Luận văn: Thực trạng việc làm của người dân xã Đông Phương Yên Chương Mỹ (Hà Tây cũ) sau khi sáp nhập Hà Nội - Pdf 14

1 Luận văn

Thực trạng việc làm của người dân xã Đông Phương
Yên – Chương Mỹ (Hà Tây cũ) sau khi sáp nhập Hà Nội
2

Phần 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc làm là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, là mối quan
tâm lớn của hầu hết các quốc gia và của toàn nhân loại. Đảng và Nhà nước ta luôn coi
việc thúc đẩy mục tiêu tạo việc làm đầy đủ cho mọi người dân để tạo thu nhập và
không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống là ưu tiên số một trong chính sách kinh tế
- xã hội. Bởi vì, trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng ta luôn lấy con người làm
trung tâm, coi phát triển con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.
Tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội làm việc, một mặt là điều kiện để phát huy
được tiềm năng lao động - nguồn nội lực to lớn nhất ở nước ta cho sự phát triển kinh tế
- xã hội, cải thiện đời sống, mặt khác cũng là hướng cơ bản để xóa đói giảm nghèo bền
vững. Đặc biệt trong điều kiện nước ta, tài nguyên không nhiều, nguồn lực tài chính và
cơ sở vật chất còn nghèo, quá trình tiếp cận với nền kinh tế tri thức còn chậm thì việc
ưu tiên hàng đầu cho đầu tư phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người là
sự đầu tư có hiệu quả nhất để tăng trưởng và phát triển kinh tế, chống nguy cơ tụt hậu
và khẳng định vị thế đất nước khi tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới.

mai một. Cũng trong quá trình này một số thanh niên không có việc làm ổn định,
không thích nghi kịp với sự thay đổi của xã hội nên mất định hướng nghề nghiệp. M ặt
khác, người phụ nữ nơi đây thường là những người có trình độ thấp, thời gian làm việc
kéo dài từ 12 đến 14 tiếng một ngày nên ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe, không có
thời gian chăm sóc bản thân và gia đình. Một số gia đình khác mất đất trong quá trình
quy hoạch các KCN, họ được đền bù một khoản tiền lớn nhưng không biết cách chi
tiêu hay đầu tư làm ăn, buôn bán, cuộc sống trở nên xáo trộn. Với mong muốn có cái
nhìn rõ hơn về vấn đề việc làm của người dân ở nơi đây nên tác giả tiến hành chọn đề
tài : “Thực trạng việc làm của người dân xã Đông Phương Yên – Chương Mỹ (Hà
Tây cũ) sau khi sáp nhập Hà Nội” để làm khóa luận tốt nghiệp.
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về những thay đổi trong việc làm và thu nhập,
những chuyển biến tích cực và tiêu cực trong việc làm của người dân xã Đông Phương
Yên sau khi sáp nhập Hà Nội. Từ đó đề ra những giải pháp giúp người dân phát huy
những mặt tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực trong vấn đề việc làm, định
hướng tương lai cho lớp thanh niên, giúp cho lao động nữ kết hợp hài hòa cuộc sống
4

lao động và cuộc sống gia đình, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân
hòa nhập tốt nhất vào xu thế phát triển chung của xã hội.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm tìm hiểu những thay đổi về việc làm và thu nhập của người dân xã
Đông Phương Yên sau khi sáp nhập Hà Nội, từ đó đề ra một số giải pháp giúp giải
quyết việc làm, nâng cao chất lượng, ổn định cuộc sống cho người dân.
3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng việc làm của người dân xã Đông
Phương Yên – Chương M ỹ sau khi sáp nhập Hà Nội.
Khách thể nghiên cứu của đề tài là người dân tại xã Đông Phương Yên – Chương
M ỹ - Hà Nội.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Sau khi sáp nhập Hà Nội, cơ cấu việc làm của người dân xã Đông Phương Yên

Đồng thời thu thập thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng (các báo,
Internet…) nhằm đối chiếu, so sánh với thực tế.
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng cùng
một số phương pháp liên ngành. Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số lý thuyết trong xã
hội học.
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp trưng cầu ý kiến
Mục đích: Nhằm thu thập những ý kiến của lao động làng nghề MTĐ về thực
trạng việc làm, những thay đổi về việc làm và thu nhập của người dân trước và sau khi
sáp nhập vào Hà Nội, từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp để ổn định việc
làm, giữ gìn và phát huy truyền thống làng nghề MTĐ trên địa bàn xã Đông Phương
Yên.
Cách tiến hành: Trong phạm vi đề tài sẽ áp dụng phương pháp trưng cầu ý
kiến bằng cách phát cho người dân những phiếu trưng cầu ý kiến ( bao gồm 200 phiếu
trưng cầu ý kiến ), sau đó thu lại phiếu và xử lý về mặt định lượng, đinh tính, khái quát
hóa về thực trạng.
6

6.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Nhằm thu thập thông tin đầy đủ hơn, sâu sắc hơn từ lãnh đạo chính
quyền địa phương, chủ các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn, người dân về vấn đề
việc làm của người dân làng nghề M TĐ Đông Phương Yên sau khi sáp nhập Hà Nội.
Cách tiến hành: Trong đề tài đã tiến hành 30 cuộc phỏng vấn sâu với người
dân, 8 cuộc phỏng vấn với chủ công ty, doanh nghiệp M TĐ, 6 cuộc phỏng vấn đối với
cán bộ địa phương nhằm thăm dò, gợi mở và khai thác các thông tin cần thiết phục vụ
cho quá trình nghiên cứu.
6.2.3 Phương pháp quan sát

công việc khác nhau nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tác giả tập trung
vào làm rõ thực trạng việc làm của lao động nông nghiệp, thợ thủ công, công nhân và
tiểu thương tại xã Đông Phương Yên – Chương M ỹ sau khi sáp nhập vào Hà Nội (Từ
ngày 01/8/2008 đến nay), so sánh với việc làm của người dân trước khi sáp nhập Hà
Nội để thấy rõ được những biến đổi về cơ cấu việc làm và thu nhập của người dân
trong xã.
Về thời gian nghiên cứu: đề tài được nghiên cứu trong thời gian từ tháng 3/2011
đến tháng 5/2011.
8. Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận được cấu trúc gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết
luận. Trong đó phần nội dung bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2: Thực trạng việc làm của người dân xã Đông Phương Yên – Chương
M ỹ sau khi sáp nhập Hà Nội.
Chương 3: Nhận định tiềm năng, thế mạnh và đề xuất một số giải pháp giải
quyết việc làm cho người dân xã Đông Phương Yên – Chương Mỹ - Hà Nội.
8

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.
1.1 Cơ sở lý luận về việc làm
1.1.1 Khái niệm việc làm
M ọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là
việc làm.[4]

Gíá trị: Giá trị của việc làm thay đổi tùy theo hoàn cảnh lịch sử, xã hội và cá
nhân. Việc đánh giá một việc làm có hiệu quả, có năng suất, có giá trị tùy thuộc rất
nhiều quan điểm của người đánh giá. Sự đánh giá này mang tính tương đối. Đánh giá
một việc làm thường không dựa theo tiến trình mà thường dựa theo giá trị cụ thể trước
mắt của sản phẩm làm ra, vì vậy mà sản phẩm của những người mẹ, nhân viên xã hội,
nhân viên văn phòng, nhà chính trị không được nhìn thấy, không được đánh giá đúng
mức. Mỗi việc làm có đặc điểm văn hóa riêng không thể xem xét với cùng một tiêu chí
đánh giá ( Ví dụ: hôn nhân và quản lý không thể được đánh giá bằng một thang đo
lường như nhau).
Thời gian: Giá trị của việc làm thay đổi tùy thuộc vào việc đó được làm khi nào
(ví dụ: sản phẩm ngoài giờ có giá trị gấp đôi sản phẩm làm trong giờ), một số công
việc được làm một cách dễ dàng hơn nhờ có kinh nghiệm ( tích lũy theo thời gian),
nhưng một số việc làm khác sẽ trở nên khó khăn hơn khi tuổi càng cao. Mặt khác, giá
trị thời gian tiêu phí đôi khi không được kể đến trong một vai công việc nhưng lại
được đánh giá cao trong một số công việc khác ( Ví dụ: việc nội trợ và cấp dưỡng tại
xí nghiệp). Việc làm nhằm hoàn thành một nhiệm vụ cần thiết không chỉ về mặt kinh
tế mà còn về mật xã hội nữa, vì thế giá trị thời gian phải được kể đến. (Ví dụ: làm
ngoài giờ).
Nơi làm việc: Nhiều giá trị của việc làm được đồng hóa với nơi làm việc (Ví dụ:
rửa chén tại nhà không được coi trọng như rửa chén tại khách sạn, may gia công ở nhà
rẻ hơn may trong xí nghiệp).
Người lao động: Giá trị của việc làm cũng được đánh giá khác nhau do ai là
người làm việc ấy. Trong xã hội có một số công việc được xem như là “thích hợp”
cho một số người không chỉ vì yêu cầu chuyên môn, tay nghề của họ mà còn do sự
10

giới hạn của phong tục, do bảo vệ đặc quyền, đặc lợi của một giai tầng xã hội (Ví dụ:
âm nhạc và thể thao được cho là thích hợp với người da đen). Bởi vì quyền lợi kinh tế,
danh dự và uy tín xã hội của cá nhân gắn liền với việc làm nên sự chuyên môn hóa
hoặc sự phân biệt chuyên môn trong phân công lao động được củng cố dưới 3 hình

giáo dục là phụ nữ có khuynh hướng học một số ngành xã hội và thường tránh các
ngành khoa học kỹ thuật. Sự lựa chọn ngành học đã ảnh hưởng đến cơ hội hành nghề
dành cho phụ nữ. Sự bất lợi trong nghề nghiệp của phụ nữ có liên quan chặt chẽ đến
vai trò của phụ nữ trong gia đình Khi gánh nặng lao động trong nhà rơi lên vai phụ
nữ thì họ sẽ bị giới hạn trong việc lựa chọn nghề nghiệp.
Trong khi sự phân chia lao động theo giới tính thường được giải thích là do sự
khác nhau về sinh học phù hợp với chức năng sinh sản của phụ nữ, nhưng phái nữ
quyền xem sự phân chia lao động này là kết quả của chế độ phụ quyền phong kiến
phân biệt đối xử đối với phụ nữ, bởi vì tư bản và phong kiến cho rằng lãnh địa thích
hợp cho phụ nữ là ở trong nhà và lãnh địa của nam giới là ở bên ngoài xã hội.
1.1.3 Thiếu việc làm
1.1.3.1 Khái niệm

Là tình trạng người LĐ có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan họ phải
làm việc không đủ thời gian theo lộ trình hoặc làm những công việc có thu nhập thấp
không đủ sống và muốn tìm thêm việc làm bổ sung.
1.1.3.2 Phân loại
Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm và làm đủ thời gian,
thậm chí còn quá thời gian quy định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao
động thấp, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấp
và thường có mong muốn tìm công việc khác có thu nhập cao hơn.
Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng người LĐ làm việc với thời gian ít
hơn quỹ thời gian quy định, không đủ việc làm và đang có mong muốn tìm thêm việc
làm và luông sẵn sàng để làm việc.
1.1.4 Tạo việc làm
1.1.4.1 Khái niệm
Tạo việc làm là quá trình kết hợp các yếu tố : vốn đầu tư, sức lao động, nhu cầu
thị trường về sản phẩm để người LĐ tạo ra các của cải vật chất (số lượng, chất lượng),
sức lao động (tái sản xuất sức lao động) và các điều kiện kinh tế xã hội khác.
12

bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Dưới góc độ chính sách việc làm thì để hạn
13

chế thất nghiệp, một mặt phải tạo ra chỗ làm mới, mặt khác phải tạo điều kiện cho
người lao động tránh được nguy cơ thất nghiệp, đồng thời có chính sách hỗ trợ cho
người lao động khi họ có nguy cơ thất nghiệp. [5]
1.1.7 Giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi
người có khả năng lao động, có cơ hội được làm việc với chất lượng việc làm ngày
càng cao. [5]
1.1.8 Sự cần thiết phải tạo việc làm cho người lao động
Tạo việc làm cho người lao động là vấn đề cấp bách của toàn xã hội, nó thể hiện
vai trò của xã hội đối với người LĐ, sự quan tâm của xã hội về đời sống vật chất, tinh
thần của người LĐ và nó cũng là cầu nối trong mối quan hệ giữa xã hội với người LĐ.
Việc làm la nơi diễn ra những hoạt động của người LĐ, những hoạt động này được
công nhận qua những công việc mà họ đã làm và nó cũng là nơi để họ thể hiện kết quả
học tập của mình đó là trình độ chuyên môn.
Tạo việc làm là vấn đề chính để người LĐ có việc làm và có thu nhập để tái sản
xuất sức LĐ xã hội, giảm tỉ lệ thất nghiệp, do đó hạn chế được những phát sinh tiêu
cực do thiếu việc làm gây ra.
Tạo việc làm đáp ứng nhu cầu lao động của con người vì lao động là phương tiện
để tồn tại chính của con người, do đó mọi chủ trương, chính sách đúng đắn là phải
phát huy cao độ khả năng nguồn lực của con người, nếu có sai phạm thì nguồn lao
động sẽ trở thành gánh nặng, thậm chí gây trơ ngại, tổn thất lớn cho nền kinh tế cũng
như xã hội. Vì vậy một quốc gia giả quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động là
thành công lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và chính trị của mình.
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm
1.2.1 Tài nguyên đất đai
Đất đai là một yếu tố của quá trình sản xuất, có vai trò đặc biệt không chỉ đối với
nông nghiệp mà còn đối với công nghiệp, dịch vụ phi nông nghiệp…Trong quá trình

lường trước được hiện tượng này sẽ dẫn đến tình trạng mất cân đối trong nguồn nhân
lực. Khi khoa học công nghệ phát triển chắc chắn sẽ gia tăng xu hướng thất nghiệp của
đội ngũ công nhân không lành nghề, do đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói
chung là giải pháp cơ bản để hạn chế thất nghiệp. Để thực hiện được mục tiêu này,
trước hết cần có những biện pháp nhằm tăng cường năng lực thể chế của của các cơ
quan hoạt động trong lĩnh vực lao động việc làm. Thực hiện có hiệu quả chương trình
việc làm quốc gia thông qua nhiều hoạt động: đào tạo nghề cho nông dân, phát triển
15

nông thôn, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng
và dịch vụ xã hội. [3]
1.2.3 Dân số và tỷ lệ tăng dân số
Tốc độ gia tăng dân số nước ta những năm trước đây là quá nhanh, nên số người
bước vào độ tuổi lao động ngày càng nhiều, tốc độ tạo việc làm cho người lao động
không tăng kịp với tốc độ gia tăng của nguồn lao động, đó là một sức ép lớn. Ngoài ra
còn phải kể đến sức ép của số lao động bị mất việc làm do tác động của khủng hoảng
kinh tế, của sức cạnh tranh yếu của nền kinh tế nước ta. Các số liệu thống kê và dự báo
dân số cho thấy, năm 1990 số người trong độ tuổi lao động mới là 35.7 triệu người,
năm 2000 là 46.5 triệu và năm 2015 con số này sẽ lên tới 62 triệu người. Vì vậy các
chính sách nhằm giảm tốc độ gia tăng dân số là một trong những biện pháp làm giảm
sức ép về giải quyết việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp. [3]
1.2.4 Thị trường hàng hóa sức lao động (thị trường lao động)
Ở nước ta hiện nay quan hệ cung cung – cầu về lao động trên thị trường có
những biểu hiện sau:
Một là: Trên phạm vi cả nước, cung lớn hơn cầu về lao động và tình trạng này
tiếp tục kéo dài trong những năm tới, dẫn đến sức ép lớn về việc làm. Mỗi năm có
khoảng 1.1 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. Khả năng tự giải quyết việc làm
của số lao động này là rất khác nhau nhưng có đặc điểm là thường không được đào tạo
nghề. Vì vậy công tác dạy nghề và phổ cập nghề trở thành vấn đề cấp bách và có tính
chiến lược, là khâu then chốt nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của lao động trên

lược về kinh tế, an ninh quốc phòng. Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu.
Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn”. [3]
1.3 Phát triển cộng đồng
1.3.1 Khái niệm
Cộng đồng: là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống
chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và
cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy. Phát triển cộng
đồng: là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính
quyền để cải thiện cac điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng và giúp
các cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia. ( Định
nghĩa chính thức của Liên Hiệp Quốc, 1956).
17

Định nghĩa này nhấn mạnh hai yếu tố:
Sự tham gia của người dân với sự tự lực tối đa.
Sự hỗ trợ về kỹ thuật và dịch vụ của nhà nước để khuyến khích sang kiến, sự tự
giúp, những cố gắng của người dân.
1.3.2 Nội dung phát triển cộng đồng
Quản lý tài nguyên cộng đồng: Gồm quản lý môi trường cộng đồng, xử lý các
thảm họa thiên tai, phát triển các cơ sở kinh doanh sản xuất.
Giáo dục cộng đồng: giúp trang bị kiến thức, sự hiểu biết và kĩ năng làm việc,
lao động cho người dân. Bao gồm:
Gây nhận thức hoặc thức tỉnh chính quyền địa phương và cộng đồng về tình
trạng hiện tại của cộng đồng.
Hình thành giá trị cộng đồng, giúp thay đổi nhận thức, thái độ, hình vi tiêu cực,
đề cao giá trị tích cực, khơi dậy truyền thống cần cù, hiếu học, tương thân, tương trợ.
Phát triển kĩ năng làm việc chung.
Tổ chức cộng đồng. bao gồm:
Củng cố các tổ chức có sẵn như các đoàn thể, tổ chức chính trị, xã hội tại cộng
đồng.

Ủng hộ cho sự liên kết rộng rãi các tổ chức trong việc giải quyết các vấn đề cộng
đồng.
Tạo sự quan tâm về công bằng xã hội trong tiến trình lập kế hoạch xã hội.
1.3.5 Tiến trình phát triển cộng đồng
PTCĐ là một tiến trình luôn luôn tiếp diễn. Mục tiêu cuối cùng của PTCĐ là giúp
cho cộng đồng đi từ thực trạng yếu kém để phát triển, đóng góp vào sự phát triển của
xã hội. Để đạt được mục tiêu đó PTCĐ phải có một tiến trình với từng bước đi cụ thể.
19

Tiến trình PTCĐ được thể hiện:

Sơ đồ 1.1 Tiến trình phát triển cộng đồng

Cộng đồng thức tỉnh: Từ một cộng đồng còn yếu kém, PTCĐ cần đi sâu vào làm
cho người dân ở đó hiểu được thực trạng của chính mình thông qua các cuộc trao đổi
thảo luận, điều tra về các nhu cầu và các vấn đề khó khăn, cũng như tiềm năng và
những thuận lợi. Từ đó làm cho cộng đồng hiểu và tích cực hợp tác để dần thay đổi
vấn đề của chính mình.
Cộng đồng tăng năng lực: Biết rõ vấn đề của chính mình, mình có gì, mình
muốn gì thì cộng đông đó phải tăng năng lực phát huy nguồn tài nguyên mà cộng đồng
vốn có hay qua quá trình tập luyện. Thông qua đó cộng đồng khắc phục được những
hạn chế và tăng cường kiến thức, kỹ năng để hành động. Ngoài ra còn phải liên kết các
tổ chức lại để cùng hành động hiệu quả vì mục tiêu chung.
Cộng đồng tự lực: Mục đích cuối cùng của PTCĐ là thông qua các tác động từ

trưởng và tự lực hơn.
Như vậy: Dựa trên những cơ sở lý luận về những vấn đề liên quan đến việc
làm, thất nghiệp, những nhân tố tác động tới việc làm để nhận định, phân tích thực
trạng việc làm của người dân xã Đông Phương Yên sau khi sáp nhập Hà Nội. Giải
quyết, ổn định việc làm là một trong những giải pháp giúp cộng đồng phát huy tối đa
tiềm năng, thế mạnh của mình, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đây cũng là một trong
những mục tiêu của phát triển cộng đồng,

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI
DÂN XÃ ĐÔNG PHƯƠNG YÊN SAU KHI SÁP NHẬP HÀ NỘI
21


22

Năng suất lúa bình quân 214,2 kg / sào. Sản lượng đạt 1601,1 tấn.
+ Vụ mùa 2010: Thực hiện gieo trồng được 865,8 mẫu. Trong đó:
Cây lúa: 818,9 mẫu ( 94,6 % ).
Cây màu: 47,1 mẫu ( 5,4 % ).
Năng suất lúa bình quân là 174,6 kg / sào. Sản lượng đạt 1429,2
tấn.
Tổng sản lượng lúa cả năm là : 3130,3 tấn.
Tổng giá trị cây lúa là : 17,216 tỷ đồng.
Tổng giá trị cây màu là: 1,228 tỷ đồng.
Bình quân lương thực là 301 kg/ người/ năm.
- Về chăn nuôi:
Do chủ động trong việc phòng chống dịch bệnh và thời tiết thuận lợi nên tất cả
đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn xã đều tăng so với 2009. Cụ thể như sau: Đàn bò dê:
374 con; Lợn nái: 418 con, Lợn thịt: 2.238 con, Lợn con theo mẹ: 2.520 con; Trâu,
nghé: 34 con; Gia cầm: 29.679 con.
Ước thu từ chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản trong xã đạt 6,256 tỷ đồng.
 Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ:
- Ước thu từ sản xuất MTĐ = 16 tỷ đồng. Trong đó:
Từ 2.600 lao động có việc làm = 13,74 tỷ.
Từ các công ty, doanh nghiệp = 1,9 tỷ.
Từ chủ thu gom nhỏ = 0,36 tỷ.
- Ước thu từ thương mại dịch vụ và các ngành nghề khác = 37,35 tỷ.
2.1.3 Đặc điểm văn hóa – xã hội
Về cơ sở hạ tầng
Các công trình hạ tầng được quan tâm như: điện, đường, trường, trạm ngày một
khang trang, cán bộ và nhân dân vui mừng, phấn khởi.
Toàn xã có 8km đường làng ngõ xóm được bê tông hóa. Xây mới công trình
nghĩa trang tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Có trường Tiểu học và Trung học cơ sỏ

Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo các hoạt động chào mừng ngày Đại lễ, ngày kỉ
niệm như: treo băng cờ, khẩu hiệu, tuyên truyền lưu động, phối hợp tổ chức giao lưu
văn hóa, văn nghệ. Năm 2010 qua bình xét đã có 1.304 hộ đạt gia đình văn hóa chiếm
72,53% số hộ trên toàn xã.
Trên địa bàn xã có 3 ngôi đình, 4 ngôi chùa. Trong đó có 2 ngôi đình, 2 ngôi
chùa và một nhà thờ họ được UBND Tỉnh Hà Tây ( cũ ) có quyết định xếp hạng di tích
lịch sử văn hóa cấp tỉnh và một làng được công nhận là làng văn hóa cấp huyện. Xã có
6/7 thôn được cấp bằng làng nghề M TĐ truyền thống.
Phong trào xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội
được đông đảo cán bộ và nhân dân đồng tình hưởng ứng.
Về công tác y tế - kế hoạch hóa gia đình.
- Về y tế: Trạm y tế đã làm tốt công tác trực, khám và điều trị cho nhân dân.
Năm 2010 đã khám và chữa trị cho 6.542 lượt người, khám bảo hiểm y tế cho 3.283
lượt người, bảo hiểm trẻ em là 1.222 lượt. Số người điều trị ngoại trú 3.745 người.
25

Tuyên truyền tốt về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, tập huấn về an toàn
thực phẩm cho các chủ hàng ăn trên địa bàn xã, làm tốt công tác phòng dịch, tuyên
truyền phòng chống dich cúm A H1N1. Giữ vững danh hiệu xã chuẩn Quốc gia về y
tế.
- Về kế hoạch hóa gia đình:.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,6%.
Số trẻ sinh ra trong năm 2010 là 211 trẻ.
Số trẻ là con thứ 3 trở lên là 41 trẻ.
Trên địa bàn xã đã tổ chức được 03 đợt khám sức khỏe sinh sản cho 648 lượt
chị em, đặt dụng cụ tử cung 170 trường hợp, uống thuốc tránh thai 96 trường hợp, bao
cao su 132 trường hợp.
Về hoạt động chính sách xã hội
- UBND xã chỉ đạo cán bộ LĐTB & XH làm tốt công tác chính sách xã hội,
nhận và chi trả trợ cấp xã hội cho các đối tượng đúng chế độ và thời gian quy định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status