Hà Nội đến năm 2025 - 2030


8

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC LÀM
CỦA NỮ THANH NIÊN Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN
TỚI ĐỀ TÀI

1.1.1. Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin
- Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về phụ nữ và vai trò của phụ nữ
trong lao động sản xuất và đời sống xã hội.


11

tế thị trường, C.Mác đã phát hiện ra rằng phần giá trị tăng thêm mà các nhà tư
bản có được sau khi bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh chính là do lao động
không công của người công nhân làm thuê sáng tạo ra. Nhưng để có giá trị thặng
dư ấy, các tư bản phải tạo ra một chỗ làm việc cụ thể trong dây chuyền sản xuất
kinh doanh của họ bằng cách đầu tư tư bản vào sản xuất, kinh doanh.
Vấn đề việc làm được C.Mác-Ăngghen nghiên cứu sâu hơn khi phân tích
quá trình chuyển hoá giá trị thặng dư thành tư bản trong quá trình tích luỹ tư bản.
Trong đó phân tích sự tăng thêm của tư bản đến vị trí việc làm của giai cấp công
nhân. Luận cứ quan trọng nhất là khi phân tích mối quan hệ giữa sự thay đổi cấu
tạo hữu cơ của tư bản với thị trường sức lao động ảnh hưởng trực tiếp đến việc
làm. Sự thay đổi của kết cấu kỹ thuật của tư bản, sự tăng lên của khối lượng tư
liệu sản xuất so với khối lượng sức lao động đang làm cho các tư liệu sản xuất
đó sống lại, lại phản ánh trở lại vào trong kết cấu giá trị của tư bản, vào trong
việc tăng thêm bộ phận bất biến của giá trị tư bản, bằng cách lấy vào bộ phận
khả biến của nó. Đồng thời, C.Mác cho rằng, cùng với những điều kiện khác
không thay đổi, kết cấu của tư bản cũng vẫn không thay đổi, nghĩa là để vận
dụng một khối lượng tư liệu sản xuất hay tư bản bất biến nhất định, bao giờ cũng
cần một khối lượng sức lao động như trước, thì rõ ràng là lượng cầu về sức lao
động và quỹ sinh hoạt của công nhân sẽ tăng lên một cách tỷ lệ với tư bản, và tư
bản tăng lên càng nhanh bao nhiêu thì lượng cầu đó cũng càng tăng lên nhanh
bấy nhiêu. Đầu tư tăng sẽ làm gia tăng cầu sức lao động, do đó khả năng có việc
làm của người lao động sẽ được gia tăng. Nhưng cái cách mà các nhà tư bản sử
dụng phổ biến là họ sẽ đầu tư cho kỹ thuật công nghệ tiên tiến vì đây là biện
pháp tốt nhất để tăng năng suất lao động. Do đó, sự gia tăng việc làm trong điều
kiện sản xuất tư bản chủ nghĩa không tăng cùng tỷ lệ với sự gia tăng đầu tư tư
bản, mà có xu hướng giảm tương đối.
Như vậy, xét trên tổng thể, tư bản khả biến và cầu sức lao động giảm

thị trường định hướng XHCN và công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay.
1.1.2. Những nghiên cứu về việc làm và thất nghiệp của một số nhà
kinh tế học hiện đại
- Jonh Maynard Keynes (1936), Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và
tiền tệ [100]. J.M Keynes là một nhà kinh tế học người Anh có ảnh hưởng lớn tới
kinh tế học hiện đại và chính trị cũng như các chính sách tài chính của nhiều


13

chính phủ. Ông xem xét việc làm trong mối quan hệ giữa sản lượng - thu nhập tiêu dùng - đầu tư - tiết kiệm - việc làm. Theo ông, trong một nền kinh tế, khi sản
lượng tăng, thu nhập tăng, đầu tư tăng thì việc làm tăng và ngược lại. Tâm lý của
quần chúng là khi tổng thu nhập tăng thì cũng tăng tiêu dùng, nhưng tốc độ tăng
tiêu dùng chậm hơn so với tăng thu nhập và có khuynh hướng tiết kiệm một
phần thu nhập, làm cho cầu tiêu dùng có hiệu quả hay cầu tiêu dùng thực tế giảm
tương đối so với thu nhập dẫn đến một bộ phận hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng
không có khả năng bán được. Thừa hàng hoá là nguyên nhân gây ra khủng
hoảng, ảnh hưởng tới quy mô sản xuất ở chu kỳ tiếp theo, nên việc làm giảm,
thất nghiệp tăng. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, khi quy mô đầu tư tư
bản tăng thì hiệu quả giới hạn của tư bản đầu tư có xu hướng giảm sút tạo nên
giới hạn chật hẹp về thu nhập của doanh nhân trong đầu tư tương lai. Doanh
nhân chỉ tích cực mở rộng đầu tư khi hiệu quả giới hạn của tư bản lớn hơn lãi
suất. Còn khi hiệu quả giới hạn của tư bản nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất thì họ
không tích cực đầu tư nên quy mô sản xuất bị thu hẹp, dẫn đến việc làm giảm,
thất nghiệp tăng.
Theo Keynes, để tăng việc làm, giảm thất nghiệp, phải tăng tổng cầu của
nền kinh tế. Chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng (tiêu dùng sản xuất và phi
sản xuất) để tăng tổng cầu thông qua tăng trực tiếp các khoản chi tiêu của chính
phủ, hoặc thông qua các chính sách của Chính phủ nhằm khuyến khích đầu tư
của tư nhân, của các tổ chức KT-XH.

những người lao động ở khu vực nông thôn có thu nhập trung bình thấp. Vì vậy,
họ có xu hướng muốn di chuyển đến những nơi đô thị có thu nhập cao hơn để tìm
kiếm việc làm và gia tăng thu nhập. Sự di chuyển lao động này không những phụ
thuộc vào chênh lệch thu nhập mà còn dựa vào dự báo của chính phủ để thực hiện
sự điều tiết và xác suất tìm được việc làm đối với lao động nông nghiệp. Điều này
cho thấy ở các nước kinh tế nông nghiệp là chủ yếu muốn đẩy mạnh tăng trưởng
cần phải tập trung vào việc phát triển, trước hết là ngành nông nghiệp và kinh tế
nông thôn, để tạo ra thị trường cho công nghiệp và dịch vụ phát triển. Vấn đề này
đang kiểm chứng sự đúng đắn trong đường lối ưu tiên công nghiệp hoá, hiện đại
hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn của Đảng ta.
- Lý thuyết của Harry Toshima (Nhật Bản), Về tạo việc làm trong khu vực
sản xuất nông nghiệp [98]. Khi nghiên cứu các mô hình tăng trưởng kinh tế của
các nhà kinh tế châu Âu áp dụng vào khu vực các nước Châu Á, tác giả cho rằng


15

các mô hình này không có ý nghĩa thực tế với tình hình dư thừa lao động trong
nông nghiệp. Bởi vì, nền nông nghiệp vẫn thiếu lao động trong mùa vụ và thừa
lao động lúc nông nhàn. Từ đó tác giả đưa ra đề xuất: cần giữ lại lao động nông
nghiệp và chỉ tạo thêm việc làm trong những thời kỳ nhàn rỗi bằng cách tăng vụ,
đa dạng hoá cây trồng vật nuôi... Việc tạo thuận lợi hơn nữa để có việc làm đầy
đủ cho mọi thành viên gia đình nông dân trong những thời kỳ nông nhàn sẽ nâng
cao mức thu nhập hàng năm của họ và sẽ mở rộng được thị trường trong nước
cho các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển. Từ đó, lực lượng lao động
(LLLĐ) trong nông thôn sẽ được sử dụng hết. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất giải
pháp cho sự phát triển của các nước Châu Á là phải bắt đầu từ nông nghiệp và
phải tạo ra nhiều việc làm cho nông dân trong thời kỳ nông nhàn bằng cách phát
triển các ngành nghề trong kinh tế nông thôn.
1.1.3. Những nghiên cứu về việc làm, thu nhập của lao động nông

1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN
TỚI ĐỀ TÀI

1.2.1. Các công trình nghiên cứu liên quan tới quan điểm, các nhân tố
ảnh hưởng và chính sách giải quyết việc làm cho nữ thanh niên nông thôn
- Đề tài Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách giải quyết việc
làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của tác
giả Nguyễn Hữu Dũng [39]. Đây là một trong những công trình nghiên cứu về
chính sách giải quyết việc làm đầu tiên kể từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi
mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khởi xướng năm 1986. Công trình đã
tập trung vào trình bày tổng quát về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận
về chính sách lao động việc làm. Làm rõ thực trạng vấn đề việc làm tại Việt Nam
trong những năm cuối của thế kỷ 20. Trên cơ sở đó đưa ra những định hướng về
chính sách việc làm trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
- Phan Thế Công, Chính sách tạo việc làm cho lao động Việt Nam trong
giai đoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay [35]. Tác giả trình bày những tác động
của khủng hoảng kinh tế tới việc điều chỉnh chính sách việc làm ở nước ta.
Khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế nước nhà cả ở đô
thị và nông thôn. Hàng loạt doanh nghiệp phá sản hoặc đình đốn sản xuất, người
lao động sa vào tình trạng thất nghiệp hoặc thất nghiệp ẩn hình, thiếu việc làm,
việc làm thu nhập thấp không đủ đảm bảo đời sống gia đình. Mặc dù Việt Nam


17

đã duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn suy thoái kinh tế, nhưng
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đối với sinh kế và đời sống của nhiều người
Việt Nam là rất lớn. Việc làm ở các khu vực sản xuất hàng xuất khẩu và ở các
làng nghề thủ công bị thu hẹp và nhiều công nhân nhập cư buộc phải trở về quê
hương. Công việc không ổn định và thu nhập thấp đã ảnh hưởng tới nhiều hộ gia

thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân như: chính sách thuế,
chính sách thuỷ lợi, phí hỗ trợ sản xuất, thành tựu và những hạn chế của chính
sách đó.
1.2.2. Các công trình nghiên cứu vè phương thức tạo việc làm và các
giải pháp phát triển việc làm cho nữ thanh niên nông thôn
- Việc làm ở nông thôn: Thực trạng và giải pháp, tác giả Chu Tiến Quang
[55]. Về cơ bản, cuốn sách cho thấy một bức tranh chung về một số vấn đề lý
luận về việc làm, thực trạng việc làm ở nông thôn và một số giải pháp giải quyết
việc làm nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, số liệu của cuốn sách đã cũ và các
chính sách không được tác giả phân tích đầy đủ.
- Bài viết "Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam" của Phạm Đức Thành
[65]. Trong bài viết tác giả đã đánh giá được hiện trạng thất nghiệp và giải quyết
việc làm ở Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra những quan điểm và biện pháp nhằm
giải quyết việc làm cho người lao động.
- Tác giả Nguyễn Sinh Cúc có bài viết "Giải quyết việc làm ở nông thôn
và những vấn đề đặt ra" [34]. Trong bài viết tác giả đã đề cập những biến động
của dân số nông thôn, những xu hướng mới tạo việc làm ở nông thôn như: khôi
phục và phát triển các làng nghề truyền thống, kinh tế trang trại, các dự án,
chương trình quốc gia về việc làm.
- "Giải quyết việc làm cho thanh niên trong độ tuổi lao động ở một số
thành phố miền bắc Việt Nam" của tác giả Tống Văn Đường [43]. Tác giả đã
trình bày về nhu cầu việc làm của lứa tuổi thanh niên và vai trò của họ trong sản
xuất. Tác giả đã khẳng định TNNT là một bộ phận quan trọng của nguồn lao
động. Nhu cầu được làm việc, được học tập là nhu cầu chính đáng của thanh
niên từ 16 đến 30 tuổi, do đó đòi hỏi các tổ chức xã hội, chính quyền đoàn thể và
mọi người lao động phải quan tâm. Bên cạnh đó, tác giả đã nêu lên sự hình thành
và kết cấu nguồn lao động của thanh niên ở các thành phố. Phân tích thực trạng
tạo việc làm cho thanh niên, đề xuất những phương hướng và biện pháp chủ yếu
tạo việc làm cho thanh niên trong độ tuổi lao động.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status