Việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành Hà Nội - Pdf 57

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ KIM HUỆ

VIỆC LÀM CỦA NỮ THANH NIÊN
Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62 31 01 02

HÀ NỘI - 2019


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN QUANG THUẤN

Phản biện 1: ..................................................................
..................................................................

Phản biện 2: ..................................................................
..................................................................

Phản biện 3: ..................................................................
..................................................................
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi


km2, chiếm 85,5% và dân số 4,07 triệu người chiếm 60,79%. Cùng với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ ĐTH nhanh đã làm nảy sinh nhiều vấn đề về
kinh tế - xã hội, trong đó có vấn đề việc làm và thu nhập của người lao động ở các
huyện ngoại thành: Tỷ lệ thiếu việc làm những năm gần đây luôn ở mức cao từ
10,2% đến 12,1%[32,tr.6]. Trong khi đó, dân số phân theo giới tính ở các huyện
ngoại thành tỷ lệ nữ cao hơn nam. Điều đó dẫn đến vấn đề việc làm của lao động
nữ nói chung, của nữ thanh niên (NTN) nói riêng ở các huyện ngoại thành là một
nội dung cần nghiên cứu tìm hiểu.
Từ khi thành phố Hà Nội mở rộng (2008) đến nay, ở các huyện đã có rất
nhiều chương trình phát triển KT-XH và các phong trào hướng đến vấn đề việc
làm của NTN và đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trước sức ép của
quá trình ĐTH nhanh và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0... vấn đề
việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành thủ đô đang bộc lộ nhiều hạn chế,
bất cập về số lượng thấp, chất lượng không ổn định, cơ cấu mất cân đối, nghề
nghiệp chủ yếu là việc làm giản đơn, thu nhập thấp... Mặc dù có lợi thế là lực
lượng thanh niên của thủ đô, tuy nhiên NTN ở các huyện ngoại thành phân tán
trên địa bàn rộng, trình độ không đều, những vấn đề tập quán, văn hóa vùng
miền còn nhiều khác biệt... Mặt khác, xuất phát từ cơ chế phối hợp giữa các cơ
quan ban ngành trong việc thực thi vấn đề việc làm còn nhiều bất cập. Chất
lượng đội ngũ thực hiện công tác phát triển việc làm không đồng đều, vai trò
xung kích của tổ chức Đoàn các cấp với vấn đề việc làm của thanh niên còn mờ
nhạt và các nội dung, phương thức tạo việc làm của NTN ở các huyện ngoại
thành Hà Nội còn nhiều hạn chế...
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới, để có cơ sở lý luận và những đánh giá toàn
diện, tổng quát dựa trên những căn cứ khoa học khách quan vấn đề việc làm của
NTN trong trong bối cảnh mới. Coi đó là căn cứ để đề xuất các phương hướng


2


Đối tượng nghiên cứu là một tập hợp những nhân tố cấu thành các nội dung liên
quan tới việc làm và phát triển việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại
thành với tiếp cận từ góc độ quan hệ sản xuất trong mối liên hệ với lực lượng sản
xuất và kiến trúc thượng tầng. Trong đó, lực lượng sản xuất nhấn mạnh các nguồn
lực để tạo việc làm và giải quyết việc làm. Quan hệ sản xuất được đề cập đến với
các phương thức, hình thức tổ chức và quan hệ lợi ích trong phát triển việc làm
của nữ thanh niên trong điều kiện mới của quá trình phát triển. Kiến trúc thượng
tầng nghiên cứu hướng vào vai trò của nhà nước, các tổ chức của hệ thống chính
trị, đặc biệt là tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (TNCS HCM) về
vấn đề việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành trong bối cảnh phát triển mới
của đất nước nói chung và của thủ đô Hà Nội.


3

3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu về việc làm của nữ thanh niên ở các
huyện ngoại thành. Khi khảo sát, căn cứ vào số liệu, tư liệu về các nội dung liên
quan đến việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành Hà Nội để chỉ ra những
nét riêng thể hiện tính đặc thù.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu việc làm của NTN ở các huyện
ngoại thành Hà Nội (gồm 17 huyện, có phân chia tương đối thành 03 vùng có
các điều kiện KT- XH và văn hóa khác nhau gồm: Các huyện phía Tây vùng Ba
Vì, Sơn Tây cũ; các huyện phía Đông Nam và các huyện phía Bắc... để có
những phân tích chuyên sâu gắn với thực ti n các vùng).
- Về thời gian: Luận án phân tích, đánh giá thực trạng việc làm của nữ thanh
niên ở các huyện ngoại thành Hà Nội giai đoạn 2010 - 2017, một số tư liệu cập
nhật đến 2018 và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển việc làm của
nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành Hà Nội đến năm 2025 - 2030.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

giải nhằm rút ra những kết luận mang tính tổng quát để đánh giá mức độ, phạm
vi, nội dung, kết quả... của các công trình nghiên cứu đã được công bố.
- Chương 2: Tập trung các phương pháp hướng vào hệ thống hoá những vấn
đề lý luận theo cách tiếp cận đặc thù của kinh tế chính trị là: Trừu tượng hoá
khoa học gắn với mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm hoàn thiện và kế thừa
có bổ sung để hình thành nên khung lý thuyết về việc làm của NTN ở các huyện
ngoại thành.
- Chương 3: Kết hợp phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích so sánh
theo các tiết và tiểu tiết của chương để kiểm chứng các số liệu, tư liệu đã thu
thập được từ thực tế việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành thủ đô. Đồng
thời, khi trình bày kết quả khảo sát có sử dụng các sơ đồ, biểu đồ, đồ thị theo
nhiều dạng để minh hoạ cho các phân tích, đánh giá.
- Chương 4: Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực ti n của 3 chương. Luận
án sử dụng phương pháp khái quát hoá để dự báo và đề xuất những mục tiêu,
phương hướng gắn với tình hình thực tế của thế giới, trong nước và thủ đô Hà Nội.
Từ đó suy luận thực chứng để đề xuất các giải pháp có tính khách quan, khoa học,
khả thi cả trước mắt và lâu dài nhằm đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
của luận án.
5. Những đóng góp mới của luận án
5.1. Về lý luận
- Hệ thống hoá các kết quả nghiên cứu kế thừa có chọn lọc và bổ sung để
xây dựng khung lý luận về việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành trong quá
trình CNH, ĐTH, đặt trong điều kiện mới của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
với nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế.
5.2. Về thực tiễn
- Từ khung lý luận được xây dựng và hoàn thiện, để đi sâu tìm hiểu và
phân tích vấn đề việc làm cho nhóm đối tượng đặc thù là NTN ở địa bàn các
huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội mới mở rộng, đang trong quá trình đẩy
mạnh CNH, ĐTH hướng đến xây dựng nông thôn của thủ đô văn minh hiện đại.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước và thành phố trong nước theo

1.1.2. Nghiên cứu về việc làm, thu nhập của lao động nông thôn
- Jonna Estudillo, ''Labor markets, occupational choice, and rural poverty
in four Asian countries'' (Thị trường lao động, lựa chọn nghề nghiệp và đói
nghèo ở nông thôn bốn nước châu Á). Ren Mu, Dominique van de Walle, Left
Behind to Farm? - Women ’s Labor Re-Allocation in Rural China (Còn lại gì sau
những cánh đồng? - Thị trường lao động nữ ở nông thôn Trung Quốc), báo cáo
của Ngân hàng thế giới World Bank. Nomaan Majid, The great employment
transformation in China (: Chuyển đổi việc làm ở Trung Quốc).
1.1.3. Nghiên cứu về chính sách việc làm của nữ thanh niên nông thôn
- Đề tài Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách giải quyết việc
làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của tác
giả Nguy n Hữu Dũng. Phan Thế Công, Chính sách tạo việc làm cho lao động
Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay. Nguy n Minh Phong,
Chính sách lao động - việc làm nhìn từ góc độ kinh tế vĩ mô: Những bài học
của giai đoạn 2006 - 2010. Trần Việt Tiến với bài ''Chính sách việc làm ở Việt
Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện''. "Chính sách tài chính thúc đẩy
phát triển tam nông" của tác giả Đỗ Đức Minh, Hà Thị Hương Lan.
1.1.4 Nghiên cứu về giải pháp tạo việc làm cho nữ thanh niên nông thôn
- Luận án tiến sĩ Những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm ở nông
thôn Hà Tĩnh của tác giả Thái Ngọc Tịnh. Hoàng Vọng Thanh với bài viết "Một
số chính sách thúc đẩy việc làm của Nhật Bản trước nguy cơ LLLĐ già hóa".
Luận án tiến sĩ Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình trong
thời quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá của tác giả Phạm Mạnh Hà. Nguy n
Quang Tuyến, Nguy n Hữu Lộc với bài "Thực trạng lao động nông thôn, ảnh
hưởng của đào tạo nghề, việc làm và thu nhập của lao động tỉnh Bến Tre''.


6

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÃ ĐƢỢC NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN

2.1.3. Khái niệm việc làm của nữ thanh ở các huyện ngoại thành
Là hoạt động lao động của con người, là sự kết hợp giữa sức lao động
với tư liệu sản xuất theo những điều kiện phù hợp nhất định, nhằm tạo ra sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng lợi ích con người và mang lại nguồn thu
nhập của những người mang giới tính nữ có độ tuổi từ 16 tới 30 ở các huyện
ngoại thành. Hoạt động lao động đó không bị pháp luật nghiêm cấm.
Dựa vào khái niệm trên luận án tiếp cận việc làm của NTN ở các huyện
ngoai thành theo nội dung sau: Một là, về số lượng: Gắn với việc tăng, giảm, tỷ
lệ có việc làm hay thất nghiệp... của NTN ở các huyện ngoại thành trong một


7

khoảng thời gian nhất định .Hai là, về chất lượng: Chất lượng việc làm của
NTN ở các huyện ngoại thành là một là một phức hợp các tiêu chí về để xác
định về: Cơ cấu việc làm, các điều kiện thực hiện việc làm, phương thức tạo
việc làm, môi trường làm việc, trình độ đáp ứng, mức độ thu nhập, toàn dụng
thời gian làm việc, tính ổn định của công việc trong điều kiên cụ thể . Ba là,
phát triển việc làm với hàm ý: Phát triển tổng hợp cả số lượng và chất lượng
việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành phù hợp với yêu cầu phát triển mới
của quá trình đẩy mạnh CNH, ĐTH. Trong đó, luận án tập trung bàn chủ yếu về
các phương thức tạo việc làm để giải quyết việc làm của NTN .
2.2. VAI TRÒ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC LÀM
CỦA NỮ THANH NIÊN Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH
2.2.1. Đặc điểm, vai trò và nhân tố tác động đến việc làm của nữ
thanh niên nông thôn
- Đặc điểm việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành
+ Thứ nhất, khả năng lao động còn nhiều hạn chế so với nam giới.
+ Thứ hai, trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật, nghề nghiệp và hiểu
biết xã hội hạn chế.

chính quyền địa phương giải quyết việc làm khi cam kết thu hồi đất để phát
triển các KCN, CCN.
2.3.1.2. Tạo việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành thông
qua các Chương trình mục tiêu quốc gia
Hiện nay có 2 Chương trình mục tiêu quốc gia góp phần tạo việc làm cho
người lao động nói chung và cho NTN nói riêng, đó là Chương trình mục tiêu
quốc gia về việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012-2015 và Chương trình mục
tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020.
Thông qua các Chương trình, dự án này, chính quyền các địa phương xác
định được rõ mục tiêu và hành động cụ thể của mình để giúp lao động NTN có
thêm nhiều cơ hội việc làm và rất nhiều NTN trên cả nước nói chung có cơ hội
tiếp cận với nhiều việc làm, được nâng cao trình độ chuyên môn, được hỗ trợ để
khởi nghiệp cũng như được có cơ hội làm việc ở nước ngoài với thu nhập tốt.
2.3.1.3. Tạo việc làm của nữ thanh niên ở ngoại các huyện thành gắn
với phát triển mạng lưới doanh nghiệp nhỏ và vừa; phát triển làng nghề
truyền thống địa phương
Phát triển DNNVV để tạo việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành thì
cần có sự hỗ trợ về kinh tế và luật pháp để cho DNNVV vay vốn với lãi suất
thấp, điều kiện thế chấp phù hợp... Tạo điều kiện để các doanh nghiệp tiếp cận
được nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước. Nhất là tạo môi trường bình đẳng
khi tiếp cận các nguồn lực và cơ hội đầu tư.
2.3.1.4. Tạo việc làm gắn với việc mở rộng, duy trì và nâng cao chất
lượng đào tạo nghề, giới thiệu việc làm của các trung tâm và cơ sở dạy nghề
tại địa phương
- Tổ chức các lớp tập huấn khuyến nông cho NTN: Vận động NTN tiếp thu
và thực hiện các chính sách về nông nghiệp, trực tiếp và góp phần cung cấp thông
tin về những nhu cầu và nguyện vọng của NTN đến các cơ quan Nhà nước.
- Tổ chức các lớp tập huấn khuyến công cho NTN: Khuyến công là hoạt
động của Nhà nước khuyến khích, hướng dẫn, hỗ trợ và tạo điều kiện để các tổ
chức, cá nhân tham gia phát triển sản xuất công nghiệp nông thôn, ưu tiên

chất tinh thần của nông dân cũng được cải thiện. Vốn đáp ứng đầu tư sản xuất
kinh doanh của hộ, như mua các yếu tố đầu vào làm tăng năng suất dẫn tới tăng
thu nhập của hộ nông dân. Vốn thúc đẩy sự lựa chọn kỹ thuật mới của người
nông dân, bổ sung một cách thiết thực các yếu tố đầu vào cần thiết đối với sự
thành công của cuộc cách mạng xanh, tạo cơ hội cho hộ nông dân tiếp thu khoa
học kỹ thuật mới. Vốn tạo điều kiện cho hộ nông dân đầu tư mở rộng sản xuất,
đa dạng hoá sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, ĐTH nông
nghiệp, nông thôn.
Hỗ trợ mặt bằng sản xuất-kinh doanh: Mặt bằng sản xuất- kinh doanh là
yếu tố nền tảng. Mỗi hoạt động sản xuất hay kinh doanh đều đòi hỏi phải có địa
điểm, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật. Nếu diện tích mặt bằng rộng sẽ tạo điều
kiện cho doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, người lao động có thể mở rộng quy mô
sản xuất, thu hút thêm việc, đồng thời mặt bằng đó có vị trí thuận lợi cho ngành
nghề sản xuất kinh doanh thì việc kinh doanh sẽ thuận lợi phát triển.
2.2.3. Tiêu chí đánh giá việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành
2.3.2.1. Số lượng việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành
Số lượng việc làm là một tiêu chí căn bản đánh giá kết quả việc làm của
NTN các huyện ngoại thành hiện nay. Trước sức ép cung - cầu do tác động của
cuộc cách mạng KH-CN hiện đại, quá trình ĐTH nhanh đối với các huyện
ngoại thành đang đẩy số lượng NTN đứng trước nguy cơ thất nghiệp vì đất đai
là tư liệu sản xuất chủ yếu bị thu hẹp. Vì vậy, bài toán có việc làm, gia tăng về
số lượng việc sẽ đánh giá rõ mức độ sự thành công hay thất bại của các chương
trình, phong trào cụ thể. Theo kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, căn cứ
vào mục tiêu của các chương trình hay phong trào của NTN các huyện ngoại
thành để thống kê, tổng kết với những con số cụ thể để đánh giá.
2.3.2.2. Chất lượng việc làm và thu nhập của nữ thanh niên ở các
huyện ngoại thành


10

thực hiện.
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội các huyện ngoại thành Hà Nội
3.1.2.1. Về kinh tế
Từ 2005 đến 2008, kinh tế các huyện ngoại thành Hà Nội tăng trưởng
nhanh, đạt ngưỡng 13%, đến 2009 - 2011, tốc độ tăng trưởng chậm lại. Năm
2010, thực hiện chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, các huyện
ngoại thành đã thu hút lượng vốn lớn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn,
góp phần tăng cho trưởng kinh tế. Tựu chung lại, giai đoạn 2005 - 2010 tốc độ
tăng trưởng bình quân các huyện ngoại thành là 11,49%/năm, giai đoạn 2010 2016 là 10,83% (Bảng 3.2).
Kết quả từ chương trình xây dựng NTM là thu nhập bình quân của các


11

huyện từ 5,8 triệu đồng/người năm 2005 lên 14,0 triệu đồng/người/năm 2011 và
23.5 triệu đồng/người/năm năm 2016, bằng 1/2 so với bình quân chung toàn
thành phố.
Với tốc độ tăng trưởng như vậy, tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ
cấu kinh tế các huyện ngoại thành Hà Nội giảm nhanh. Cơ cấu kinh tế của các
huyện đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: ngành công nghiệp - xây
dựng chiếm tỷ trọng cao nhất từ 40,84% giai đoạn 2005 - 2010 tăng lên
48.47% năm 2016; tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 20,83% lên 28,53%, chiếm
gần 1/3 tổng cơ cấu kinh tế, đặc biệt là các nhóm ngành thương mại, vận tải,
du lịch văn hóa - tín ngưỡng; tỷ trọng lĩnh vực nông nghiệp giảm mạnh từ
38,33% xuống còn 23%.
3.1.2.2. Đặc điểm xã hội - văn hóa
Tổng dân số thành phố Hà Nội năm 2017 là 7.742.200 người, trong đó các
huyện ngoại thành là 3.843,9 nghìn người, chiếm 49,64% dân số toàn thành phố,
mật độ dân số đạt 1.359 người/km2, thấp hơn nhiều so với mật độ dân số trung
bình của thành phố Hà Nội (2.222 người/km2). Sau khi mở rộng địa giới hành

3.2. THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA NỮ THANH NIÊN Ở CÁC
HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI
3.2.1. Thực trạng nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành Hà Nội
3.2.1.1. Về mặt số lượng
Tính đến năm 2017, theo niên giám thống kê của thành phố Hà Nội dân
số trên 15 tuổi ở các huyện ngoại thành là 2.144.354 người, trong đó nam là
1.050.503 người và nữ là 1.093.851 (cao hơn nam là 43.348 người). Lực lượng
lao động có việc làm ở các huyện ngoại thành Hà Nội là 1.344.896 người với
711.078 là nam (chiếm 52,91%) và 633.818 là nữ (bằng 47,09%) người là nữ
kém 78.260 người (5,79%). Điều này cho thấy tỷ lệ có việc làm của lao động nữ
ở nông thôn thấp. Dân cư ở các huyện không đồng đều nhau, nhiều nhất là ở các
huyện Đông Anh (374,9 nghìn người); Sóc Sơn (316,6 nghìn người); ít nhất là ở
huyện Đan Phượng (154,3 nghìn người) và Mỹ Đức (183,5 nghìn người). Tương
ứng với điều này, số lượng lao động có việc làm cũng nhiều nhất ở các huyện
Sóc Sơn, Đông Anh; Thường Tín và thấp nhất ở Đan phượng; Mỹ Đức. Song có
một đặc điểm chung ở tất cả các huyện ngoại thành Hà Nội là số lượng nữ lao
động có việc làm đều thấp hơn so với nam giới. Vì vậy, vấn đề số lượng việc làm
của NTNNT các huyện ngoại thành Hà Nội đạt mức thấp so với nam. Điều này
cũng nằm trong tình hình chung của cả nước những năm qua.
Trong nhóm lao động nữ có việc làm ở các huyện ngoại thành năm 2016
thì nhóm lao động trong độ tuổi 15 tới 34 chiếm tỉ lệ cao nhất 42,11%, độ tuổi
35 tới 39 là 13,69%, độ tuổi 40 tới 44 chiếm 15,22% và thấp nhất là độ tuổi 15
tới 19 với 3,38%. Số liệu trên cho thấy về cơ bản số lượng NTNNT có việc làm
ở các huyện ngoại thành Hà Nội chiếm tỉ lệ cao. Điều này phản ánh xu hướng
tích cực và phù hợp. Vì đây là LLLĐ trẻ nên sẽ trở thành nguồn lao động tiềm
năng đóng góp cho sự phát triển của địa phương và thủ đô Hà Nội. Do đó, tạo
việc làm cho nữ lao động TNNT trước hết đảm bảo về số lượng là nhiệm vụ
quan trọng hiện nay.
3.2.1.2. Về mặt chất lượng
Thứ nhất, về trình độ học vấn của NTN ở các huyện ngoại thành Hà Nội.

song không quá nhiều. Tuy nhiên, các huyện gần trung tâm thành phố có tỉ lệ
biết đọc, biết viết cao hơn những huyện xa. Xét trên góc độ giới tính, nam giới
và nữ giới có chút chênh lệch về trình độ biết đọc, biết viết, lí do chủ yếu xuất
phát từ điều kiện kinh tế gia đình
Theo kết quả từ cuộc điều tra dân số được thực hiện bởi Tổng cục thống
kê năm 2016 ở nước ta (Biểu đồ 3.2), người dân vùng đồng bằng sông Hồng có
tỉ lệ đi học cao nhất trong cả nước. Gần thủ đô, tỉ lệ người đi học và biết đọc,
biết viết sẽ cao hơn các vùng khác. Ở các vùng xa hơn, đặc biệt là miền núi xa
xôi, tỉ lệ người đi học khá thấp, nhiều nơi miền núi tây nguyên, nơi có nhiều
đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, tỉ lệ không đi học còn cao.
Chưa đi học

100 %

8.6

0.6

2.6

72.1

73.5

Đã học xong

6.6

Đang đi học


Trung du
miền núi
phía bắc

Đồng bằng Bắc Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam
Sông Hồng và Duyên Hải
Bộ
miền Trung

Biểu đồ 3.2: Tỉ lệ đi học theo các vùng kinh tế xã hội
Nguồn: Tổng cục thống kê. Điều tra dân số năm 2016.
+ Trình độ học vấn phổ thông: Lao động nữ tốt nghiệp trung học cơ sở
(THCS) của khu vực ngoại thành Hà Nội năm 2016 là 297.028 người, chiếm
48,62% LLLĐ nữ tốt nghiệp THCS toàn thành phố, cao hơn hơn tỉ lệ trung bình
nữ lao động tốt nghiệp THCS của cả nước 14,01% và thấp hơn vùng đồng bằng
sông Hồng 7,39%. Tỉ lệ lao động nữ tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) ở
khu vực các huyện ngoại thành Hà Nội có xu hướng tăng lên. Năm 2015, số
lượng nữ lao động tốt nghiệp THPT ở ngoại thành này là 198.359 người, đến
năm 2016 đã tăng lên thêm 9.396 người.


14

Bảng 3.8: Trình độ học vấn phổ thông của nữ lao động
các huyện ngoại thành Hà Nội
Đơn vị tính: %
Nữ thành thị Nữ nông thôn
So sánh (Tỉ lệ %)
Hà Nội
ngoại thành Hà

Nhóm tuổi
Đang đi học
Đã học xong
Chƣa đi học
15-20
49.7%
47.2%
3.2%
21-25
13.5%
83.2%
4.3%
26-30
2.6%
95.04%
5,1%
Nguồn: Nghiên cứu sinh thực hiện phiếu điều tra
Từ số liệu tổng hợp ở Bảng 3.9 cho thấy trình độ học vấn cao nhất theo 3
nhóm tuổi của lực lượng nữ thanh niên các huyện ngoại thành Hà Nội. Theo số
liệu tổng hợp từ báo cáo các huyện ngoại thành Hà Nội, tỉ lệ NTN có trình độ
học vấn cao vẫn đang còn rất thấp. Đây thực sự là một thách thức rất lớn đối
với việc tìm giải pháp tạo việc làm cho đối tượng lao động này. Đặc biệt thách
thức đặt ra trước yêu cồng công việc khi ứng dụng thành tựu của cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0.


15

Bảng 3.10: Trình độ học vấn cao nhất của nữ thanh niên nông thôn
các huyện ngoại thành Hà Nội

23.1%
26.5%
9.1%
Chung
11.2%
23%
34.2%
28.4%
4.6%
Nguồn: Cục thống kê thành phố Hà Nội năm 2016.
Bảng 3.10 chỉ ra nhóm tuổi từ 25 tới 30 có trình độ học vấn cao nhất dẫn
đầu so với nhóm 16 tới 19 và 20 đến 24 tuổi và cũng là nhóm chiếm tỉ lệ chưa
tốt nghiệp tiểu học lớn nhất. Như vây, về cơ bản các nhóm tuổi trẻ trong nữ
thanh niên có trình độ học vấn chưa cao.
Thứ hai, về trình độ chuyên môn kĩ thuật: Những năm qua tất cả các
huyện ngoại thành Hà Nội đều có các cơ sở đào tạo nghề công lập và ngoài
công lập. Vì nhiều lý do khác nhau không tham gia đào tạo nên tỷ lệ NTN
chưa có trình độ chuyên môn kĩ thuật ở khu vực ngoại thành vẫn còn ở mức
cao chiếm 86,2% năm 2016. Số được đào tạo trình độ sơ cấp cơ 1,9%; có
trình độ trung cấp chuyên nghiệp là 5.0% còn lại là cao đẳng nghề trở lên.
Điều này khiến cho khả năng tự xin việc làm hoặc thích nghi với công việc
mới của nữ thanh niên khu vực ngoại thành còn rất kém, kéo theo đó là nguy
cơ thất nghiệp cao.
Bảng 3.11: Cơ cấu trình độ chuyên môn kĩ thuật của lao động
nữ thanh niên ngoại thành Hà Nội năm 2016
Tổng số
Ngoại thành
Chung Nam Nữ
Chung Nam Nữ
Không có chuyên môn kỹ thuật

100
100 100 100
Nguồn: Báo cáo điều tra lao động và việc làm năm 2016.
3.2.2. Thực trạng việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại
thành Hà Nội
3.2.2.1. Cơ cấu việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành
Hà Nội trong ngành nông nghiệp
Theo số liệu ở biểu đồ 3.4, có thể thấy lao động nông nghiệp ở Hà Nội
còn chiếm tỉ lệ cao. Tuy nhiên, cao nhất là số lao động phi nông nghiệp với


16

47%, tương đương trên 560 nghìn người. Xếp thứ hai là lao động nông nghiệp
chuyên nghiệp với 31% (khoảng 406.544 người) và cuối cùng là lao động nông
nghiệp kiêm các ngành nghề khác chiếm 22% (187.852 người).
Đơn vị tính: %

31%
47%

Lao động nông nghiệp chuyên
nghiệp
Lao động nông nghiệp kiêm
các ngành nghề khác

22%

Lao động các ngành phi nông
nghiệp có hoạt động phụ trợ

17

điểm của các hình thức kinh doanh này là sự phát triển tự phát, manh mún, nhỏ
lẻ. Hầu hết có qui mô nhỏ và siêu nhỏ, bình quân một cơ sở có 1,9 lao động. Có
45,3% số cơ sở có qui mô dưới 2 lao động; 50,8% số cơ sở có qui mô từ 2 đến 4
lao động; 3,3% có qui mô từ 5 đến 9 lao động; chỉ có 0,6% số cơ sở có qui mô
trên 10 lao động [Bảng 3.13].
Số lượng lao động chưa qua đào tạo ở khu vực cá thể chiếm tỷ trọng lớn,
LLLĐ đã qua đào tạo còn rất ít, chiếm 52,5% trong tổng số lao động; số lao
động đã qua đào tạo chỉ chiếm 16,8%; còn lại là lao động đã qua đào tạo nhưng
chưa có chứng chỉ hoặc trình độ khác.
Theo độ tuổi lao động, đa số người lao động trong các cơ sở cá thể có độ
tuổi từ 15 đến 55 tuổi, trong đó có 53,3% số lao động có độ tuổi từ 35 đến 55;
36,9% lao động có độ tuổi từ 15 đến 34 tuổi; chỉ có 5,3% có độ tuổi từ 56 đến
60 tuổi và 4,1% có độ tuổi trên 60. Ngành có lao động ở độ tuổi trên 60 nhiều
nhất là kinh doanh bất động sản (tỷ lệ 14, 2%) và y tế (tỷ lệ 9,6%).
3.2.3. Thực trạng tạo việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại
thành Hà Nội
3.2.3.1. Thực trạng tạo việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại
thành thông qua thu hút vào làm việc trong các khu, cụm công nghiệp, cụm
công nghiệp
Dưới tác động của quá trình CNH, ĐTH các KCN ở Hà Nội đã có sự phát
triển mạnh mẽ. Từ năm 2012 tại các huyện ngoại thành đã có 38 KCN, CCN
được hình thành (Phụ lục 1). Đến tháng 12/2017 thành phố quyết định thành lập
thêm 6 CCN tại 4 huyện Ba Vì, Quốc Oai, Phúc Thọ, Ứng Hòa nâng tổng số lên
44 khu, cụm công nghiệp toàn thành phố.
Theo báo cáo tổng kết của Ban quản lý các KCN, CCN Hà Nội nếu như
năm 2010 các khu, cụm công nghiệp thành phố mới tạo việc làm cho 65.000 lao
động thì đến tháng 12/2017 đã tạo được việc làm cho 145.937 người tăng bình
quân 31,86% năm. Trong đó, gần 30% là NTN ở các huyện ngoại thành, đây

lao động việc làm của Hà Nội là rất lớn. Với việc triển khai nhiều biện pháp quyết
liệt để tạo và giải quyết việc làm, đến hết năm 2017, Hà Nội đã giải quyết được
việc làm cho hơn 151.800 lao động, đạt 101% kế hoạch.
Hai là, giải quyết việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành thông qua
xuất khẩu lao động.
Để tạo thêm việc làm NTN, đặc biệt là NTN ở các hộ gia đình khi thu hồi
đất nông nghiệp trong quá trình ĐTH là đối tượng được ưu tiên trong chính
sách thúc đẩy xuất khẩu lao động. Thành phố đã đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
lao động thông qua nhiều hình thức ưu đãi như: cho vay vốn thế chấp; vay vốn
để được đào tạo nghề đáp ứng cho yêu cầu của nhà tuyển dụng, ưu tiên cho số
lao động khi thu hồi đất do tác động của quá trình CNH, ĐTH ở các huyện
ngoại thành. Từ năm 2010 đến năm 2017 thành phố đã đưa được 26.400 người
đi xuất khẩu lao động, bình quân mỗi năm Hà Nội có 3.770 người được giới
thiệu việc làm qua xuất khẩu lao động, chiếm trên 1,5% tổng số lao động được
giải quyết việc làm hàng năm của thành phố. Trong năm 2018, Hà Nội đã tổ
chức 9 phiên giao dịch việc làm theo chuyên đề xuất khẩu lao động, qua đó đưa
3.200 người đi xuất khẩu lao động tại các thị trường chủ yếu là Nhật Bản, Hàn
Quốc, Đài Loan.
Theo báo cáo từ Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố năm
2018, Uỷ ban nhân dân (UBND) thành phố Hà Nội có kế hoạch sẽ giải quyết
việc làm mới cho 152.000 lao động; giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống dưới


19

4%; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 63,5%. Để hoàn thành mục tiêu, UBND
thành phố Hà Nội triển khai trong quý I và II/2018, được tổ chức 48 phiên giao
dịch việc làm; đưa 1.200 NTN đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp
đồng, trong đó có khoảng 550 NTN ở các huyện ngoại thành chiếm tỷ lệ
45,83%, đây cũng là một hướng giải quyết việc thiết thực, chủ động đề NTN ở

yêu cầu phát triển nông thôn mới của thủ đô văn minh, hiện đại
Thứ nhất, chính quyền các cấp, doanh nghiệp và các đoàn thể chính trị đã


20

tích cực và chủ động tạo việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành trong sản
xuất nông nghiệp và PTKT nông thôn theo yêu cầu của của nền kinh tế thị
trường hiện đại và hội nhập quốc tế.
Thứ hai, thông qua sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp mà chủ yếu là
các doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất kinh doanh, đa dạng các loại ngành
nghề và dịch vụ trên địa bàn các huyện để tạo ra việc làm của NTN.
Thứ ba, kết hợp đa dạng các hình thức tổ chức liên kết sản xuất kinh
doanh mới và dịch vụ truyền thống ở các huyện ngoại thành để tạo việc làm
của NTN.
Hai là, tạo việc làm và giải quyết việc làm của NTN ở các huyện ngoại
thành thông qua các chương trình hành động của cả hệ thống chính trị gắn với
nhiệm vụ phát triển KT-XH cụ thể, thiết thực
Thứ nhất, thu hút một số lượng lớn NTN ở các huyện ngoại thành vào
làm việc tại các khu, cụm công nghiệp có thu nhập cao ổn định cuộc sống.
Thứ hai, giải quyết việc làm thông qua việc sử dụng nguồn ngân sách
thường xuyên và ngân sách phát triển các chương trình lồng ghép khác nhau để
giải quyết việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành.
Thứ ba, giải quyết việc làm theo chương trình kế hoạch định kỳ của tổ
chức Đoàn TNCS HCM và của các cấp Hội liên hiệp phụ nữ. Đồng thời, thông
qua phát huy sáng kiến thực hiện các chương trình hành động thiết thực của các
tổ chức đoàn thể phù hợp với từng thời kỳ và bối cảnh của địa phương để giải
quyết việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành.
3.3.2. Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân của các hạn chế
Một là, các TTDVVL tại các huyện ngoại thành Hà Nội hoạt động thiếu

phải gắn với tăng cường bình đẳng giới trong lực lượng lao động
- Phát triển việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành phải gắn
với tổ chức các phong trào đồng hành và phát huy vai trò xung kích, tình
nguyện, sáng tạo của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
4.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN VIỆC LÀM
CỦA NỮ THANH NIÊN Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI
4.2.1. Tổ chức đoàn các cấp đồng hành với nữ thanh niên tiếp tục
thực hiện tốt các phong trào xung kích, tình nguyện, lập thân, lập nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội địa phƣơng
Công tác quản lý đoàn viên cần được hoàn thiện theo hướng quản lý hiện
đại. Xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn đáp ứng yêu cầu công tác và phong trào của
Thủ đô trong thời kỳ mới, nhất là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, cán bộ chuyên
trách có đủ trình độ, phẩm chất, uy tín trong thanh niên; có năng lực tham mưu
cho cấp uỷ Đảng, chính quyền. Tập trung đổi mới mạnh công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ Đoàn theo phương châm đa dạng hình thức, nội dung và có sự
phân cấp; chú trọng đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ công tác thanh niên, bồi dưỡng
theo chuyên đề. Trong đó, hướng trực tiếp vào hai khâu đột phá là: Nâng cao
hiệu quả hoạt động khởi nghiệp, lập thân, lập nghiệp và xây dựng lớp NTN ở
các huyện ngoại thành Thủ đô thanh lịch, văn minh, hiện đại.Để giải pháp trên
đi vào cuộc sống trước hết cần tập trung vào đội ngũ cán bộ Đoàn các cấp được


22

tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng và nghiệp vụ
công tác thanh niên. Phấn đấu 100% đoàn cơ sở trở lên xây dựng và triển khai
được các phương thức trang bị kỹ năng xã hội cho thanh niên.
4.2.2. Hoàn thiện các cơ chế chính sách và luật pháp về bình đẳng
giới trong lao động, việc làm của nữ thanh niên

các huyện cho xuất khẩu lao động theo hướng chủ động nắm nhu cầu đi xuất
khẩu lao động qua đăng ký, cải cách các thủ tục hành chính để giảm tối đa chi
phí cho người lao động.


23

- Hỗ trợ NTN học nghề, học ngoại ngữ, hiểu biết phong tục tập quán,
pháp luật của nước tiếp nhận lao động để đi làm việc ở nước ngoài.
- Hỗ trợ đào tạo lao động trình độ lao động xuất khẩu sang nước ngoài.
Mục đích của công tác này trang bị cho các NTN vững vàng các kiến thức về
chuyên môn, hiểu biết về quan hệ chủ thợ trong nền kinh tế thị trường.
- Sắp xếp và kiện toàn các doanh nghiệp chuyên môn về xuất xuất khẩu
lao động, đồng thời làm tốt công tác tuyển chọn.
4.2.6. Nhân rộng các mô hình sản xuất - kinh doanh có hiệu quả và
phát triển các hình thức sản xuất kinh- doanh mới phù hợp, tạo việc làm
tại các huyện, trong đó ƣu tiên cho nữ thanh niên
Các mô hình sản xuất kinh doanh giỏi như: Trang trại chuyên canh; đa
canh; tổ đội sản xuất - chế biến - tiêu thụ kết hợp du lịch sinh thái trải nghiệm...
đã hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, cánh đồng mẫu lớn, cánh đồng
liên kết, thực hiện đồng bộ từ sản xuất - chế biến - tiêu thụ kết hợp với du lịch
theo chuỗi phát huy thế mạnh của mỗi vùng miền.
Gắn với điều kiện tiềm năng về đất và người của các vùng ngoại thành có
thể phát triển thêm nhiều hình thức sản xuất kinh doanh mới để tạo việc làm của
NTN địa phương.
4.2.7. Tăng cƣờng vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự quan tâm sâu
sát của chính quyền địa phƣơng và công tác vận động, hỗ trợ nữ thanh
niên tìm kiếm việc làm của tổ chức đoàn thanh niên
Cần tập trung tăng cường công tác tuyên truyền cho tuổi trẻ nâng cao
nhận thức mới về đào tạo nguồn nhân lực, nhất là học nghề. Phát triển nghề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status