đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản xuất theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân ở huyện chương mỹ, hà nội - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

DƯƠNG THỊ THÚY AN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
GÀ THỊT ĐƯỢC SẢN XUẤT THEO HƯỚNG AN TOÀN SINH
HỌC CỦA HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực khách quan và chưa
từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn Dương Thị Thúy An

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

LỜI CẢM ƠN

Được sự động viên giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, các cô, gia đình, bạn bè,

LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ x
PHẦN I. MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Lý luận về chăn nuôi gà an toàn sinh học 11
2.1.3 Nội dung nghiên cứu về sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản xuất theo
hướng an toàn sinh học 14
2.1.4 Đặc điểm của sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất theo hướng an toàn
sinh học 19
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất theo
hướng an toàn sinh học 22
2.2 Cơ sở thực tiễn về sản xuất và tiêu thụ gà thịt trên thế giới và Việt Nam 23
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ gà thịt trên thế giới 23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

hướng
an toàn sinh học
của huyện Chương Mỹ 94

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

4.3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản
xuất theo hướng an toàn sinh học ở huyện Chương Mỹ 94
4.3.2 Một số giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản xuất
theo hướng an toàn sinh học ở huyện Chương Mỹ 94
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
5.1 Kết luận 101
5.2 Kiến nghị 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 106

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ATSH An toàn sinh học
ATTP An toàn thực phẩm
BQ Bình quân
ĐVT Đơn vị tính
HTX Hợp tác xã
KH Kế hoạch
KT Kỹ thuật
KTTT Kinh tế thị trường

- 2013 41
3.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Chương Mỹ qua các năm (2011 -
2013) 45
3.4 Phân bổ mẫu điều tra tại huyện Chương Mỹ 46
4.1 Tổng hợp các hộ chăn nuôi của huyện Chương Mỹ 2012 – 2014 52
4.2 Thống kê số lượng gà nuôi của huyện Chương Mỹ, 2012 -2014 53
4.3 Thông tin chung của các chủ hộ và hộ điều tra 56
4.4 Tình hình về cơ sở vật chất, chuồng trại trong sản xuất gà thịt theo hướng an
toàn sinh học ở các hộ điều tra 60
4.5 Thông tin chung về con giống trong sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh
học ở các hộ điều tra 62
4.6 Tình hình chuẩn bị thức ăn, nước uống trong sản xuất gà thịt theo hướng an
toàn sinh học ở các hộ điều tra 64
4.7 Tình hình quản lý nuôi dưỡng, điều kiện vệ sinh thú y trong sản xuất gà thịt
theo hướng an toàn sinh học ở các hộ điều tra. 68
4.8 Quy mô sản xuất, sản lượng theo giống gà nuôi theo hướng an toàn sinh học
ở các nhóm hộ điều tra 70
4.9 Chi phí đầu tư sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh học của các hộ điều
tra sử dụng giống gà trắng CP707 do CP cung cấp (tính bình quân cho 1000
gà/lứa/hộ) 73

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ix

4.10 Chi phí đầu tư sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh học của các hộ điều
tra sử dụng giống gà lai mía 76
4.11 Hiệu quả kinh tế sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh học của các hộ
điều tra sử dụng giống gà trắng CP707 do CP cung cấp 78
4.12 Hiệu quả kinh tế sản xuất gà thịt theo hướng an toàn sinh học của các hộ
điều tra sử dụng giống gà lai mía (tính bình quân cho 1000 gà/lứa/hộ) 80


1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử, nền nông nghiệp nước ta vốn đã là nền nông nghiệp trồng
lúa nước, chăn nuôi chưa được chú trọng phát triển như là một ngành sản xuất
độc lập, mà mới được coi là một hoạt động sản xuất phụ nhằm hỗ trợ cho ngành
trồng trọt. Mục đích chính của chăn nuôi lấy thịt, trứng sữa không được người
sản xuất nhắc đến mà dường như người ta chỉ hướng tới mục tiêu về cung cấp
sức kéo làm đất và cung cấp phân bón cho cây trồng.
Sau ngày hoà bình và thống nhất đất nước, nền kinh tế bước vào giai đoạn phục
hồi và phát triển – vị trí và vai trò của ngành chăn nuôi đã được nhìn nhận và
đánh giá đúng với mục tiêu phấn đấu đưa chăn nuôi thành một ngành sản xuất
chính trong nông nghiệp. Nhờ đó, ngành chăn nuôi ở nước ta đã có bước chuyển
biến tích cực so với năm 1975 giá trị sản xuất ngành chăn nuôi (tính theo giá cố
định năm 1994) năm 2000 tăng gấp 3.93 lần trong khi đó giá trị sản xuất ngành
trồng trọt tăng 3.08 lần. Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong giá trị
sản xuất nông nghiệp tăng từ 14,62% năm 1975 lên 19,7% năm 2000 (Trần Văn
Tâm, 2013).
Trong quá trình hội nhập ngành chăn nuôi của nước ta đã phát triển nhanh
chóng đồng thời theo đà hội nhập quốc tế, thương mại, du lịch. Mà Chăn nuôi là
ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu
cho người dân. Đây cũng là ngành kinh tế giúp cho nông dân tăng thu nhập, giải
quyết được nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn cho biết, sản lượng nông nghiệp, chăn nuôi trong nước năm 2012 "được
mùa". Tuy nhiên sức mua kém dẫn đến tình trạng giá thịt gà, thịt gà giảm
mạnh. Một thống kê mới đây của Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn cho thấy, hiện giá bán lợn và gà tại các thành phố giảm 30-40% so với
những tháng đầu năm 2012, sức mua hạ 50% khiến người chăn nuôi lao đao
(Trần Văn Tâm, 2013).


an toàn sinh học của hộ nông dân ở huyện Chương Mỹ trong những năm qua.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ gà thịt sản xuất
theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân huyện Chương Mỹ trong thời gian
tới.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ gà thịt
sản xuất theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân trong những năm tới.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến sản xuất và
tiêu thụ gà thịt được sản xuất theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân ở
huyện Chương Mỹ:
- Tình hình sản xuất và tiêu thụ gà thịt được sản xuất theo hướng an toàn
sinh học của hộ nông dân huyện Chương Mỹ hiện đang diễn ra như thế nào?
- Các chính sách của Đảng và Nhà nước hiện nay ảnh hưởng như thế nào
đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm gà thịt sản xuất theo hướng an toàn
sinh học của hộ nông dân ở huyện Chương Mỹ?
- Nhu cầu thị trường ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm gà thịt an toàn sinh học của hộ nông dân ở huyện Chương Mỹ?
- Giải pháp nào để phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gà thịt sản xuất
theo hướng an toàn sinh học của hộ nông dân ở huyện Chương Mỹ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu những yếu tố có liên quan đến phát triển sản xuất và tiêu thụ
gà thịt sản xuất theo hướng ATSH của các hộ nông dân trong huyện Chương Mỹ,
Hà Nội.
- Đối tượng cụ thể là nghiên cứu những hộ, cơ sở sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm gà thịt theo hướng ATSH ở huyện Chương Mỹ.

X
1
,X
2
,X
3
… ,X
n
là lượng của một số yếu tố đầu vào.
b. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
Theo Mai Ngọc Cường, (1995) thì các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản
xuất gồm có:
Thứ nhất là vốn sản xuất: Vốn đối với quá trình sản xuất là vô cùng quan
trọng. Trong điều kiện năng suất lao động không đổi khi tăng tổng số vốn sẽ dẫn
tới tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hóa.
Thứ hai là lực lượng lao động: Là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình
sản xuất. Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất
là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động. Do đó
chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất.
Thứ ba là đất đai: Là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng với
ngành nông nghiệp, mà còn rất quan trọng trong nghành sản xuất công nghiệp và
dịch vụ. Đất đai là yếu tố cố định lại bị giới hạn bởi quy mô, nên người ta phải
đàu tư thêm vốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng đất đai.
Thứ tư là khoa học và công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất lao
động và chất lượng sản phẩm. Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

b. Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa phải thông qua thị trường, thị trường
được coi là một nơi mà ở đó có người bán người mua tự tìm đến nhau để thỏa
thuận nhu cầu của cả hai bên.
Chức năng của thị trường: chức năng thừa nhận hoặc chấp nhận hàng hóa,
dịch vụ; chức năng thực hiện; chức năng điều tiết kích thích sản xuất và tiêu
dùng xã hội; chức năng thông tin (Nguyễn Nguyên Cự, 2005).
Các quy luật của thị trường: quy luật cung – cầu, quy luật giá trị, quy luạt
cạnh tranh, quy luật giá trị thặng dư (V.I. Lênin Toàn tập, Tập 1)
c. Kênh phân phối sản phẩm
Kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi: là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở
sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo dòng vận
chuyển sản phẩm chăn nuôi từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Có thể nói đây là
một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của
người mua và tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi của người chăn nuôi. Tất cả những người
tham gia vào kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi được gọi là các thành viên của kênh, các
thành viên nằm giữa người sản xuất và người người tiêu dùng là những trung gian
thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênh tiêu thụ và thực hiện các chức
năng khác nhau (Nguyễn Văn Cự, 2005).
 Các loại kênh tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi
Các tổ chức tham gia vào kênh tiêu thụ với những cách thức liên kết khác
nhau hình thành nên những cấu trúc kênh khác nhau. Cấu trúc kênh phân phối
được xác định qua chiều dài và bề rộng của hệ thống kênh. Do đó mà các kênh
phân phối của sản phẩm chăn nuôi được thể hiện qua Sơ đồ 2.1.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

phẩm chăn nuôi để bán cho các lò giết mổ. Đặc điểm của kênh này là khối lượng lưu
chuyển thường lớn, đôi khi người chăn nuôi bị ép giá (Phạm Thị Huân, 2009).
d. Các yếu tố ảnh hưởng tới tiêu thụ sản phẩm
Một là, quá trình sản xuất: Muốn tiêu thụ được thuận lợi thì khâu sản xuất
phải đảm bảo số lượng một cách hợp lý, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ
và được cung ứng đúng thời gian.
Thứ hai là, thị trường tiêu thụ: Mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận, để
đạt được mục đích đó thì các doanh nghiệp phải tiêu thụ được mặt hàng của mình
sản xuất ra trên thị trường. Do đó thị trường tiêu thụ ảnh hưởng trực tiếp đến
công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và còn ảnh hưởng đến cả quá trình
sản xuất kinh doanh.
Thứ ba là, giá cả mặt hàng: Giá cả được xem như là một tín hiệu đáng tin
cậy phản ánh tình hình biến động của thị trường. Trong nền kinh tế thị trường giá
cả là một tín hiệu phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán,
giữa các nhà sản xuất kinh doanh và thị trường xã hội.
Thứ tư là chất lượng sản phẩm hàng hóa: Chất lượng sản phẩm hàng hóa
là một trong những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp (Lê Trọng, 1998).
Thứ năm là, hành vi của người tiêu dùng: Mục tiêu của người tiêu dùng là
tối đa hóa độ thỏa dụng, vì thế trên thị trường người mua lựa chọn sản phẩm
hàng hóa xuất phát từ sở thích, quy luật cầu và nhiều nhân tố khác. Trong quá
trình tiêu thụ sản phẩm thì hành vi người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn (Mai
Ngọc Cường, 1995).
Thứ sáu là, chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm: Các
chính sách trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cũng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp
đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ bảy là, sự cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường: Mức độ canh
tranh phụ thuộc vào số lượng doanh nghiệp tham gia vào sản xuất kinh doanh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

ảnh, màu sắc, vị trí, chủ đề quảng cáo. áp phích quảng cáo gồm bảng quảng cáo
và các tờ quảng cáo (Trần Minh Đạo, 2000).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

- Bao bì và nhãn hiệu hàng hóa: Đây là phương tiện quảng cáo hàng hóa quan
trọng và thông dụng, có hiệu quả cao. Phương tiện quảng cáo này làm khách hàng tập
trung chú ý ngày vào hàng hóa. Nó vừa góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa vừa
bảo đảm giá trị sử dụng của hàng hóa (Trần Minh Đạo, 2000).
- Quảng cáo bằng bưu điện: Đây là quảng cáo mà doanh nghiệp liên hệ
với khách hàng quan trọng, gửi cho họ catalog, thư chúc tết quảng cáo, mẫu hàng
và các ấn phẩm quảng cáo qua bưu điện. Hiệu quả của phương tiện này không
lớn do chỉ tập trung vào một số lượng khách hàng cụ thể (Lê Thụ, 1993).
 Những hình thức quảng cáo bên trong mạng lưới thương mại
- Biển đề tên cơ sở sản xuất kinh doanh: yêu cầu tên cơ sở phải rõ ràng,
đẹp, viết bằng chữ lớn đảm bảo cho người qua đường bằng phương tiện cơ giới
có thể nhìn thấy được và đặt chính giữa lối vào cửa chính cơ quan (Nguyễn Duy
Bột, 1997).
- Tủ kính quảng cáo: là hình thức quảng cáo chính và phổ biến của hệ
thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm. Tủ kính có nhiều loại: tủ kính cửa sổ, tủ
kính giữa gian mỗi loại phù hợp với một vị trí và có tác dụng riêng.
- Bày hàng ở nơi bán hàng: là hình thức quảng cáo phổ biến trong mọi loại hình
thương nghiệp có quy mô cơ cấu mặt hàng và địa điểm doanh nghiệp khác nhau. Nó
thích hợp cho cả mạng lưới thương nghiệp bán buôn và bán lẻ (Đặng Đình Đào, 1999).
- Quảng cáo thông qua người bán hàng thông báo cho khách hàng bằng
miệng và bằng chữ về hàng hóa, nội quy bán hàng, phương thức bán và phương
thức thanh toán Người bán hàng phải có kiến thức về hàng hóa, biết nghệ thuật
chào hàng, biết trình bày sản phẩm và những kiến thức cần thiết khác về thị
trường hàng hóa (Đặng Đình Đào, 1999).

toán chuyển đổi hàng - hàng…
2.1.2 Lý luận về chăn nuôi gà an toàn sinh học
Khái niệm về an toàn sinh học trong chăn nuôi: An toàn sinh học đối với
các cơ sở chăn nuôi là việc thực hiện đồng bộ các biện pháp vệ sinh thú y nhằm
ngăn chặn mầm bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào các cơ sở chăn nuôi và tiêu diệt
mầm bệnh tồn tại ở bên trong của cơ sở chăn nuôi đó.
Khái niệm an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm: Là các biện pháp
kỹ thuật nhằm ngăn ngừa và hạn chế sự lây nhiễm của các tác nhân sinh học
xuất hiện tự nhiên hoặc do con người tạo ra gây hại đến con người, gia súc và
hệ sinh thái.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

 Một số quy định về kỹ thuật trong chăn nuôi gà ATSH
Chuồng trại: Chuồng trại phải được xây dựng ở nơi cao ráo, có vành đai
chắn tính từ tường rào đến chuồng nuôi. Chuồng trại phải thoáng, mát và phải
có khu cách ly mới nhập hay bệnh. Vị trí xây chuồng trại phải cách biệt khu
dân cư xa các trại chăn nuôi khác, xa công trình công cộng đặc biệt phải
cách xa chợ, cơ sở giết mổ động vật ; có tường rào bao quanh, chiều cao tối
thiểu khoảng 2m. Các cơ sở hành chính của trại phải cách biệt khu chăn nuôi
(Bùi Văn Phúc, 2009).
Giống: Chỉ nhập giống ở những trại có uy tín, không mang mầm bệnh.
Đàn giống mới nhập về phải có thời gian cách ly để theo dõi sau đó mới cho
vào chuồng nuôi. Loại thải triệt để những con giống nhiễm bệnh để tránh
làm lây lan mầm bệnh cho những con gia cầm khoẻ khỏe trong trại. Thực
hiện quy trình “cùng vào - cùng ra” trên cùng một dãy chuồng hay trong trại.
Không nuôi “gối đầu” dễ làm lây truyền mầm bệnh từ lứa này sang lứa khác.
Nuôi riêng biệt từng loại gia cầm: Khu ấp nở xuất bán; khu gà mới nở, gà con, gà
hậu bị, gà đẻ ; phải có khu riêng để nuôi gà mới nhập về; không nuôi nhiều loại

khỏe mạnh, lấy từ đàn đã được kiểm tra không nhiễm vi rút cúm hoặc các bệnh
truyền nhiễm khác. Gia cầm mới nhập phải nuôi cách ly tối thiểu 3 tuần để theo
dõi và cần thiết gửi mẫu xét nghiệm (Bùi Văn Phúc, 2009).
Cần kiểm tra chặt chẽ không mang thịt, sản phẩm gia cầm vào trại để sử
dụng. Trứng gia cầm đưa vào trại ấp phải lấy từ những cơ sở đã được xét nghiệm
không nhiễm vi rút cúm (Nguyễn Hoài Châu, 2006).
Phương tiện vận chuyển: Bố trí phương tiện vận chuyển nội bộ riêng trong
trại; các xe vận chuyển trước khi vào trại phải được phun xịt khử trùng bằng hóa
chất (đặc biệt ở bánh xe, gầm xe).
Dụng cụ chăn nuôi: Mỗi khu trại chăn nuôi phải sử dụng riêng. Trường
hợp luân chuyển dụng cụ phải vệ sinh khử trùng.
Vệ sinh, tiêu độc, khử trùng đối với tất cả những người có liên quan đến
quản lý, chăn nuôi trước khi ra vào trại.
Thức ăn phải sử dụng từ những cơ sở cung cấp đảm bảo sạch bệnh, không
sử dụng thức ăn bán trôi nổi hoặc sang nhượng thức ăn từ các cơ sở không rõ
nguồn gốc (Lê Việt Anh, 2003).
Nước uống phải sử dụng từ nguồn nước ngầm, nước máy đảm bảo, nên
khử trùng nước uống thật chặt chẽ.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

Phải có hố sát trùng, dụng cụ; phun xịt trước cổng vào trại. Vào khu chăn
nuôi phải có các khay đựng thuốc sát trùng.
Định kỳ hàng tuần phải vệ sinh tiêu độc toàn khu vực trại, phát quang,
khơi thông cống rãnh, rắc vôi bột, phun xịt thuốc sát trùng. Thu dọn, xử lý kỹ
chất thải trong trại (Nguyễn Hoài Châu, 2006).
Sau khi rửa, để khô nền chuồng và tường, sau đó quét bằng nước vôi nồng
độ 20%. Hoặc phun xịt bằng các loại hóa chất thích hợp. Vệ sinh dụng cụ chăn
nuôi hàng ngày (xô, xẻng ).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status