0
Luận văn: "Chính sách tiền tệ và tình
hình thực hiện chính sách tiền tệ ở
Việt Nam trong giai đoạn từ 1986 đến
2000" 1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 0
PHẦN I: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 5
I. MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 5
I.1. Khái niệm và vai trò của chính sách tiền tệ 5
I.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ 6
I.3. Nội dung của chính sách tiền tệ 10
MẠI. 36
II. PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞPHÙ HỢP VỚI QUY MÔ NỀN
KINH TẾ: 37
III. PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VÀ ĐIỀU HÀNH CUNG ỨNG TIỀN TỆ
MỘT CÁCH HỢP LÝ: 38
III.1. Cải cách đối với ngân hàng trung ương: 39
III.2. Cải cách đối với NHTM 40 2
IV. PHỐI HỢP ĐỒNG BỘ GIỮA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VỚI CÁC CHÍNH
SÁCH VĨ MÔ KHÁC: 42
IV.1. Ngân sách nhà nước: 42
IV.2. Hoàn thiện quy chế pháp lý: 42
IV.3. Phối hợp đồng bộ CSTT với chính sách kinh tế vĩ mô khác: 43
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
thực tiễn điều hành chính sách vẫn là cơ sở quan trọng cho việc định hướng,
hoàn thiện về sau. Trên tinh thần đó, việc nghiên cứu, tổng kết việc thực thi
chính sách tiền tệ trong thời gian qua là điều đáng quan tâm.
Bước vào thế kỉ 21, Việt Nam xác định mục tiêu tăng trưởng KT &công
bằng XH, vì vậy việc lựa chọn giaỉ pháp nào để xây dựng &điêù hành chính
sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn là 1 vấn đề khó khăn,phức tạp.
Qua quá trình học tập &rèn luyện môn Lý thuyết tài chính tiền tệ, được sự
hướng dẫn của các thầy cô giáo khoa Ngân hàng tài chính, em xin mạnh dạn
trình bày Đề án môn học lý thuyết tài chính tiền tệ với đề tài “Chính sách tiền tệ
và tình hình thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn từ 1986
đến 2000”.
Đề án này bao gồm các phần:
Phần I :Chính sách tiền tệ
Phần II : Thực trạng chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ 1986-2000. 4
PhầnIII:Giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay. 5PHẦN I: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
I. MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
I.1. Khái niệm và vai trò của chính sách tiền tệ.
Cũng như chính sách tài chính, chính sách tiền tệ là một trong hai công cụ
quan trọng chủ yếu trong hệ thống các công cụ chính sách kinh tế của nhà nước
để điều hành vĩ mô đối với nền kinh tế.
thông qua đó đạt tối mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Để điều hành chính sách tiền tệ, NHTW phải hình thành và sử dụng hệ
thống công cụ của nó. Đặc điểm của các công cụ chính sách tiền tệ là tạo cho
NHTW khả năng tác động có hiệu lực đến các yếu tố tiền đề buộc các tổ chức
tín dụng phải tự điều chỉnh hoạt động của mình theo hướng chỉ đạo của NHTW
nhưng vẫn phải đảm bảo quyền tự chủ trong kinh doanh cũng như sự bình đẳng
trong môi trường cạnh tranh giữa các ngân hàng.
I.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Bất kỳ một chính sách kinh tế- xã hội nào cũng có những mục tiêu của nó,
chính sách tiền tệ không nằm ngoài quy luật đó. Đối với chính sách tiền tệ có 6
mục tiêu cơ bản thường xuyên được nhắc đến, đó là:
- Giải quyết việc làm
- Tăng trưởng kinh tế
- ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát.
- ổn định lãi suất.
- ổn định thị trường tài chính
- ổn định thị trường ngoại hối
Trong từng hoàn cảnh cụ thể, đồi với từng quốc gia thì việc đề ra chính
sách tiền tệ cũng có những điểm khác biệt.
I.2.1. Công ăn việc làm cao.
Việc làm cao là một mục tiêu có giá trị bởi 2 lý do chính: 7
-Trường hợp ngược lại, thất nghiệp cao gây ra gánh nặng tài chính cho gia
đình và toàn thể XH.
-Khi thất nghiệp cao, nền KT không những có nhiều lao động ngồi không
mà còn có những nguồn tài nguyên để không,gây lãng phí& không làm tăng
được sản lượng tiềm năng của quốc gia.
tiêu ổn định giá cả kiềm chế lạm phát.
I.2.4. Mục tiêu ổn định lãi suất:
Tất cả các quốc gia đều mong muốn một sự ổ định về lãi suất.Vì lãi suất có
ảnh hưởng lớn đến đầu tư và tăng trưởng,ảnh hưởng đến các luồng vốn,ngoại
tệ Chính vì thế, ổn định lãi suất tạo ra thế ổn định cho các lĩnh vực như tín
dụng, đầu tư, sự di chuyển vốn dẫn đến ổn định chung cho nền KT.
Lãi suất chính là một trong những công cụ quan trọng nhất của CSTT. Để
cho nền KT được ổn định đòi hỏi CSTT phải đưa ra một hệ thống lãi suất mềm
dẻo đúng đắn,phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường.
I.2.5.Về ổn định thị trường tài chính:
Việc tạo ra một nền tảng tài chính ổn định để hệ thống NH& các tổ chức tín
dụng có thể hoạt động một cách có hiệu quả và hỗ trợ một cách tốt nhất cho tăng
trưởng KT cao,lạm phát thấp, cũng như hạn chế những khuyết tật của hệ thống
tài chính là mục tiêu chủ đạo của chính sách tiền tệ. NHTW phải điều hoà hoạt
động của hệ thống TC trong nước một cách gián tiếp,tăng cường hiệu quả cho
nó.
Bản thân hệ thống TC cũng có những mục tiêu riêng của nó và nhiều khi
những mục tiêu này lại đối chọi với các mục tiêu chung của nền KT. Do đó vai
trò của CSTT là làm hài hoà một cách tối ưu giữa các mục tiêu trên,để phục vụ
tốt nhất cho lợi ích chung của nền KT mà không làm tổn hại hay hạn chế sự phát
triển của hệ thống TC.
I.2.6. Mục tiêu ổn định thị trường ngoại hối:
Nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền quốc gia,NHTW thực hiện cấ
nhiệm vụ giao dịch về TC và Tiền tệ đối ngoại bằng các phương diện: quản lý
ngoại hối,lập và theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế, thực hiện các
nghiệp vụ hối đoái. Tổ chức và điều tiết thị trường hối đoái trong nước, xây
dựng và thống nhất quản lý dự trữ ngoại hối của đất nước,tiến hành kinh doanh 9
10
Thứ ba, mâu thuẫn này còn được thể hiện thông qua định hướng điều chỉnh
tỷgiá: bằng việc hạ giá đồng bản tệ các ngành công nghiệp xuất khẩu có khả
năng mở rộng. Tỷ lệ thất nghiệp vì thế giảm thấp kèm theo sự tăng lên của mức
giá chung. Như vậy, việc duy trì một mức tỷ giá ổn định và thích hợp sẽ làm
giảm tỷ lệ việc làm, trong khi một mức tỷ giá cao hơn sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ
đó.
I.3. Nội dung của chính sách tiền tệ.
Xét cho cùng NHTW có thể thực thi hai loại chính sách tiền tệ phù hợp với
tình hình thực tiễn của nền kinh tế:
- Chính sách mở rộng tiền tệ: là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế
nhằm khuyến khích đầu tư phát triển sản xuát tạo công ăn việc làm.
Chính sách này được đưa ra trong trường hợp nền KT trì trệ,tăng trưởng
thấp.Nó tạo ra không khí tiêu dùng mạnh mẽ kích thích đầu tư và tăng trưởng
KT.
- Chính sách thắt chặt tiền tệ: là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế
nhằm khuyến khích đầu tư, ngăn chặn sự phát triển quá đà của nền kinh tế và
kiềm chế lạm phát. Chính sách này được đưa ra nhằm ngăn trặn tình trạng phát
triển quá nóng của nền KT. Nó tạo ra sự khan hiếm về tiền, sự đắt đỏ về chi phí,
làm giảm tốc độ tăng trưởng quá nhanh, tạo ra một sự phát triển bền vững.
Trong nền KT thị trường, CSTT bao gồm 3 thành phần cơ bản gắn liền với
3 kênh dẩn nhập tiền vào lưu thông. Đó là:
+Chính sách tín dụng
+Chính sách ngoại hối
+Chính sách đối với ngân sách nhà nước
a. Chính sách tín dụng:
sách chủ yếu bằng các biện pháp phát hành tiền& vay nợ nước ngoài.
- Trong trường hợp NSNN cân bằng, khi chính phủ thu thuế tức là đã lấy ra
khỏi lưu thông một lượng tiền và chi tiêu trở lại số tiền đó vào bộ may kinh
tế.khối lượng tiền không thay đổi vì nó được tăng giảm một lượng như nhau.Tuy 12
nhiên, nó có thể làm thay đổi kết cấu giữa tiêu dùng và tiết kiệm, chẳng hạn nếu
tầng lớp chịu thuế không giảm tiêu thụ mà giảm tiết kiệm, trong khi đó CP phải
dùng số thuế thu được trợ cấp cho những người có thu nhập thấp thì số tiêu thụ
chung lạI gia tăng, số đầu tư giảm và kết quả là làm tăng khả năng tăng vật giá.
Nêú Nhà nước dùng số chi ngân sách để đầu tư của nhà nước tăng lên, đầu tư
chung không đổi, lưu ý hai trường hợp:
Thứ nhất, nếu CSTT chống lạm phát,ngân sách thăng bằng vãn có thể tác
dụng ngược với CSTT chống suy thoái.
Thứ hai, Trường hợp CSTT nhằm chống suy thoái, Ngân sách cân bằng
vẫn có thể chuyển dịch thu nhập tiền tệ theo hướng góp phần chống suy thoái
bằng cách làm tăng mức tiêu thụ.
- Trường hợp NS thặng dư: Đây là trường hợp rất có lợi vì nó rút bớt khối
tiền tệ dư thừa, tác động có lợi cho mối tương quan giữa tổng cung và tổng cầu.
Để thực hiện tốt các mục tiêu và nội dung như đã nêu ở trên, bản thân
CSTT phải sử dụng một cách có hiệu quả nhất các công cụ mà nó có được. Các
công cụ đó bao gồm cả các ưu và nhược đIúm.Vì vậy trong khi sử dụng cần hết
sức lưu ý,tránh tình trạng quá đà không kiểm soát nổi để chúng gây phản tác
dụng, gây ra những hậu quả khó lường đối với nền KT.
II. CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Công cụ chính sách tiền tệ là các hoạt động được thực hiện trực tiếp hoặc
gián tiếp đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất, từ đó mà đạt được các
mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Lãi suất là con át chủ bài tác động đến đầu tư và tiêu dùng là hành lang mà
từ đó những sự thay đổi trong cung ứng tiền dẫn đến sự thay đổi trong kinh tế vĩ
mô.
NHTW có thể qui định khung lãi suất tiền gửi và cho vay trên thị trường
nhưng thông qua cơ chế điều chỉnh cung cầu tiền tệ. Nếu lãi suất tiền gửi cao sẽ
thu hút được nhiều tiền gửi làm tăng nguồn vốn vay, ngược lại sẽ làm giảm khả
năng mở rộng kinh doanh tín dụng. Khi muốn tăng khối lương cho vay, NHTW
giảm mức lãi suất cho vay để kich thích các nhá đầu tư vay vốn, khi cần hạn chế
đầu tư NHTW sẽ ấn định mức lãi suất cao. 14
Tuy nhiên, biện pháp này làm cho các NHTM mất tính chủ động, linh hoạt
trong kinh doanh. Mặt khác, nó dễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở Ngân hàng,
nhưng lại thiếu vốn đầu tư hoặc khuyến khích dân cư dùng tiền để dự trữ vàng,
ngoại tệ, bất động sản trong khi ngân hàng bị thiếu hụt về tiền mặt cũng như
nguồn cho vay.
Biện pháp này có ưu điểm là giúp Ngân hàng lựa chọn những dự án kinh tế
tối ưu để cho vay, loạI bỏ các dự án kém hiệu quả nhưng nó cũng làm cho tính
linh hoạt của thị trường tiền tệ bị suy giảm, các NHTM bị động trong kinh
doanh. Ngày nay biện pháp này ít được sử dụng ở các nước theo cơ chế thị
trường bởi trong cơ chế thị trường lãi suất rất nhạy cảm với đầu tư, nó phải được
vận động theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường.
II.1.3. Phát hành tiền trực tiếp cho ngân sách và đầu tư, phát hành trái
phiếu:
Như đã xét ở trên, khi NSNN bị thiếu hụt thì một trong các biện pháp giải
quyết đó là phát hành tiền. Rõ ràng là biện pháp này làm tăng lượng tiền trong
lưu thông, trong khi lượng hàng hoá không tăng hoặc tăng không kịp dãn đến
hậu quả tất yếu là lạm phát. Chính vì vậy mà công cụ nay hoàn toàn không nên
Thứ nhất: giả sử Ngân hàng trung ương quyết định tăng tỷ lệ bắt buộc từ
10% đến 12%, bộ phận dự trữ dư thừa trước đây giờ trở thành bắt buộc, làm
giảm khả năng cho vay của hệ thông Ngân hàng thương mại.
Thứ hai: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một thành phần trong mẫu số của công
thức tạo tiền. Vì thế sự tăng lên của tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm hệ số tạo
tiền và do đó khả năng mở rộng tiền gửi của hệ thống Ngân hàng giảm.
Thứ ba: tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên làm giảm mức cung vốn Ngân hàng
trung ương trên thị trường liên Ngân hàng. Trong điều kiên nhu cầu vốn khả
dụng không thay đổi, sự sút giảm này làm tăng lãi suất liên Ngân hàng, từ đó mà
tác động đến các mức lãi suất dài hạn và khối lượng tiền cung ứng.
Quyết định giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ gây lên những ảnh hưởng ngược
lại. Thí dụ, bảng tổng kết tài sản của một ngân hàng trước khi có sự thay đổi tỷ
lệ dự trữ bắt buộc như phần a trong bảng sau: 16
a. tỷ lệ dự trữ bắt buộc: 10%
Tài sản có Tài sản nợ
Dự trữ: 100
Cho vay: 900
Tiền gửi: 1000
Với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% và tiền gửi là 1000, ngân hàng giữ 100 cho
yêu cầu dự bắt buộc và có thể cho vay tối đa là 900.
b.tỷ lệ bắt buộc: 5%.
Tài sản có Tài sản nợ
Dự trữ: 100
+ Dự trữ bắt buộc: 50
+ Dự trữ vượt mức: 50
Tiền gửi: 1000
hạ lãi suất khi cho các doanh nghiệp vay, kích thích đầu tư và sản lượng.
II.2.2.2. Hoạt động của cửa sổ chiết khấu:
Ngân hàng trung ương có thể tác động đến khối lượng vay chiết khấu bằng
hai cách: bằng cách tác động đến giá cả của khoản vay( lãi suất chiết khấu) hoặc
bằng cách tác động đến số lượng vay thông qua việc Ngân hàng trung ương
quản lý cửa sổ chiết khấu.
Thực tế cho thấy, lãi suất chiết khấu thường thấp hơn lãi suất thị trường,
do vậy nên đã khuyến khích rất nhiều Ngân hàng vay của Ngân hàng trung ương
với lãi suất thấp và dùng tiền vay đó cho vay lại hoặc mua chứng khoán với lãi
suất cao hơn. Các Ngân hàng được coi là không được phép kiếm lợi từ các
khoản vay chiết khấu và Ngân hàng trung ương cố gắng ngăn chặn tình hình này
bằng cách quy định các thể lệ cho từng Ngân hàng một tỉ lệ đó giới hạn các ngân
hàng này có thể được vay chiết khấu thường xuyên đến mức nào. Giới hạn đó
gọi là cửa sổ chiết khấu.
Nếu một ngân hàng thường vay đến cửa sổ chiết khấu quá nhiều, thì Ngân
hàng trung ương sau này sẽ không cấp các khoản vay đó nữa. Việc các ngân
hàng được đến các cửa sổ chiết khấu là một đặc ân chứ không phải là một quyền
hạn.
Ngân hàng phải chịu ba loại phí khi đến vay tại cửa sổ chiết khấu:
- Phí lãi biểu thị bằng lãi suất chiết khấu. 18
- Phí về việc phải làm đúng theo các điều tra của Ngân hàng trung ương về
khả năng thanh toán của Ngân hàng khi đến vay tại cửa sổ chiết khấu.
- Phí về việc rất có thể bị từ chối cho vay chiết khấu bởi vì đến cửa sổ chiết
khấu quá thường xuyên.
II.2.2.3. Ưu và nhược điểm của chính sách chiết khấu.
Chính sách chiết khấu là một công cụ rất quan trọng trong việc thực thi
phiếu kho bạc có dung lượng lớn, tính lỏng cao, rủi ro thấp.
Bằng việc bán các giấy tờ có giá cho các NHTM với lãi suất hấp dẫn,
NHTW thu hồi tiền từ lưu thông làm giảm lượng tiền cung ứng, đồng thời khả
năng cho vay của các NHTM cũng giảm và già trị tín dụng tăng lên. Ngược lại,
Bằng việc mua các giấy tờ có giá, NHTW cung cấp tiền cho các NHTM để cho
vay, làm gia tăng lượng tiền cung ứng trên thị trường. Điều quan trọng ở đây là
thời hạn cuả các giấy tờ có giá. Việc mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn chủ
yếu nhằm mục đích cân bằng giao động của tỷ lệ lãi suất trên thị trường tiền tệ,
trong khi đó mua bán các giấy tờ có giá dài hạn có ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng
thanh toán của các NHTM.
II.2.3.2. Ưu và nhược điểm:
Nghiệp vụ thị trường mở được coi là công cụ quan trọng nhất của Ngân
hàng trung ương trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng, đặc biệt là ở các thị
trường tài chính phát triển cao, bởi ưu thế vốn có của nó:
- NHNN hoàn toàn kiểm soát được khối lượng giao dịch trên thị trường
mở.
-Là công cụ linh hoạt và có tính chính xác cao, có thể sử dụng ở bất cứ mức
độ nào, điều chỉnh một lượng tiền cung ứng lớn hay nhỏ
- Ngân hàng trung ương với công cụ nghiệp vụ thị trường mở có thể đảo
ngược lại tình thế của chính mình.
- Nghiệp vụ thị trường mở có thể tiến nhanh chóng không gây những chậm
trễ về mặt hành chính và ít tốn kém về mặt chi phí.
Tuy nhiên, khi NHTW mua bán chứng khoán trên thị trường thì vẫn phải
phụ thuộc vào người mua bán ( các NHTM ). Và để sử dụng được nghiệp vụ này
thì phải có sự phát triển khá cao của của cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt, 20
tiền trong lưu thông phần lớn nằm trong tài khoản của ngân hàng, đòi hỏi thị
21
tiêu như lạm phát. Thế nhưng Đức và Thuỵ Sĩ lại thành công khi áp dụng và do
đó hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến ủng hộ mạnh mẽ và nó đang được xem xét như
là một chính sách tiền tệ chính của NHTW các nước Châu Âu.
- Chính sách tiền tệ có mục tiêu lạm phát: Niu Dilân là quốc gia đầu tiên
thực hiện theo chính sách này vào năm 1990 tiếp theo là Canada (1991) Anh
(1992) Chính sách này có một số lợi điểm quan trọng. Nó cho phép sử dụng
chính sách trong việc đối phó với các cú sốc trong nội địa, ngoài ra nó dễ hiểu
và có tính minh bạch cao. NHTW có trách nhiệm công khai về con số mục tiêu
lạm phát, nó sẽ cung cấp thông tin cho công chúng và những người tham gia thị
trường tài chính cũng như các nhà chính trị, đồng thời nó làm giảm bớt tính
không chắc chắn của chính sách tiền tệ, lãi suất và lạm phát. Một đặc tính quan
trọng nữa của chế độ tiền tệ này là nó làm tăng tính trách nhiệm của NHTW.
- Chính sách tiền tệ có mục tiêu ngầm chứ không công khai: Milton
Friedman đã nhấn mạnh tác động của chính sách tiền tệ có độ trễ khá lớn. Do đó
chính sách tiền tệ sẽ mất thời gian khá dài để có thể tác động tới lạm phát. Vì
vậy để ngăn chặn lạm phát xuất hiện, NHNN cần phải hành động theo kiểu dự
báo đón trước nhằm đưa ra chính sách tiền tệ phù hợp. Lí do cơ bản cho việc sử
dụng chiến lược này chính là sự thành công của nó mà điển hình là ở Mỹ trong
vài năm gần đây. Một nhược điểm quan trọng của chiến lược náy là nó thiếu tính
minh bạch. Nhưng nhược điểm lớn nhất là nó phụ thuộc quá nhiều vào sở thích,
năng lực và độ tin cậy của những người có trách nhiệm trong NHNN. Những bất
lợi đó có thể làm cho chiến lược hoạt đông không tốt trong tương lai.
Bốn loại chính sách tiền tệ được đề cập trên đây đều có những ưu và nhược
điểm riêng của mình. Các kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự minh bạch và tính có
trách nhiệm là điều cốt yếu để điều khiển một chính sách tiền tệ nhằm mang lại
một kết quả mong muốn trong dài hạn. việc sử dụng loại chế độ nào là tuỳ thuộc
vào điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá và lịch sử của từng quốc gia.
thành lập và quản lý hệ thống các tổ chức tín dụng đa thành phần; xây dựng và
điều hành chính sách tiền tệ ngày càng hoàn thiện, có hiệu quả, góp phần kiềm
chế lạm phát, từng bước ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam.
Đến tháng 10 / 1998, hai pháp lệnh ngân hàng đã được thay thế bằng hai
luật ngân hàng: Luật ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức Tín dụng. Hai 23
luật này đã giúp hoạt động của hệ thống ngân hàng được tự do hơn, thông
thoáng hơn, phù hợp với những thay đổi lớn lao trong lĩnh vực ngân hàng.
II. CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.
Chính sách tiền tệ của NHNN là tổng hoà các giải pháp đảm bảo ổn định
đồng tiền và thị trường tiền tệ, góp phần giải quyết các mục tiêu vĩ mô của nền
kinh tế. Chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu chính sách tiền tệ ở Việt Nam từ sau
Đại hội Đảng lần thứ 6. Thời kì 1986 đến 2000 có thể chia làm 4 giai đoạn
II.1. Giai đoạn 1986 - 1988
Đây là giai đoạn đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tổng cầu
luôn vượt quá tổng cung. Tình trạng thiếu ngân sách xảy ra thường xuyên vì vậy
Nhà nước liên tục phát hành tiền để bù thiếu hụt khiến cho nền kinh tế luôn
trong trạng thái bát ổn định, lạm phát đạt kỷ lục ba con số (siêu lạm phát). Xuất
phát từ thực trạng đó, nhiệm vụ chống lạm phát đựơc đặt lên hàng đầu. Do vậy
đã có hai thay đổi lớn trong lĩnh vực tiền tệ:
- Đưa tỷ giá hối đoái lên ngang mức giá thị trường
- Thi hành chế độ lãi suất thực dương.
Điều này đã làm nên những thay đổi mạnh mẽ dảo ngược tình hình. Với
mục tiêu trực tiếp là đem lại giá trị thực cho đồng tiền Việt Nam, những thay đổi
trên đã góp phần đẩy lùi lạm phát và khủng hoảng, khôi phục lòng tin của người
dân đối với đồng nội tệ, các quan hệ thị trường được hình thành, tạo ra những
cơ sở vững chắc để biến tư tưởng đổi mới trở thành xu hướng thực tiễn.
Trong giai đoạn này có nhiều yếu tố quyết định chiếu hướng thuận lợi cho
chính sách tiền tệ. Chính phủ luôn chú trọng ổn định kinh tế vĩ mô, quan tâm
đến chính sách tiền tệ và giữ lạm phát ở mức thấp. Pháp lệnh ngân hàng Nhà
nước, pháp lệnh ngân hàng thương mại và hợp tác xã tín dụng đã qui định cơ sở
cho việc thành lập hệ thống ngan hàng hai cấp. Bên cạnh đó Nhà nước đã mở
0
20
40
60
80
1 2 3 4 5
Series1