Contents
Contents 1
PHẦN I: MỞ ĐẦU 2
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 2
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1. Mục tiêu chung 3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II. PHẦN NỘI DUNG 5
2.1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn 5
2.1.1.Cơ sở lý luận 5
2.1.2. Cơ sở thực tiễn 5
2.1.3 Đặc điểm địa bàn xã Đồng Phú 7
a. Đặc điểm tự nhiên 7
b. Đặc điểm kinh tế,xã hội 8
2.2. Hệ thống văn bản chính sách khuyến nông liên quan 9
2.3 Tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách khuyến nông tại xã Đồng Phú, Chương
Mỹ, Hà Nội 10
2.3.1 Công tác thông tin tuyên truyền về chính sách nông nghiệp 10
2.3.2 Công tác lập kế hoạch triển khai thực hiện 11
2.3.3 Phân cấp trong triển khai thực hiện chính sách 12
2.3.4 Huy động nguồn lực cho thực hiện chính sách 14
2.3.4 Nội dung triển khai chính sách 14
2.4 Kết quả tình hình thực hiện các chính sách khuyến nông trên địa bàn xã 16
2.4.1. Kết quả triển khai chính sách chương trình, hoạt động khuyến nông 16
2.4.2 Sự đánh giá của người dân về thực hiện chính sách khuyến nông trên địa bàn
17
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện chính sách khuyến nông ở xã 18
tay dài của lực lượng khuyến nông, là cầu nối giữa khuyến nông với nông
dân. Lực lượng khuyến nông viên cơ sở, cộng tác viên khuyến nông thôn,
bản đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện công tác khuyến
nông cũng như công tác phát triển nông thôn ở cơ sở. Tuy nhiên, đội ngũ cán
bộ khuyến nông viên cơ sở, cộng tác viên khuyến nông thôn bản có trình độ
về chuyên môn nghiệp vụ không đều, kinh nghiệm kỹ năng cơ bản trong
hoạt động khuyến nông còn hạn chế… Vì vậy, việc thực thi các chính sách
khuyến nông vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ.
Xã Đồng Phú, huyện Chương Mỹ, Hà Nội là một xã thuần nông, có
thế mạnh lớn để phát triển nông nghiệp, có vị trí quan trọng trong hệ thống
cung cấp nguồn lương thực thực phẩm cho Hà Nội nói riêng và các tỉnh lân
cận nói chung.
Nhận định được ý nghĩa to lớn ấy, nhiều chính sách khuyến nông cho
xã đã được triển khai và áp dụng, bước đầu đã đem lại hiệu quả nhất định,
tuy nhiên còn rất nhiều hạn chế chưa được khắc phục
Để đánh giá tình hình thực hiện chính sách khuyến nông ở Chương
Mỹ. Nhóm chúng em cùng nhau tìm hiểu đề tài: “Tìm hiểu tình hình thực
hiện chính sách khuyến nông ở xã Đồng Phú, huyện Chương Mỹ, Hà
Nội”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách khuyến nông trên địa bàn xã
Đồng Phú, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất giải pháp
nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách khuyến nông và khuyến nghị góp
phần hoàn thiện chính sách khuyến nông.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách khuyến
nông;
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách khuyến nông trên địa bàn Hà
Nội;
Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân,
đồng thời giúp họ hiểu được những chủ trương,chính sách về nông
nghiệp,những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những
thông tin về thị trường để họ có khả năng tự giải quyết được các vấn đề của
gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất,cải thiện đời sống, nâng cao
dân trí góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới.
Chính sách khuyến nông là các chính sách có tác động đến các hoạt
động khuyến nông cũng như tác động đến người làm công tác khuyến nông
do chính phủ ban hành. Thực thi chính sách là việc triển khai chính sách bao
gồm việc cụ thể hóa một chính sách hoặc chương trình kế hoạch và các hành
động cụ thể của từng ngành trong phát triển kinh tế.
Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa cách ứng
xử của chủ thể thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu
định hướng.
Thực hiện chính sách nông nghiệp là việc triển khai chính sách, bao
gồm việc cụ thể hóa một chính sách hoặc chương trình kế hoạch và các hành
động cụ thể của khuyến nông đến với các chủ thể liên quan để phát triển sản
xuất nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Việc thực hiện chính sách ở mỗi địa phương là khác nhau do điều kiện
kinh tế tự nhiên xã hội đặc thù mà từ đó cán bộ khuyến nông có những kế
hoạch thực hiện riêng cụ thể cho từng đơn vị để chính sách khuyến nông đạt
hiệu quả cao nhất.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2005/NĐ-CP về công tác
khuyến nông, khuyến ngư thay thế Nghị định 13CP ngày 2/3/1993 của
Chính phủ đã làm hệ thống tổ chức khuyến nống các cấp từ trung ương đến
địa phương và các tổ chức khuyến nông khác ngày càng hoạt động hiệu quả
rõ rệt, được các cấp các ngành ngày càng quan tâm.
Do tình hình kinh tế_xã hội ngày cành phát triển.để đáp ứng kịp với
những thay đổi đó, ngày 08/01/2010, chính phủ đã ban hành Nghị định số
kiện tiếp cận các chính sách và kỹ thuật mới.
Trong nước, tình hình thực hiện khuyến nông diễn ra ở huyện Mường
Ảng, tỉnh Yên Bái:
• Hỗ trợ đầu tư phát triển trồng các loại cây công nghiệp dài ngày theo
mô hình trang trại,tập trung như hỗ trợ giống, kinh phí khai hoang trồng
mới,nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng.
• Hỗ trợ thực hiện các mô hình,tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ thường xuyên
trong việc tuyên truyền phổ biến kiến thức và tiến bộ KHKT cho người dân
để họ tiếp thu và triển khai áp dụng thực hiện
• Hỗ trợ 90% kinh phí kiên cố hóa kênh mương cấp III đối với xã vùng
cấp II và 100% đối với xã 135.
• Thực hiện chính sách ưu tiên đầu tư đúng mức để đưa giống lúa,ngô
mới có năng suất cao, chất lượng tốt vào các vùng trồng lúa.
Đối với nông nghiệp thì thực hiện nghiêm túc các quy định về hỗ trợ
phát triển Nông_Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh,giao cho các cá nhân,nhóm
thực hiện trồng rừng kinh tế, giao cho các doanh nghiệp xây dựng các dự án
trồng rừng kinh tế.
2.1.3 Đặc điểm địa bàn xã Đồng Phú
a. Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý
Đồng Phú là một xã nông nghiệp ở khu vực phía nam của huyện
Chương Mỹ. Là một xã thuộc đồng bằng châu thổ song Hồng, đất đai được
hình thành trên nền đất phù sa không được bồi đắp hàng năm, cách trung
tâm huyện 10km và có vị trí như sau.
• Phía Bắc giáp xã Quảng Bị
• Phía Nam giáp xã Hòa Chính
• Phía Đông giáp xã Thượng Vực
• Phía Tây giáp xã Hồng Phong và huyện Mỹ Đức
Xã Đồng Phú có vị trí tương đối thuận lợi để giao lưu và phát triển
kinh tế với các vùng lân cận, nhờ có tuyến tỉnh lộ 80 đã được rải nhựa chạy
Hệ thống giao thông: phân bố tương đối hợp lý, giao thông xã có
4,5km tỉnh lộ 80 chạy qua đều được rải nhựa, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc giao lưu trao đổi hang hóa của nhân dân trong xã và các vùng lân cận.
Các trục đường liên thôn, liên xóm 96% đã được bê tông hóa, hàng năm
được tu bổ.
Hệ thống thủy lợi: Trên địa bàn xã có 2 trạm bơm tiêu úng gồm 19
máy, toàn xã có 4km kênh mương bê tông hóa và hệ thống tưới tiêu là 7km
đáp ứng đủ nhu cầu tưới tiêu. Hàng năm xã chủ động nạo vét kênh mương
nội đồng đảm bảo hệ thống mương máng thông thoáng để phục vụ nhu cầu
tưới tiêu trong sản xuất và trong mùa giông bão. Trong sản xuất, hiện nay
các hộ không phải tát nước mà theo định kì hợp tác xã chỉ đạo bơm nước
phụ vụ cho nhân dân trong xã.
Hệ thống điện: Điện đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và phục
vụ nhu cầu nhân dân. Hệ thống điện trong xã đảm bảo cho nhu cầu về điện
của người dân. Trong xã có 100% các hộ sử dụng điện,hiện nay có 4 trạm
biến áp đặt ở các thôn trong xã với 4,1km đường dây cao thế và 9,6km
đường dây hạ thế.
Tình hình kinh tế tại địa phương
Đồng Phú là một xã thuần nông, sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò
chủ đạo trong phát triển kinh tế. Năm 2009 giá trị sản xuất của ngành trồng
trọt là 14,7 tỷ, ngành chăn nuôi là 7,1 tỷ, ngành nuôi trồng thủy sản là 4,9 tỷ.
Có được kết quả là do chính quyền địa phương tập trung chỉ đạo dồn ô đổi
thửa, chủ động trong công tác ngập úng, có kế hoạch phục hồi sản xuất ngay
sau khi mưa, bão kết thúc. Đồng thời làm tốt công tác chỉ đạo chăm sóc,
phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng và thường xuyên kiểm tra dịch bệnh, tăng
cường công tác phòng dịch cho vật nuôi không để dịch bệnh lớn xảy ra trên
xã.
Các nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại tiếp tục được duy
trì và được nhân dân đầu tư phát triển như ngành: mây tre đan,xây
dựng….Trong 3 năm tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân là 6.76%,dịch vụ
01/2008/NĐ-
CP
03/01/2008
Quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
Nghị định
75/2009/NĐ-
CP
10/09/2009
Sửa đổi Điều 3 Nghị định số
01/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng
01 năm 2008 của Chính phủ.
Nghị định
02/2010/NĐ-
CP
08/01/2010
Về khuyến nông.
Quyết định
26/2002/QĐ-
UB
27/2/2002
Về việc thành lập quĩ khuyến
nông thành phố hà nội và ban
hành qui chế quản lý và sử dụng
quỹ"
2.3 Tìm hiểu tình hình thực hiện chính sách khuyến nông tại xã Đồng
Phú, Chương Mỹ, Hà Nội.
2.3.1 Công tác thông tin tuyên truyền về chính sách nông nghiệp
tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh thông qua hệ thống truyền thông đại
chúng, tạp chí khuyến nông, tài liệu khuyến nông, hội nghị, hội thảo, hội thi,
hội chợ, triển lãm, diễn đàn và các hình thức thông tin tuyên truyền khác;
xuất bản và phát hành ấn phẩm khuyến nông.
Chính sách xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn: Nhà nước chủ
trương hỗ trợ xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ khoa học và công
nghệ phù hợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất và định
hướng của ngành, các mô hình thực hành sản xuất tốt gắn với tiêu thụ sản
phẩm. Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.
Chuyển giao kết quả khoa học và công nghệ từ các mô hình trình diễn, điển
hình sản xuất tiên tiến ra diện rộng. Hỗ trợ kinh phí mua giống vật tư kĩ
thuật, kinh phí thong tin, tuyên truyền quảng cáo, hội nghị đầu bờ để nhân
rộng mô hình. Tùy vào các mô hình mà người dân được hỗ trợ 100% hay
50% tùy vào mức độ ưu tiên của chính sách.
Chế độ đối với người hoạt động khuyến nông, khuyến nông viên cơ
sở: Trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách khuyến nông cần chú
ý đến chế độ đối với người cán bộ khuyến nông, khuyến nông viên cơ sở,
những người trực tiếp đưa chính sách đi vào thực tế, mà hiệu quả đạt được
của chính sách phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ khuyến nông. Vì vậy
càn tăng cường công tác đào tạo tập huấn, nâng cao trình độ bồi dưỡng kĩ
năng làm việc cộng đồng cho cán bộ khuyến nông.
2.3.3 Phân cấp trong triển khai thực hiện chính sách.
Trạm khuyến nông huyện Chương Mỹ chịu trách nhiệm triển khai
thực hiện chính sách kịp thời báo cáo ủy ban nhân dân tỉnh, sở Nông Nghiệp
và Phát triển nông thôn và các sở ngành liên quan đến tình hình, kết quả,
những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách
khuyến nông xã. Các chính sách khuyến nông ở xã chủ yếu được triển khai
từ trạm khuyến nông xuống. Khi trạm ban hành các chính sách đó, cán bộ
khuyến nông sẽ tiếp nhận và được chuyển giao cho hợp tác xã nông nghiệp
tiến hành triển khai. Huyện Chương Mỹ cũng đã đề ra và thực hiện nhiều
Khuyến nông viên có các nhiệm vụ sau:
• Tham mưu cho ủy ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ quản lý
nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn.
• Xây dựng các chương trình công tác khuyến nông từng vụ, từng
năm, tham mưu cho cấp ủy, UBND xã chỉ đạo.
• Tiếp nhận chủ trương, tiến bộ kỹ thuật nông lâm nghiệp.
• Tổ chức cho nông dân tham gia học tập các mô hình trình diễn
và các mô hình kinh doanh giỏi
• Hướng dẫn nông dân về tình hình nắm bắt dịch bệnh cây trồng
trên địa bàn để hướng dẫn các biện pháp phòng trừ.
2.3.4 Huy động nguồn lực cho thực hiện chính sách.
Tổ chức nguồn lực là hoạt động rất cần thiết mà nếu thiếu thì chính
sách không thể thực hiện được. Việc thực hiện chính sách Khuyến nông ở
địa bàn xã cần các nguồn lực về: nhân lực, vật lực, nguồn tài chính…
Nhân lực:
Tổ khuyến nông cơ sở là một bộ phận rất quan trọng giúp công tác khuyến
nông đi sâu vào thực tế sản xuất nông nghiệp. HTXNN, các đội sản xuất, hội
nông dân, các câu lạc bộ khuyến nông… và đặc biệt phải kể đến CBKN – họ
là những người trực tiếp tiếp xúc, làm việc với người dân và là người hướng
dẫn thực hiện chính sách. Bên cạnh đó là sự ủng hộ của đông đảo lực lượng
nhân dân trên địa bàn xã góp phần thực hiện chính sách một cách hiệu quả.
Vật lực:
Đó là các phòng làm việc cho các cán bộ khuyến nông, các cơ sở vật chất,
trang thiết bị: máy tính, máy in, máy phô tô…nhằm phục vụ cho công tác
khuyến nông được thực hiện.
Nguồn tài chính:
Nguồn kinh phí cho các hoạt động khuyến nông ở xã Đồng Phú chủ yếu từ
ngân sách nhà nước và do người dân đóng góp một phần.
Nguồn kinh phí cho hoạt động của cơ sở chủ yếu là huyện cấp và UBND xã
đầu tư. Chỉ có một số mô hình trình diễn, buổi tập huấn, tham quan hội thảo,
quá eo hẹp, chưa có cán bộ phụ trách mảng thông tin tuyên truyền.
• Chính sách xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn: trong những
năm vừa qua khuyến nông xã Đồng Phú đã kết hợp với HTXNN tổ chức và
xây dựng các mô hình trình diễn, có các mô hình giống lúa, giống khoai và
một số mô hình ứng dụng TBKT trong sản xuất như bón phân… Các mô
hình đều được triển khai đúng quy trình và có hiệu quả với sự kết hợp của
HTXNN. Khi nhận được các quyết định về xây dựng các mô hình thì UBND
xã và HTXNN cùng với CBKN đã phổ biến về từng thôn, đội sản xuất thông
qua trưởng thôn và các đội trưởng đội sản xuất, rồi các đồng chí trưởng thôn
và đội trưởng đội sản xuất tiến hành họp dân để thông báo cho người dân
được biết về việc chuẩn bị triển khai xây dựng mô hình.
• Chế độ đối với người hoạt động khuyến nông, khuyến nông viên cơ
sở: cán bộ khuyến nông được đi đào tạo về trình độ, kĩ năng cũng như nâng
cao kiến thức 2 lần/năm. Ngoài ra còn được đi tập huấn, thăm quan, học tập
ở trạm khuyến nông huyện Đông Anh. Chế độ lương và phụ cấp cho các cán
bộ khuyến nông trên địa bàn xã được thực hiện theo Nghị định 02/2010/NĐ-
CP về khuyến nông của Chính Phủ. Mức lương của khuyến nông viên cơ sở
ăn hệ số lương 0,8 tương ứng 747.000đ/tháng còn đối với đội trưởng đội sản
xuất được phụ cấp 320.000đ/tháng, ngoài ra họ còn được thu phí thủy lợi từ
mỗi hộ gia đình bình quân từ 2-3 kg/sào. Mỗi lần đi tham dự các hội thảo,
mô hình trình diễn các bộ khuyến nông cũng được hỗ trợ tài liệu, tiền đi lại
là 20.000đ/lần/người.
2.4 Kết quả tình hình thực hiện các chính sách khuyến nông trên địa
bàn xã
2.4.1. Kết quả triển khai chính sách chương trình, hoạt động khuyến
nông.
Các chính sách khuyến nông được triển khai trên địa bàn xã chủ yếu
là hỗ trợ xây dựng các mô hình sản xuất các giống cây trồng. Cụ thể là giống
lúa, trợ giá phân bón, hỗ trợ quy hoạch xây dựng mô hình, hỗ trợ vật tư, chỉ
đạo sản xuất… Sau khi các chính sách triển khai trên địa bàn xã người dân
nông dân với những nội dung chủ yếu là kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu
bệnh hại lúa, lúa chất lượng cao, kỹ thuật sản xuất khoai tây giống mới.
Tổng kinh phí dành cho công tác tập huấn là 140 triệu đồng. Trong đó, năm
2009 là 15 triệu đồng, năm 2010 là 21 triệu đồng và năm 2011 là 32 triệu
đồng. Các lớp tập huấn thường kéo dài trong vòng một buổi. Phương pháp
tập huấn chủ yếu vẫn là lên lớp giảng bài, truyền đạt một chiều. Hầu hết các
lớp tập huấn đều được tổ chức ở hội trường UBNN xã.
2.4.2 Sự đánh giá của người dân về thực hiện chính sách khuyến nông
trên địa bàn
Khi được hỏi về mức độ hài long của người dân trên địa bàn xã về
các nội dung khi triển khai chính sách, có 86,67% người dân trên địa bàn xã
hài lòng, còn lại 13,33% người dân không hài lòng hay chưa hài lòng.
Những người không hài lòng là do họ không nắm được hoặc không biết về
các chính sách đó ở địa phương.
Trên địa bàn xã Đồng Phú, hầu hết người dân đều biết về các chính
sách khuyến nông được triển khai trên địa bàn xã. Trên 70% hộ hài lòng với
chính sách hỗ trợ người dân khi tham gia xây dựng các mô hình và tập huấn.
Đây là những nhận xét tương đối đầy đủ và chính xác của những hộ nông
dân. Bởi mặc dù các cán bộ khuyến nông của xã đều có trình độ trung cấp,
cao đẳng trở lên nhưng họ chỉ được đào tạo ở một chuyên ngành trồng trot
hoặc chăn nuôi thú y hoặc lâm nghiệp. Phần lớn họ lại chưa được đào tạo
qua chuyên ngành phát triển nông thôn, phát triển cộng đồng… Vì vậy họ rất
khó khăn khi phải tiếp cận một công việc tổng hợp như khuyến nông và
trong quá trình xây dựng các hoạt động đã có nhiều haọt động vẫn chưa đáp
ứng được yêu cầu của hộ. Đây là một thách thức lớn đối với hoạt động
khuyến nông trên địa bàn huyện. Vì vậy, trong thời gian tới, bên cạnh việc
thực hiện các nhiệm vụ được giao, khuyến nông xã cần phối hợp với các
cấp, các ngành đầu tư, bố trí thời gian cho các cán bộ khuyến nông cơ sở ở
thôn, xóm tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn, lớp học ngắn hạn. Để từ đó
nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng làm việc với người dân của cán
quá thấp (400.000 – 450.000đ/tháng), các hoạt động phụ thuộc vào quyết
định của trạm khuyến nông. Điều này đã làm giảm sự năng động của các cán
bộ khuyến nông nhiệt tình, có nhiều sang kiến và cho các cán bộ khuyến
nông viên thiếu nhiệt tình hoạt động mờ nhạt.
CBKN ở xã luôn chủ động nắm bắt các thông tin về các chủ trương,
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến hoạt động
khuyến nông trên địa bàn xã. Qua trao đổi, thảo luận, các KNVCS đều nắm
được các quy định cơ bản về hoạt động khuyến nông, các chính sách hỗ trợ
của nhà nước cũng như của trạm khuyến nông.
Qua điều tra cho thấy, năng lực của CBKN ở xã con yếu ở một số lĩnh
vực: tiếp cận thông tin, kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp và nghiệp vụ
khuyến nông. Một phần do chính sách đãi ngộ cho người làm công tác
khuyến nông chưa được thỏa đáng nên không khuyến khích được khả năng
làm việc của CBKN.
Trình độ dân trí của người dân:
Trình độ dân trí của người dân trên địa bàn xã chưa được đồng đều.
Nhận thức của người dân còn hạn chế, chưa tiếp xúc nhiều với bên ngoài
nên đưa khoa học mới vào không được chấp nhận vì tâm lí sợ rủi ro, sợ cái
mới. Ngay trong cùng một xóm trình đọ của người dân cũng khác nhau, khó
chia tách để tổ chức các hoạt động khuyến nông.
Nguồn lực kinh phí:
Qua tìm hiểu thấy rằng nguồn kinh phí phục vụ cho các hoạt động
khuyến nông còn rất hạn chế nên chỉ đáp ứng được một phần cho các hoạt
động xây dựng mô hình trình diễn theo các dự án của tỉnh, của sở khoa học
công nghệ in ấn tài liệu và một số lớp tập huấn. Các lớp tập huấn cho cơ sở
gần như không có kinh phí nên gặp rất nhiều khó khăn. Mức độ phụ cấp cho
các cán bộ khuyến nông cơ sở rất hạn chế do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến
việc chỉ đạo, điều hành và chuyển giao kiến thức kĩ thuật. Mức kinh phí cụ
thể cho các mô hình vào khoảng 20 đến 25 triệu đồng/ mô hình tùy vào quy
mô và từng loại mô hình. Mức kinh phí cho các lớp tập huấn khoảng 3 đến
nghiệp vụ khuyến nông thấp nên khả năng truyền đạt tới người dân còn hạn
chế.
Quy mô và mức hỗ trợ cho mỗi mô hình còn mang tính hình thức, có khi
manh mún, có khi lại dàn trải nên không tạo được sự bứt phá và hiệu quả
chưa cao.
Việc quy định các tiêu chí dự án còn cứng nhắc, khó tiếp cận nguồn kinh
phí, lãng phí nguồn nhân lực.
Cán bộ khuyến nông, nhất là đội ngũ khuyến nông viên cơ sở thường xuyên
là việc trong điều kiện khó khăn nhưng lại chưa được hưởng chế độ phù hợp
dẫn tới tình trạng không thu hút được sự nhiệt tình và tận tâm của một số cán
bộ không tích cực.
Hoạt động khuyến nông chưa linh hoạt và đa dạng, chỉ mới tập trung vào
xây dựng mô hình chuyển giao mà chưa thực hiện được các hoạt động khác.
Việc triển khai thực hiện cơ chế quản lí khuyến nông mới còn nhiều lúng
túng và hạn chế, nhất là điều kiện ngân sách khó khăn, không có các nguồn
lực đầu tư cho các chương trình, dự án…
Phương pháp tập huấn cho người dân chưa được điều chỉnh phù hợp…
Năng lợc và nhận thức của người dân còn hạn chế nên việc triển khai chính
sách cũng gặp không ít khó khăn….
2.7. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách khuyến nông:
Để góp phần triển khai việc thực hiện chính sách khuyến nông một
cách có hiệu quả và thúc đấy sự phát triển của ngành nông nghiệp nói riêng
và kinh tế xã hội của toàn xã nói chung thì công tác khuyến nông ở xã Đồng
Phú phải được triển khai dựa trên những giải pháp sau:
a. Hoàn thiện hệ thống khuyến nông cấp cơ sở
Tổ chức và hoàn thiện hệ thống khuyến nông cấp huyện, đảm bảo trao
đổi thông tin theo cả 2 chiều. Phân cấp cán bộ quản lý khuyến nông cơ sở,
phát huy vai trò của các tổ chức xã hội ( Hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn
thanh niên…) để tổ chức tốt các lớp tập huấn.
Các đơn vị cần bám sát và động viên toàn hộ hệ thống triển khai các
khuyến nông đặc biết con em địa phương về quê công tác. Bới đây là những
người đã nắm rõ tình hình địa phương, điều này sẽ tạo thuận lợi cho công tác
phát triển.
Các tiêu chuẩn, chế độ với cán bộ khuyến nông cơ sở cần rõ rang và
theo hướng động viên, khuyến khích họ. Ngoài ra, do nông dân đã sãn sang
chi trả một phần phí dịch vụ, nên cần xác định mức thu, hình thức thu và tỷ
lệ phân phối sao cho đảm bảo lợi ích giữa người trực tiếp tham gia và cơ
quan khuyến nông.
Xây dựng chế độ lương – phụ cấp tốt hơn, đặc biết là có chế độ bảo
hiểm cho cán bộ khuyến nông giúp họ yên tâm công tác nhiết tình với công
việc. Các cơ quan chức năng cần có chính sách hợp lý , có chế độ đãi ngộ tốt
cho cán bộ khuyến nông. Ngoài khoản phụ cấp của huyện thì xã phải có
phần kinh phí cho khuyến nông, góp phần nâng cao thu nhập cho họ. Trích
một phần kinh phí cho khen thưởng những người hoạt động tốt, tạo động lựa
cho họ nỗ lực trong công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật từng bước nâng
cao hiệu quả làm việc.
e. Quan tâm hơn nữa đối với các chương trình hoạt động khuyến
nông cơ sở
Trạm khuyến nông cần phải phối hợp với ngân hàng, quỹ tín dụng tạo
điều kiện cho nông dân vay vốn, đầu tư cho sản xuất theo hướng áp dụng các
tiến bộ kỹ thuật mà cán bộ khuyến nông đã hướng dẫn. Do hiệu quả sản xuất
nông nghiệp chưa cao, khả năng tích lũy vốn để đầu tư tái sản xuất thấp. Vì
vậy nhiều khi các chương trình khuyến nông được triển khai nhưng nông
dân không áp dụng do thiếu vốn.
Cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các kênh khuyến nông khác ( dự
án quốc tế doanh nghiệp, …) để thực hiện chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất của nông dân sao cho có hiệu quả nhất.
Cần tích cực vận động nông dân tham gia thành lập và đưa các can s
bộ khuyến nông vào hoạt động. Do đó, ủy ban nhân dân cần tạo điều kiện và
yêu cầu cán bộ khuyến nông của xã mình tham gia vào các cuộc họp giao
cầu của phần lớn nông dân.
3.2. Kiến nghị
• Đối với trung tâm khuyến nông thành phố, trạm khuyến nông huyện
Chương Mỹ:
Sớm triển khai các kế hoạch khuyến nông để Trạm có kế hoạch phân
bổ xuống xã đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá
kết quả hoạt động khuyến nông trên địa bàn xã.
Duyệt trình và cấp kinh phí kịp thời để trạm triển khai các hoạt động
khuyến nông bảo đảm kế hoạch, tạo điều kiện cho cán bộ khuyến nông xã và
cộng tác viên khuyến nông được tham gia tập huấn.
• Đối với chính quyền địa phương
Có thể thành lập quỹ hỗ trợ thêm cho các nhân viên khuyến nông tại
cơ sở để cho họ có thêm động lực thực hiện các hoạt động khuyến nông.
Tổ chức các hoạt động khuyến nông theo nhu cầu của người nông
dân, phát huy sự tham gia của người dân.
Xây dựng quỹ tín dụng lớn, mạnh đáp ứng nhu cầu vốn cho người
nông dân và hỗ trợ các hộ khó khăn vươn lên làm giàu, đồng thời thường
xuyên mở các lớp tập huấn nâng cao kỹ năng cho các cản bộ khuyến nông
cơ sở.
• Đối với khuyến nông viên cơ sở và cộng tác viên khuyến nông
Khoa học kĩ thuật ngày càng tiến bộ , nhu cầu của người nông dân
cũng ngày một cao đòi hỏi cán bộ và cộng tác viên khuyến nông cần không
ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn và tầm hiểu biết về nhiều lĩnh
vực, đồng thời cần có sự sáng tạo trong cách tiếp cận người dân và đổi mới
về phương pháp giảng dạy.
Cán bộ khuyến nông cần đi sâu đi sát nắm bắt tâm tư tình cảm của
người dân để có những biện pháp kịp thời giúp đỡ người dân, cũng như có
những báo cáo sát thực lên cấp trên. Có như vậy hoạt động khuyến nông mới
thực sự là dựa theo nhu cầu của người dân. Việc chuyển giao từ đó mới thực
sự có hiệu quả và phù hợp.