Báo cáo nghiên cứu khoa học: "THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC HỘ DÂN DIỆN THU HỒI ĐẤT TỈNH QUẢNG NAM" - Pdf 19

THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG CÁC HỘ DÂN DIỆN THU HỒI ĐẤT
TỈNH QUẢNG NAM
THE REAL EMPLOYMENT SITUATIONS OF LABOURERS IN FAMILIES
WHOSE LAND WAS RECOVERED IN QUANG NAM PROVINCE PHẠM QUANG TÍN
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Những năm gần đây, có nhiều Tỉnh, Thành phố ở Việt Nam thực hiện chính sách đổi đất lấy
hạ tầng và đã tạo ra sự thay đổi rất lớn đến đời sống kinh tế xã hội của người dân, đặc biệt là
những hộ dân bị thu đất để phục cho các dự án. Bài viết này nghiên cứu tình trạng việc làm
của lao động trong các hộ bị thu hồi đất ở Quảng Nam để làm cơ sở xây dựng các chính sách
hỗ trợ, tạo việc làm cho người dân Quảng Nam. Đặt biệt là bộ phận lao động trong các hộ
dân bị thu hồi đất.
ABSTRACT
In recent years, many provinces and cities in Vietnam have implemented the policy of
exchange land for infrastructure which has greatly affected the economic social life. This paper
examines the laborers’ actual job situation in families, especially those whose land was
recovered for projects. in Quang Nam province. The research will serve as basis to build
supporting schemes for these people in Quang Nam province.
Quảng Nam là một trong những tỉnh khó khăn trong khu vực miền Trung và Tây
nguyên, người dân sống chủ yếu dựa vào Nông lâm nghiệp và Thủy sản. Từ khi tái thành lập
tỉnh 1997 đến nay, với mục tiêu phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành một tỉnh có tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu, những năm qua Quảng Nam đã triển khai thực hiện

102

30.887 561,58

2 Điện Bàn 1.604

7.063 4.275 1.971.355 1.229,02

3 Duy Xuyên 175

804

492

154.430 882,46

4 Núi Thành 362

1.522 961

1.085.613 2.998,93

5 TX-Tam Kỳ 742

3.186 1.951 1.062.394 1.431,80

6 Phú Ninh 117

548


Quảng Nam 1.971.355 m
2
,
bình quân mỗi hộ bị thu hồi 1.229,02m
2
. Tiếp theo là Thị xã Tam
Kỳ có 742 hộ và có 3.186 người dân bị ảnh hưởng, bình quân mỗi hộ bị thu hồi 1.431,80 m
2
.
Tuy nhiên, tính theo hộ gia đình thì Núi Thành có diện tích thu hồi bình quân mỗi hộ cao nhất
2.998,93 m
2
. Phú Ninh đứng thứ 2 bình quân mỗi hộ 2.553,26 m
2
.

Bảng 2. Tình hình hỗ trợ đền bù và thực trạng đời sống của các hộ dân
Hỗ trợ đền bù (hộ) Mức độ hỗ trợ (hộ) Mức sống (hộ)
STT Địa Phương
Có Không Thỏa đáng
Không
Thỏa đáng
Không
khó khăn
Khó khăn
1 Đại Lộc 18

37

10


216

146

81

281

5 TX-Tam Kỳ 719

23

262

480

398

344

6 Phú Ninh 75

42

0

117

0

được từ hỗ trợ đền bù không bù đắp được giá trị mất đi từ việc đất sản xuất của các hộ gia
đình bị thu hồi. Chính vì việc không hỗ trợ đền bù hoặc hỗ trợ đền bù không thỏa đáng làm
cho đời sống của hộ dân bị thu hồi đất sản xuất rơi vào hoàn cảnh khó khăn, có 1.753 hộ
chiếm 56,82%. Đặc biệt, Phú Ninh địa có 100% hộ, mức hỗ trợ đền bù không thỏa đáng và tất
cả các hộ này đều rơi vào hoàn cảnh có mức sống khó khăn. Mục tiêu của tất cả các dự án đều
nhằm phát triển kinh tế và cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của người dân. Tuy nhiên, kết
quả phân tích cho thấy mục tiêu này không đạt được và vấn đề đặt ra cần xem xét lại chính
sách thu hồi đất, chính sách hỗ trợ đền bù để giảm thiệt hại cho các hộ dân bị thu hồi đất sản
xuất và đời sống của các hộ dân phải ít khó khăn hơn so với trước khi bị thu hồi đất sản xuất.
2. Thực trạng việc làm của người lao động trong hộ bị thu hồi đất sản xuất
Số liệu bảng 03, cho thấy trong các hộ bị thu hồi đất sản xuất có 578 người rơi vào
tình trạng thất nghiệp chiếm 8,46% trong tổng số người trong độ tuổi lao động có khả năng
làm việc và nhu cầu việc làm. Trong đó Điện Bàn có số người thất nghiệp cao nhất 273 người
chiếm 47,23%; Núi Thành 168 người chiếm 29,06% và Tam Kỳ 114 người chiếm 19,72%
trong tổng số thất nghiệp của các hộ bị thu hồi đất sản xuất ở Quảng Nam.
Trong tổng số 6.256 người hiện đang tham gia làm việc, có 3.417 người hoạt động
trong ngành Nông - Lâm nghiệp chiếm 54,62%. Tuy nhiên, những người hiện đang tham gia
làm việc vẫn còn xảy ra tình trạng thiếu việc (một tuần làm việc ít hơn 40 giờ) 779 người và
không việc làm (có tên trong danh sách của các tổ chức kinh tế nhưng không có việc để làm)
454 người. Tổng số thất nghiệp, thiếu việc làm và không có việc làm 1.811 người chiếm
26,5% trong số người có nhu cầu lao động của các hộ dân bị thu hồi đất sản xuất. Đặc biệt
đáng quan tâm, Tam Kỳ-Trung tâm hành chính Quảng Nam, nơi có trình trạng thất nghiệp,
thiếu việc làm và không có việc làm cao nhất.
Bảng 3. Thực trạng và cơ cấu việc làm của lao động các hộ dân bị thu hồi đất sản xuất
Đơn vị tính: người
Lao động trong
các nhóm ngành kinh tế
Tình trạng việc làm của
lao động
STT Địa Phương

34

72

11

4

2 Điện Bàn
3.358

273

1.651

972

735

3.122

156

80

3 Duy Xuyên
387

3


1.501

114

802

300

399

837

432

232

6 Phú Ninh
263

14

227

3

33

154

64


5.023

779

454
Hình 1. Cơ cấu trình trạng việc làm và lao động của các hộ dân bị thu đất sản xuất

3. Nghiên cứu chất lượng lao động trong các hộ dân bị thu hồi đất sản xuất
Trình độ học vấn là một trong những chỉ tiêu phản ánh chất lượng lao động. Căn số
liệu bảng 04 cho thấy, trình độ học vấn của lao động trong các hộ bị thu hồi đất sản xuất rất
thấp chỉ có 1.916 người tốt nghiệp Trung học Phổ thông, chiếm 23,4%. Trong khi đó, có
3.434 người tương ứng 41,94% có trình độ học vấn chỉ mới tốt nghiệp hoặc chưa tốt nghiệp
tiểu học. Đối với bộ phận lao động có trình độ học vấn thấp này, vấn đề áp dụng khoa học kỹ
thuật trong sản xuất rất hạn chế, chủ yếu làm việc trong nhóm ngành kinh tế Nông -lâm
nghiệp và trong Khu vực hộ gia đình. Trình độ học vấn thấp dẫn đến vấn đề đào tạo và tái đào
tạo nghề, phổ biến khoa học kỹ thuật trong sản xuất gặp nhiều trở ngại nên khi bị thu hồi đất
Lao động trong các nhóm ngành kinh tế

xuất. Trong đó, Điện Bàn có số lao động chưa được đào tạo cao nhất 3.648 người chiếm
57,36% và Tam Kỳ đứng thứ 2 với 1.517 người chiếm 23,85% trong tổng số lao động chưa
qua đào tạo. Chính vì chưa được đào tạo nên vấn đề tìm việc làm của lao động trong các hộ
dân bị thu hồi đất sản xuất gặp nhiều khó khăn, các Doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu cần
tuyển dụng lao động có nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật nên bộ phận lao động phổ thông
không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Điều này làm cho việc thực hiện mục tiêu
chuyển dịch cơ cấu lao động trong các nhóm ngành kinh tế của Quảng Nam rất chậm. Hiện
nay lao động làm việc trong nhóm ngành Nông - Lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu
69,71% so với tổng số lao động của Quảng Nam.
Lao động đã qua đào tạo 22,33%, trong đó trình độ Cao đẳng - Đại học chỉ 202 người
tương ứng 2,47% và Trung học - Công nhân kỹ thuật 723 người tương ứng 8,83%. Tổng số
lao động có bằng cấp được công nhận chỉ 11,3% một tỷ trọng rất khiêm tốn so với tổng số lao
động trong các hộ dân bị thu hồi đất sản xuất. Số công nhân kỹ thuật được đào tạo trong các
làng nghề, các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề không được cấp bằng hoặc đang theo học
chưa được cấp bằng là 903 người chiếm 11,03 % so với tổng số lao động trong các hộ dân bị
thu hồi đất sản xuất.
Kết quả phân tích cho thấy, chất lượng lao động trong các hộ dân bị thu hồi đất sản
xuất chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng, phần lớn người lao động có trình độ
học vấn và nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật rất thấp. Nên vấn đề nâng cao trình độ học vấn,
đào tạo và tái đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật cho lao động rất bức
bách cần phải giải quyết.
Bảng 4. Trình độ học vấn và nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật của lao động
trong các hộ dân bị thu hồi đất sản xuất
Trình độ học vấn và nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật Số tuyệt đối (người) Tỷ trọng (%)
Chưa tốt nghiệp Tiểu học 843 10,30
Đã tốt nghiệp Tiểu học 2.591 31,64
Đã tốt nghiệp Trung học cơ sở 2.838 34,66
Đã tốt nghịêp Trung học phổ thông 1.916 23,40
Trình độ
học vấn

có 143 ý kiến chiếm 3,27%, thấp nhất trong tổng số ý kiến của người dân. Tuy nhiên, xuất
khẩu lao động là một hướng đi để giải quyết vấn đề việc làm cho lao động không chỉ trong
các hộ bị thu hồi đất mà cả Quảng Nam. Hiện nay xuất khẩu lao động đòi hỏi lao động có tay
nghề, có nghiệp vụ chuyên môn nên vấn đề đào tạo và tái đào tạo nghề là giải pháp trung tâm
của các giải pháp giải quyết vấn đề việc làm cho lao động Quảng Nam.
5. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, bình quân mỗi hộ có 1.499,10 m
2
, dao động trong
khoảng 561,58 m
2
-2.998,93m
2
đất sản xuất bị thu hồi phục vụ cho các dự án, phần lớn các hộ
dân bị thu hồi đất sản xuất chưa được hỗ trợ đền bù thỏa đáng 2.063 hộ chiếm 66,87%. Chính
điều này dẫn đến đời sống của các hộ dân có rất nhiều thay đổi, nhiều hộ rơi vào tình trạng
đời sống khó khăn 1.753 hộ chiếm 56,82% trong tổng số hộ bị thu hồi đất sản xuất so với
trước khi bị thu hồi đất sản xuất.
Có 3.085 hộ bị thu hồi đất sản xuất và có 13.427 người bị ảnh hưởng trực tiếp. Trong
đó có 8.188 người trong độ tuổi lao động, điều đáng quan tâm phần lớn những người lao động
này có trình độ học vấn rất thấp, tỷ trọng lao động mới tốt nghiệp tiểu học tương đối lớn
41,94%. Nghiêm trọng hơn, hầu hết chưa được đào tạo nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật 6.360
người chiếm 77,67%, điều này làm cho cung và cầu lao động ở Quảng Nam lệch nhau, người
lao động cần việc làm nhưng không tìm được và doanh nghiệp cần lao động có nghiệp vụ
chuyên môn kỹ thuật nhưng không tuyển dụng được. Cơ cấu lao động của các hộ dân bị thu
hồi đất sản xuất theo ngành nghề chủ yếu làm việc trong Nông - Lâm nghiệp, có 1.032 người
thất nghiệp và không có việc làm chiếm 12,6%.
Để giải quyết vấn đề việc làm cho lao động trong hộ bị thu hồi đất sản xuất nói riêng
và Quảng Nam nói chung, cần thực hiện một số giải pháp như sau:
- Cần thực hiện tốt hơn nữa việc đào tạo và tái đào tạo trình độ nghiệp vụ chuyên môn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status