MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tƣợng và khách thế nghiên cứu 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5. Giả thiết nghiên cứu 3
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7. Phƣơng pháp nghiên cứu 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1. Trên thế giới 5
1.1.2. Ở Việt Nam 6
1.2.1. Khái niệm ma tuý, nghiện ma tuý 8
1.2.3. Khái niệm thái độ 23
1.2.4. Khái niệm phòng ngừa 31
1.2.5. Khái niệm sinh viên 32
1.2.6. Khái niệm thái độ của sinh viên với việc phòng ngừa nghiện ma túy 33
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1. Tổ chức nghiên cứu 39
2.1.1. Nghiên cứu lý luận 39
2.1.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng 39
2.1.3. Một vài nét về trƣờng Đại học Quốc gia Hà Nội 39
2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng 41
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1. Thái độ của sinh viên đối với việc phòng ngừa nghiện ma túy biểu hiện
ở nhận thức 45
3.1.1. Nhận thức của sinh viên về ma tuý 45
3.1.2. Nhận thức của sinh viên về nghiện ma tuý 50
nghiên cứu lý luận và thực tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS.
Hoàng Mộc Lan. Luận văn này chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức
nào trước khi trình bày, bảo vệ và công nhận bởi “Hội đồng đánh giá Luận văn
tốt nghiệp Thạc sỹ Tâm lý học”.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên.
Tác giả
Chu Thị Thu Trang
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, gia
đình đã luôn kịp thời động viên, giúp đỡ em cả về mặt vật chất và tinh thần.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến các Thầy cô giáo Khoa Tâm lý học, đặc
biệt là cô giáo PGS.TS Hoàng Mộc Lan là người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận
tình cho em từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành luận văn này.
Vì điều kiện hoàn cảnh, thời gian nghiên cứu, trình độ kiến thức còn
nhiều hạn chế nên luận văn của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, em
kính mong được sự quan tâm, đánh giá, nhận xét, góp ý của các Thầy cô giáo,
bạn bè và những người quan tâm đến vấn đề này để em có thể rút kinh
nghiệm và hoàn thiện tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30.12.101
Học viên
Chu Thị Thu Trang CÁC TỪ VIẾT TẮT
1.TĐ
: Thái độ
tỉ 703 triệu. Số tiền này có thể xây 125 trường trung học cho cả nước (1 tỉ/trường),
hoặc 4 -5 trường đại học (25 - 30 tỉ/trường). Nếu số tiền này chi cho việc xoá đói
giảm nghèo (cả nước 2.800 hộ) thì mỗi hộ được hơn 4,5 tỉ đồng.
Hiện nay các loại ma tuý được sử dụng không chỉ đơn thuần là Heroin hay
thuốc phiện mà còn nhiều dạng ma túy tổng hợp, thuốc lắc đang nhanh chóng lan
rộng trong giới trẻ, xâm nhập vào môi trường học đường với nhiều hình thức thủ
đoạn ngày càng tinh vi.
Để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn ma tuý thâm nhập vào trường học, góp
phần triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổng thể phòng chống ma tuý của
Chính phủ giai đoạn 2006 - 2011, trong đó mục tiêu quan trọng hàng đầu, có ý
nghĩa chiến lược là xây dựng môi trường học đường không có ma tuý; Bộ Công an
đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục & Đào tạo triển khai thực hiện Kế hoạch liên
ngành số 1413/KH-LN và được cụ thể hoá bằng các Kế hoạch liên tịch số 01, 02, 03
và 07 không để ma tuý thâm nhập học đường. Để thực hiện được mục tiêu đó, trước
hết, chúng ta cần chú ý tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa ma
tuý cho sinh viên, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức cảnh giác không để ma tuý
xâm nhập, lây lan trong trường học, bổ sung các nội dung, hình thức giáo dục
phòng chống ma tuý trong chương trình chính khoá ở các cấp học, bậc học, đảm
bảo thiết thực, dễ hiểu, dễ thực hiện, tăng cường công tác quản lý học sinh, sinh
viên, chấn chỉnh kỷ cương, nền nếp sinh hoạt của nhà trường, của học sinh, sinh
2
viên nội trú và ngoại trú, chú trọng tổ chức các hoạt động ngoại khoá, ngoài giờ, các
câu lạc bộ văn hoá nghệ thuật phòng chống ma tuý…
Quan trọng nhất, với các em học sinh, sinh viên cần có thái độ tích cực trong
việc phòng ngừa nghiện ma túy vì thái độ phòng ngừa nghiện ma túy tích cực là cơ
sở của việc phòng ngừa đạt kết quả tốt nhất. Để làm tốt hoạt động phòng chống ma
túy trong trường học đòi hỏi phải có hiểu biết, nắm vững tâm lý của học sinh, sinh
viên về môi trường sống và hoàn cảnh học tập. Trong quá trình thực hiện hoạt động
phòng chống ma túy, vấn đề cơ bản là học sinh, sinh viên phải nhận thức, thừa nhận
tra.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thái độ phòng ngừa nghiện ma túy.
- Làm rõ thực trạng thái độ của sinh viên với việc phòng ngừa nghiện ma túy
ở trường ĐH QG- HN.
- Đề xuất kiến nghị nhằm giúp sinh viên có thái độ cự tuyệt với ma tuý góp
phần thực hiện hoạt động phòng ngừa nghiện ma tuý ở trường học và cộng đồng.
5. Giả thiết nghiên cứu
Đa số sinh viên nhận thức chưa đầy đủ về các chất ma túy, đồng tình với việc
phòng ngừa nghiện ma túy và chủ động phòng tránh sử dụng các chất ma túy bất
hợp pháp.
Sinh viên có thái độ tích cực phòng ngừa nghiện ma túy bất hợp pháp và có
thái độ không rõ ràng với một số chất ma túy nhẹ thông dụng biểu hiện ở cấp độ cá
nhân.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng thái độ của
sinh viên biểu hiện ở mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi phòng ngừa nghiện không chỉ
các chất ma túy bất hợp pháp mà còn cả các chất ma túy nhẹ thông dụng như rượu, cà
phê, thuốc lá…
- Về khách thể nghiên cứu: Sinh viên đang học tập tại Đại học Quốc gia Hà
Nội.
-Về địa bàn nghiên cứu: 4 trường trong Đại học Quốc gia Hà Nội là trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Kinh
tế, Đại học Ngoại ngữ.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, một số phương pháp nghiên
cứu cụ thể sau đây đã được sử dụng:
4
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu phân tích các văn bản, tài
thấp thường xuyên sử dụng chất gây nghiện.
Nghiên cứu của Brook (1990); Hawkins (1992) ở Mỹ chỉ ra các yếu tố quan
hệ với bạn bè trong xã hội có ảnh hưởng rất lớn với việc sử dụng ma tuý và Alcohol
ở trẻ. Nghiên cứu của Dons (1985); Kovach và Glichman (1986); Shilts (1991)…
cho thấy việc sử dụng các chất gây nghiện của trẻ vị thanh niên gắn với tri giác của
việc sử dụng ma tuý ở bạn bè.
Nghiên cứu của Jonhson (1986); Kuperminc; Onestak; Forman; Linney
(1989) cho thấy sự gắn bó về mặt tình cảm giữa cha mẹ và con cái hoặc mâu thuẫn
xảy ra trong gia đình thường xuyên dẫn đến tình trạng stress, có ảnh hưởng đến việc
sử dụng alcohol và các chất gây nghiện ở trẻ vị thanh niên; ngược lại sự gắn bó tình
cảm giữa cha mẹ và con cái có thể làm giảm khả năng tiến tới sử dụng ma tuý ở trẻ
vị thanh niên.
Đồng thời một loạt nghiên cứu khác của Brook, Gordon, Whiteman, Cohen
(1990 ở Mỹ), Farrington, Gallagher, Morley, Ledger, West (1985), Hawskins,
6
Catalano và Miller (1992), Kandle và Andrew (1987); Patterson, Disonhon (1985)
cũng cho thấy sự thiếu hụt giữa cha mẹ và con cái, cha mẹ không dự đoán và xác
định được hành vi của đứa con, việc theo dõi và kiểm soát con cái một cách sai lầm
hoặc chiều chuộng thái quá là những yếu tố có nguy cơ cao dẫn đến việc lợi dụng
chất gây nghiện và phạm tội ở con cái họ.
Nghiên cứu của tác giả Coie (1993); Yoshikawa (1994) ở viện Y học Mỹ chỉ
ra rằng việc giao tiếp thường xuyên giữa cha mẹ và con cái, tình cảm gia đình ấm
áp, ủng hộ sự độc lập của trẻ một cách hợp lý, kiểm soát con cái với nguyên tắc nhất
quán có thể làm giảm đi những hành vi có vấn đề ở trẻ. Nghiên cứu của Pillow,
Parrena và Chassin (1998) cho thấy việc cha mẹ nghiện rượu có tác động rất xấu
đến con cái họ và từ đó dẫn đến chứng sử dụng các chất gây nghiện. Nghiên cứa của
Richardson, Myers, Bing (1997) ở Mỹ chỉ ra rằng sự rối loạn tâm trạng, cảm giác lo
âu biểu hiện khả năng có thể dẫn tới nghiện ma tuý nặng. Một lý thuyết khác của
Callahal mang tên “trị liệu trường tư duy” (1996) cho rằng có mối liên quan mật
trong học sinh, sinh vỉên” của tác giả Vũ Hùng (tạp chí khoa học số 4 năm 1999)
nêu ra những vấn đề sau cai nghiện vẫn cần sự quản lý của chính quyền, sự thương
yêu của gia đình, sự quan tâm của xã hội, tránh cho người nghiện có mặc cảm lầm
lỗi, bị xã hội bỏ rơi, xa lánh. Bài “Một số giải pháp phòng ngừa ma tuý trong giới
trẻ” của Đăng Giao (tạp chí thanh niên) đề cập giải pháp về kinh tế xã hội, về văn
hoá giáo dục (công tác tuyên truyền đạo đức lối sống cho thanh niên, chú trọng giáo
dục định hướng giá trị). Bài “Chống tái nghiện nhìn từ góc độ tâm lý”, tác giả Đỗ
Ngọc Yên đề cập đến nguyên nhân tái nghiện là do chính từ bản thân tâm lý của
người nghiện và môi trường sống của người nghiện khi đã cai nghiện, ảnh hưởng
đến việc họ quyết tâm hay không quyết tâm từ bỏ ma tuý.
Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Thị Mai Hương với đề tài “Tìm hiểu nhân
cách, hoàn cảnh xã hội của thanh niên nghiện ma tuý và mối quan hệ giữa chúng”.
Tác giả đã chỉ ra nguyên nhân nghiện ma tuý là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố,
đặc điểm mối quan hệ giữ đặc điểm nhân cách và hoàn cảnh xã hội. Về đặc điểm
nhân cách, thứ nhất do cảm xúc mất cân bằng, thứ hai sự thụ động và phụ thuộc, thứ
ba là lối tư duy thử nghiệm và tầm nhìn hạn chế. Còn về hoàn cảnh xã hội thì phần
lớn những thanh niên nghiện ma tuý sống trong môi trường xung quanh họ có nhiều
người nghiện ma tuý, cha mẹ không hiểu con cái, quản lý lỏng lẻo và sự bất lực
trong quản lý con cái. Sự phân ly với gia đình được bù đắp bởi sự gần gũi với bạn
bè, do chịu nhiều ảnh hưởng của bạn bè, coi đó là chỗ dựa chủ yếu trong cuộc sống.
Các công trình nghiên cứu trong nước nghiên cứu về nghiện ma túy tập
trung nghiên cứu những vấn đề như động cơ nghiện, hoàn cảnh xã hội, nhân cách
8
người nghiện, các biện pháp quản lý sau cai nghiện và phòng chống nghiện ma túy.
Rất ít công trình nghiên cứu về phòng chống nghiện ma túy bằng các biện pháp tâm
lý.
1.2. Một số vấn đề lý luận về thái độ của sinh viên đối với việc phòng
ngừa nghiện ma túy
1.2.1. Khái niệm ma tuý, nghiện ma tuý
thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc ho hay cả những loại thông dụng như rượu, thuốc
lá, cà phê…)
Theo nghĩa hẹp thì ma tuý bao gồm: thuốc phiện, cần sa, các chế phẩm khác
như moocphin, hêrôin, côcain…và các chất kích thích thần kinh, tâm thần ghi trong
công ước của Liên hợp quốc về ma tuý.
Chia theo mối quan hệ xã hội thì có 3 loại ma tuý
Ma tuý hợp pháp (ma tuý y học) gồm : thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc giảm
đau, các loại thuốc ho…
Ma tuý thông dụng như: cà phê, thuốc lá, rượu…
Ma tuý bất hợp pháp: hêrôin, thuốc phiện, cần sa, côcain, ma túy tổng hợp,
thuốc lắc
Hiện nay trên thế giới người ta đã biết được trên 400 loại ma tuý có nguồn
gốc tự nhiên và nguồn gốc tổng hợp, được phân chia theo các cách khác nhau.
Khái niệm nghiện ma tuý
Trong từ điển tiếng Việt, thuật ngữ nghiện được hiểu là ham thích đến mức
thành thói quen, khó bỏ [15,tr13].Theo định nghĩa này nghiện có thể được gắn với
việc ham thích dùng một chất nào đó như rượu, thuốc lá, cà phê, ma tuý thậm chí
một loại thức ăn nào đó như sôcôla, bánh… Nghiện có thể được gán cho việc ham
thích một loại hoạt động nào đó. Cách hiểu này về nghiện đã đồng nhất nghiện với
thói quen, thậm chí trong một chừng mực nhất định thói quen còn được hiểu là
mức độ cao hơn của nghiện. Thực tế thì nghiện và thói quen là hai phạm trù rất
khác nhau về bản chất. Thói quen là khuôn mẫu hành vi được thực hiện một cách
thường xuyên và được hình thành trong hệ thống hành vi của con người đến mức
nó được thực hiện mà không cần một sự cố gắng có ý thức. Để thay đổi thói quen
thì con người cần cố gắng một cách có ý thức là đủ. Trong khi đó nghiện ngập là
sự phụ thuộc hoàn toàn vào chất gây nghiện, cơn nghiện có khả năng lấn át ý thức
của con người.
Khái niệm về nghiện cũng được Calanhan R.J định nghĩa là “sự phụ thuộc
vào một vài chất hoặc hoạt động tạo ra sự có hại ở một số mức độ hoặc sự can thiệp
vào đời sống của con người”[21, tr10].
kiểm soát bản thân ở người nghiện ma tuý, có hại cho cá nhân và xã hội. Thiếu ma
tuý, ở người nghiện sẽ xuất hiện hội chứng cai, tức là những đau đớn, vật vã và một
số những phản ứng sinh lý khác ở cơ thể người nghiện. Khi dùng ma tuý những
11
người nghiện được kích thích về cảm giác nên có những khoái cảm, tạo cho họ
những cảm giác dễ chịu hơn là những cảm giác họ phải chịu đựng trước đó.
Do ma tuý ảnh hưởng đến cả thể chất và tâm lý người nghiện nên có thể
phân biệt hai vấn đề của hiện tượng này. Đó là nghiện sinh lý và nghiện tâm lý.
Nghiện sinh lý là sự phụ thuộc của cơ thể vào chất gây nghiện. Khi ngừng
dùng chất gây nghiện trong khoảng thời gian nào đó sẽ gây ra hội chứng cai bao
gồm cả những đau đớn về mặt thể chất và tâm lý cho người nghiện. Sau khi đi cai
nghiện, bác sĩ cho dùng thuốc giải độc và một số loại thuốc khác thì người nghiện
có thể không còn bị phụ thuộc vào ma tuý nữa. Thời gian cắt cơn chỉ mất khoảng 7
đến 15 ngày, tuỳ thuộc vào thể chất của từng người nghiện.
Nghiện tâm lý là thèm khát cảm giác do tác dụng của chất gây nghiện tạo ra
cho người dùng nó. Cảm giác này là sự sảng khoái, sự đê mê, an thần, lâng lâng…
sau khi dùng chất gây nghiện. Như vậy khi ngừng sử dụng ma tuý thì cơ thể bị hội
chứng dữ dội và tâm lý thèm nhớ cảm giác của ma tuý triền miên. Nhưng, khi cắt
được cơn đau về mặt thực thể, tức là không còn lạm dụng thuốc nữa nhưng vẫn
chưa cắt được cơn thèm khát ma tuý về mặt tâm lý thì người nghiện ma tuý lại tái
nghiện. Như vậy, nghiện ma tuý chủ yếu là nghiện tâm lý và việc tìm kiếm nguyên
nhân nghiện ngập chủ yếu phải tập trung vào vấn đề tâm lý của người nghiện.
Như vậy có thể hiểu người nghiện ma tuý là người sử dụng lặp đi lặp lại một
hay nhiều chất ma tuý dẫn đến tình trạng nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính, bị lệ thuộc
thể chất và tinh thần vào ma tuý. Người nghiện ma tuý nếu ngừng sử dụng thuốc sẽ bị
hội chứng cai nghiện (mất ngủ, đau xương, chóng mặt…) ảnh hưởng đến sức khoẻ và
tinh thần (giảm trí nhớ, suy thoái nhân cách ) trong một thời gian nhất định tuỳ thuộc
vào mức độ của từng người nghiện.
Quá trình nghiện ma túy diễn ra nhƣ sau:
chuyển, có người nghiện ma tuý…)
- Do đua đòi theo mốt, muốn thử tìm cảm giác khác lạ, khoái lạc thú vị
- Do đồng hóa theo hành vi của nhóm
- Do buôn lậu ma tuý
- Tìm đến ma tuý để thoát ly khỏi môi trường sống do không thích ứng, họ
chịu sự tác động tiêu cực của các yếu tố tâm lý xã hội, mâu thuẫn trong gia đình,
trong tình yêu…
- Bản thân đam mê, muốn chứng tỏ mình chịu chơi, anh hùng
- Thiếu sự quan tâm của gia đình người thân
- Bản thân người nghiện ma túy thường ma túy thường là những người
không có nghị lực, không có bản lĩnh, sống buông thả, kém rèn luyện, thích tìm
13
những cảm giác khoái lạ, thiếu hiểu biết về tác hại của ma túy mà tìm đến sử dụng
chúng.
Khi nói về nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy họ thường đổ lỗi cho các
nguyên nhân khách quan (như bị bạn bè rủ rê, do bắt chước, mâu thuẫn, bế tắc trong
cuộc sống tình cảm… )nên tìm đến ma túy mà không thấy được các nguyên nhân
chủ quan do bản thân đam mê, tò mò, muốn tìm khoái lạc thú vị, ý chí và nghị lực
kém.
Người nghiện thường bi quan về cuộc sống của mình, coi cuộc đời mình là
bế tắc là đáng bỏ đi, nhưng về trí tuệ họ thường đánh giá mình trên mức trung bình,
họ thường cho mình là thông minh, hoạt bát.
Tác hại của nghiện ma tuý
Tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ người nghiện
Ma tuý khi xâm nhập vào cơ thể sẽ gây ra những phản ứng làm thay đổi chất,
gây tổn hại lên hệ thần kinh, gây nên những ấn tượng trong trung khu thần kinh của
bán cầu đại não và tạo ra trong tâm lý con người một thói quen, nỗi khát khao, đam
mê, khó có thể bỏ được.
Ma tuý vào cơ thể tác dụng đặc hiệu lên hệ thần kinh, gây nên những trạng
chảy nước miếng…
Các nhà khoa học Hoa Kỳ khẳng định rằng, những người nghiện ma tuý
thường bị bệnh tim mạch với tỷ lệ cao so với người không nghiện.
Các nhà khoa học Châu Âu đã thông báo: những người thường xuyên sử
dụng ma tuý dễ mắc các bệnh gan và thận.
Các bệnh thần kinh thường thấy xuất hiện ở những người nghiện ma tuý. Các
chất ma tuý tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương, tạo nên những dấu ấn,
những phản xạ mới, gây nên những xung động kích thích hoặc ức chế lên các trung
khu của bán cầu đại não. Các trung khu thần kinh điều khiển các cơ quan trong cơ
thể, gây nên những hành vi đôi khi không thể kiềm chế được, thậm chí rối loạn
trong nhận thức và hành động. Người nghiện ma tuý nặng luôn ở trong trạng thái rối
loạn các phản xạ thần kinh, tâm lý luôn bị kích động mạnh, nói cười, đi lại cư xử
khác thường.
Đặc điểm nổi bật khác của các bệnh thần kinh là do hậu quả của việc nghiện
ma tuý là bệnh mất trí nhớ hay lãng quên và dẫn tới đần độn, kém thông minh trong
suy tính và nhận định, phân tích các tình huống. Nhiều người nghiện sau khi cai
nghiện xong trạng thái thần kinh vẫn chưa được phục hồi bình thường, thụ động
trong giao tiếp, lầm lì ít nói.
15
Bệnh AIDS, một căn bệnh thế kỷ, là mối hiểm hoạ của toàn nhân loại. Nền y
học hiện đại chưa tìm được phương thức chữa trị, phần lớn những người bị bệnh
AIDS (khoảng 70%) là những người nghiện hút.
Gần đây là thuốc lắc đang là tai họa của toàn nhân loại. “Thuốc lắc” là tên
đường phố của Ecstasy, là chất ma túy tổng hợp MDMA (methylene dioxy
methamphetamine) có tác dụng gây kích thích tâm thần. Nó làm tăng nồng độ các
chất dẫn truyền thần kinh như Serotonin, Dopamin, Noradrenalin… dẫn đến tế bào
thần kinh bị kích thích không ngừng, gây quen, nghiện và suy kiệt thứ phát. Do vậy,
được xếp vào các chất ma tuý và bị cấm sử dụng.
“ Thuốc lắc” gây kích thích tâm thần, làm cho người sử dụng muốn lắc mình,
bị giết chết khi uống một ly rượu. Trong một cơn say rượu con số tế bào não chết đi
có thể lên đến 10.000.000.
Cồn cũng ảnh hưởng đến tình dục và khả năng có con. Cồn làm giảm tính tự
kiềm chế vì thế tăng hưng phấn tình dục. Cồn thuộc vào các chất có tác dụng độc
hại đến tinh hoàn và tinh trùng. Theo các nghiên cứu mới đây của giáo sư E. Abel
(Mỹ), nam giới uống rượu trước khi sinh hoạt tình dục chẳng những làm tăng khả
năng sẩy thai mà còn có thể ảnh hưởng đến việc phát triển của đứa con sinh ra.
Người mẹ uống rượu trong thời gian mang thai dễ sinh ra các đứa trẻ có khuyết tật
về trí tuệ. Khi chúng ta uống quá nhiều rượu cơ thể hoàn toàn mất điều khiển vì tất
cả các tuyến thần kinh ngoại biên, mất cảm giác không gian và thời gian, mất ý
thức; thậm chí rơi vào hôn mê [26].
Tác hại của thuốc lá: khi chúng ta hút thuốc lá thì trong khói thuốc có
khoảng 4.000 chất hóa học, trong đó có 40 chất được xếp vào loại gây ung thư gồm
những chất như nicotin, mônôxít cacbon, hắc ín và benzen, amoniac… ảnh hưởng
đến toàn bộ hệ thần kinh, mạch máu và nội tiết gây ra những bệnh tim mạch, giảm
trí nhớ và các bệnh ung thư.Tuổi thọ trung bình của người hút thuốc ngắn hơn so
với người không hút thuốc từ 05 đến 08 năm. Hút thuốc làm tăng tỷ lệ tử vong cao
từ 30 đến 80% vì các bệnh nên trên gây ra [27].
Cà phê từ lâu đã được biết đến với công dụng kích thích sự hưng phấn của
thần kinh dưới ảnh hưởng của caffein. Tuy vậy loại đồ uống thơm ngon này cũng có
thể có một vài tác dụng xấu đối với sức khỏe con người nếu chúng ta lạm dụng sử
dụng nó như: caphê làm tăng đột ngột lượng insulin trong máu, làm mất thăng bằng
cơ thể cũng như ảnh hưởng không tốt tới tuyến tuỵ. Đặc biệt đối với những người bị
viêm tuỵ thì việc sử dụng cà phê là điều cấm tuyệt đối. Những bệnh nhân bị bệnh
17
tiểu đường cũng không nên dùng cà phê, hoặc nếu có thì chỉ được dùng rất ít. Cà
phê nếu dùng quá nhiều cũng có thể làm sưng màng nhầy ở dạ dày.[28]
Tác hại của ma tuý đối với gia đình người nghiện
Gia đình là tế bào của xã hội, mái ấm gia đình là điều thiêng liêng nhất đối
i tng phm ti va nờu l nhng ngi nghin ma tuý.
Nghin ma tuý l mt trong nhng nguyờn nhõn, iu kin phỏt sinh ti
phm. Do tỏc hi o giỏc ca mt s loi ma tuý, ngi nghin cú th cú mt s
hnh vi hung hón, gõy hng phn, quy phỏ mt trt t an ton xó hi, hoc cú khi
ni mỏu anh hựng dn n ua xe, lng lỏch gõy tai nn giao thụng. Nu mi ngi
nghin s dng t 10.000 n 30.000 ng mi ngy mua ma tuý thỡ mi ngy
nc ta tiờu tn t 2 t n 6 t ng (vi khong 200 ngi nghin ma tuý hin
nay). Khụng ch dng li ú, nhng chi phớ tn kộm do phi xõy dng lc lng
quc phũng, khc phc gii quyt cỏc hu qu do ma tuý em li cng khụng nh.
Ngoi ra, xó hi phi mt tin giỏo dc, iu tr tn hng chc t ng. Ma tuý
lm tha hoỏ th h tr - nhng ngi sa chõn vo nghin ngp. Ma tuý gõy nh
hng n s phỏt trin kinh t, chớnh tr, vn hoỏ, quc phũng ca t nc.
Mặt khác nghin ma tuý cũng làm suy giảm lực l-ợng lao động và chất l-ợng
lao động cng gim sỳt. Mỗi năm ngoài việc các đối t-ợng nghiện đ-a vào cơ thể
một l-ợng chất độc trị giá hàng nghìn tỉ đồng thì nhà n-ớc cũng phải chi phí rất
nhiều tỉ đồng cho việc chữa trị, cai nghiện, chăm sóc thuốc men cho những ng-ời
nghiện, đó là ch-a kể đến những khoản tài chính khổng lồ cho công tác đấu tranh,
phòng chống buôn bán các chất ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma tuý.
Tệ nạn ma tuý gây nên nhiều tác hại cả về sức khỏe, kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội, an ninh trật tự và trở thành thảm hoạ chung của cả nhân loại.
19
Một số đặc điểm của người nghiện ma túy
Bảng 1: Biểu hiện của người nghiện ma túy:
10
Mất ngủ
66
11
Hay bực tức
91
12
Dị cảm (dòi bò trong xương, bồng bềnh)
75
13
Trầm cảm
41
14
Dễ bị kích động
30
15
Lo âu
25
(Nguồn: Phùng Khắc Bình (2004), Nội dung cơ bản về giáo dục phòng
chống ma túy, Hà Nội. Tài liệu Hội thảo quốc gia về phòng chống ma túy)
Như vậy, nếu để ý quan sát, sẽ dễ dàng nhận ra những triệu chứng nghiện ma
túy của người thân sống bên ta, vì mỗi người nghiện khi thiếu thuốc cũng có ít nhất
3- 5 biểu hiện nêu trên. Phân tích những triệu chứng trên cho thấy người nghiện đã
bị rối loạn hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, ảnh hưởng đến tâm lý, hành vi xã hội.
Tác động của ma túy đến hệ thần kinh và hoạt động sống của cá nhân.
Khi sử dụng ma túy lúc đầu chỉ gây cảm giác khác lạ về thần kinh, nhưng sử
dụng nhiều thành một phản xạ có điều kiện (hiện tượng quen thuốc).
Với người bình thường khi không sử dụng các chất ma túy thì dưới võ não tự
tạo ra chất mocphine chất này như một dạng đề kháng làm giảm mệt mỏi, làm phục
hồi sức khỏe, đảm bảo cơ chế tự điều chỉnh cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy thì nó
Nhưng khi ma túy được đưa vào cơ thể, kích thích thần kinh mạnh, gây ra cảm giác
thoải mái, đặc biệt khó có thể quên được. Khi đã nghiện cảm giác đó rồi thì phải
thường xuyên đưa ma túy vào cơ thể vì:
Cần ma túy để thỏa mãn cơn nghiện của cơ thể, nếu cơ thể “đói” ma túy sẽ
gây ra đau đớn khủng khiếp.