khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long - Pdf 13



ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG


BÁO CÁO KHOA HỌC

KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC
MỨC ĐỘ PROTEIN TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN
LÊN NĂNG SUẤT SINH TRƯỞNG GÀ TA VÀNG NUÔI
THẢ VƯỜN THEO HƯỚNG AN TOÀN SINH HỌC
TẠI HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG Chủ nhiệm đề tài NGUYỄN THỊ THUÝ HẰNG

XÁC NHẬN THÔNG QUA CỦA HỘI ĐỒNG

- Tên đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên
năng suất sinh trưởng gà Ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện
Long Hồ tỉnh Vĩnh Long”.
- Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thúy Hằng, Giảng viên khoa Nông nghiệp
ỦY VIÊN THƯ KÝ Nguyễn Thị Xuân Linh Võ Thị Mai Hoa
PHẢN BIỆN 1 PHẢN BIỆN 2 Lê Lan Anh Nguyễn Đa Phúc
Vĩnh Long, ngày tháng năm 2013

Chủ Tịch Hội Đồng Trần Thanh Tùng


1.6 CHUỒNG TRẠI VÀ THIẾT BỊ DÙNG NUÔI GÀ 11
Số hiệu: BM08/QLKH – QT – 02 Lần ban hành: 02 Trang
iii

6.1 Địa điểm, hướng và kiểu chuồng nuôi gà con 10
1.6.2 Lồng úm gà con 11
1.6.3 Kỹ thuật úm gà con 13
1.6.4 Giai đoạn nuôi tăng trưởng 16
1.7 NHU CẦU DINH DƯỠNG 18
1.7.1 Nhu cầu năng lượng 18
1.7.2 Nhu cầu protein và acid amin 20
1.7.3 Nhu cầu chất béo 23
1.7.4 Nhu cầu xơ 24
1.7.5 Nhu cầu vitamin 25
1.7.6 Nhu cầu khoáng 26
1.8 MỘT SỐ LOẠI THỰC LIỆU THỨC ĂN ĐỂ NUÔI GIA CẦM 28
1.8.1 Bắp 28
1.8.2 Tấm 28
1.8.3 Cám gạo 29
1.8.4 Bột đậu nành 29
1.8.5
Gạo lức 29
1.8.6 Bột cá 30
1.8.7 Bột cá tra 31
1.8.8 Thức ăn cung cấp vitamin 31
1.8.9 Phối hợp khẩu phần cho gia cầm 39
1.9 NHỮNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SỨC SẢN XUẤT THỊT 34
1.9.1 Những chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt trên gia cầm sống 34
1.9.2 Những chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt khi giết mổ 34
1.10 PHÒNG BỆNH CHO GÀ 35

Số hiệu: BM08/QLKH – QT – 02 Lần ban hành: 02 Trang
v

3.4 CHỈ TIÊU MỔ KHẢO SÁT 59
3.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA CÁC NGHIỆM THỨC THÍ NGHIỆM 63
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
KẾT LUẬN 65
KIẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 70
Số hiệu: BM08/QLKH – QT – 02 Lần ban hành: 02 Trang
vi

DANH MỤC BẢNG – HÌNH Trang
Bảng 1.1: Phương pháp phân biệt trống mái dựa vào đặc điểm ngoại hình 8
Bảng 1.2: Nhiệt độ tại vùng ủ úm phải phù hợp với độ tuổi của gà con (
o
C) 14
Bảng 1.3. Nhiệt độ thích hợp nuôi gà theo tuần tuổi 14
Bảng 1.4: Kích thước máng ăn, máng uống cho gà 16
Bảng 1.5: Một số nhu cầu acid amin lý tưởng đối với gà thịt 23
Bảng 1.6: Nhu cầu vitamin tính cho 1 kg thức ăn hỗn hợp của gia cầm 26
Bảng 1.7: Nhu cầu khoáng cho 1 kg thức ăn của gia cầm 27
Bảng 1.8: Nhu cầu dinh dưỡng cho gà thả vườn nuôi thịt 28
Bảng 1.9: Thành phần dinh dưỡng gạo lức (100g) 30
Bảng 1.10: Nhu cầu các chất khoáng và vitamin trong khẩu phần của gà thịt
(90 % VCK) 32
Bảng 1.11: Giới hạn sử dụng một số loại thực liệu trong khẩu phần của
gia cầm 33
Bảng 1.12: Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp cho gà thịt thương phẩm 33

Hình 2.2: Chuồng để gà ngủ ban đêm 42
Hình 2.3: Gà con trong giai đoạn úm 46
Hình 2.4: Gà thí nghiệm lúc 16 tuần tuổi 48
Hình 3.1: Gà thí nghiệm 16 tuần tuổi 54
Hình 3.2: Gà mổ khảo sát 59
Hình 3.3: Thịt đùi gà mổ khảo sát 62
Hình 3.4: Thịt ức gà mổ khảo sát 63
Biểu đồ 3.1: Tăng trọng trung bình của gà qua các tuần tuổi (g/con) 52
Biểu đồ 3.2: Lượng thức ăn gà ăn vào trong ngày (g/con/ngày) ………………… 55

Số hiệu: BM08/QLKH – QT – 02 Lần ban hành: 02 Trang
viii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1
STT Số thứ tự
2 NLTĐ Năng lượng trao đổi
3 ME Năng lượng trao đổi
4 CP Protein thô
5 TĂ Thức ăn.
6 Met. Methionine
7 Cys. Cysteine.
8 Met. Methionine
9 Ca Canxi
10 P hd Phospho
11 Lys. Lysine
12 NT Nghiệm thức
13 LLL Lần lặp lại

kiểm soát, bảo đảm an toàn sinh học và giảm dần tỷ trọng sản phẩm. Chăn nuôi gia
cầm cần nâng cao năng suất hiệu quả và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, đưa
giá trị của sản phẩm gia cầm từ 23% năm 2008 lên 30% năm 2010, 40% vào năm
2015 và 50% vào năm 2020 trong tổng giá trị ngành chăn nuôi.
Theo Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long, chăn nuôi chiếm
tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh trong đó riêng chăn
nuôi lợn và gà có tốc độ phát triển mạnh trên 80%/năm. Trên địa bàn tồn tại 3 phương
thức chăn nuôi là gia trại, trang trại và nhỏ lẻ, trong đó chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm 80% số
hộ chăn nuôi. Nghề chăn nuôi, trong đó chăn nuôi gia cầm hiện đang là một trong
những lĩnh vực có ưu thế lớn để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất
nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Long, với mục tiêu tổ chức ngành chăn nuôi theo hướng
quản lý chuỗi sản phẩm từ chuồng nuôi đến thị trường tiêu thụ, năm 2012 ngành nông
nghiệp tỉnh Vĩnh Long triển khai xây dựng 10 mô hình chăn nuôi an toàn sinh học,
ứng dụng quy trình thực hành chăn nuôi tốt (VietGAHP) trên 2 đối tượng là đàn lợn và
đàn gà.
Nhằm định hướng cho sự phát triển ngành chăn nuôi gia cầm tỉnh Vĩnh Long
và trước vấn đề bức xúc giá thức ăn, tình hình dịch bệnh, hiện tượng nóng lên của trái
đất thì phương thức nuôi gà Ta vàng thả vườn là giải pháp thiết thực để tạo ra sản
phẩm an toàn, không gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là giống gà Ta vàng đang được
Số hiệu: BM08/QLKH – QT – 02 Lần ban hành: 02 Trang
2

quan tâm phát triển. Vì thế chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của các
mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà Ta vàng
nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long”.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định khẩu phần nuôi gà Ta vàng tăng trọng nhanh nhất.
- Chênh lệch chi phí giữa các mức độ đạm lên tăng trọng.
- Xác định khẩu phần nuôi gà Ta vàng cho tỷ lệ thịt cao.
- Quy trình chăn nuôi gà Ta vàng theo hướng an toàn sinh học.

Tây Nguyên, chỉ chiếm từ 4 - 5% về số lượng đầu con (Dương Thanh Liêm, 2003).
Theo số liệu thống kê 1997, đàn gà ở nước ta phân bố không đều, tập trung chủ
yếu ở phía Bắc (66%), Trung du phía Bắc (27,5%) và vùng đồng bằng sông Hồng
(24,7%). Đàn gà phía Nam không nhiều (34%) và chủ yếu tập trung ở vùng Đồng
bằng sông Cửu Long (15,6%). Chăn nuôi gà chăn thả với các giống gà địa phương
không ngừng phát triển và hiệu quả ngày càng tăng bởi các giống địa phương đã
được đầu tư để bảo tồn quỹ gen nhằm chọn lọc để nâng cao năng suất. Việc kết hợp
sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tự chế biến đảm bảo các nhu cầu dinh dưỡng và
các biện pháp vệ sinh thú y, sử dụng vaccin phòng bệnh đối với các đàn gà ta đã nâng
cao đáng kể hiệu quả trong chăn nuôi nông hộ. Nhiều giống gà thả vườn, lông màu,
dễ nuôi, khả năng cho thịt cao, khả năng sinh sản tốt thịt thơm ngon.
Hiện nay cũng như lâu dài, ngành gia cầm nước ta cần phát triển nhanh hơn để
đáp ứng yêu cầu tiêu thụ nội địa ngày càng tăng và để tạo ra sản phẩm gia cầm xuất
khẩu. Nhằm khai thác tối đa tiềm năng của đất nước, chăn nuôi gia cầm cần đẩy
mạnh phong trào chăn nuôi, tận dụng ở nông thôn, kết hợp phương thức nuôi bán
công nghiệp và thả vườn ở mọi vùng đồng bằng, trung du, miền núi dần dần hình
thành các trang trại quy mô lớn nhằm tạo sản phẩm hàng hoá về gia cầm, năng suất
khá, chất lượng thịt trứng thơm ngon, an toàn vệ sinh, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu. Đồng thời quy hoạch các vùng chăn nuôi công nghiệp theo
Số hiệu: BM08/QLKH – QT – 02 Lần ban hành: 02 Trang
4

hướng thâm canh, tạo sản phẩm hàng hoá có năng suất cao, chất lượng tốt (Nguyễn
Duy Hoan, 1999).
1.2 NGUỒN GỐC CỦA GÀ TA VÀNG
Gà Ta vàng là giống gà nội địa được phát triển rộng rãi ở miền Đông Nam bộ
và đồng bằng sông Cửu Long. Đây là giống gà được nuôi chăn thả phổ biến và rộng
khắp, nhất là ở vùng nông thôn được người dân địa phương ưa chuộng. Đặc điểm
ngoại hình: Gà mái thường có màu vàng rơm và nâu nhạt hoặc thẫm có điểm những
đốm đen ở cổ, cánh, đuôi. Gà trống có lông màu sặc sỡ trong đó màu vàng và màu đỏ

cái túi gọi là diều, sau đó trở lại như ống thực quản bình thường để đổ vào dạ dày
tuyến. Trên niêm mạc suốt ống thực quản và diều có rất phong phú tuyến nước nhờn.
Nhờ dịch nhờn tiết ra nhiều mà nó làm cho thức ăn trơn để gia cầm dễ nuốt thức ăn với
thực quản rất dài của chúng. Hình thái giữa thực quản và diều ở gà rất dễ phân biệt lúc
no cũng như lúc đói. Diều có những chức năng sinh lý quan trọng như dự trữ và điều
tiết lượng thức ăn đi trong ống tiêu hoá, tiết ra dịch diều để thấm ướt làm mềm thức
ăn, diều còn tiết ra sữa diều để nuôi con như chim bồ câu.
Số hiệu: BM08/QLKH – QT – 02 Lần ban hành: 02 Trang
6

1.3.3 Dạ dày
Dạ dày tuyến: Nằm trước dạ dày cơ, có dung tích rất nhỏ. Thời gian thức ăn
dừng lại ở dạ dày tuyến cũng rất ngắn. Dạ dày tuyến tiết ra HCl và enzyme pepsin để
bắt đầu tiêu hoá protein. Thức ăn đi qua đây được thấm ướt bởi dịch vị và tiếp tục
được chuyển xuống dạ dày cơ để tiêu hoá tiếp.
Dạ dày cơ: Dạ dày cơ thường được gọi là mề, có dung tích lớn hơn dạ dày
tuyến. Trong niêm mạc dạ dày cơ có lót bởi lớp tế bào sừng hoá rất cứng để chống lại
sự va đập, xay xát khi mề nghiền thức ăn. Phần dưới của lớp tế bào này là lớp tế bào
tăng sinh để thay thế cho lớp tế bào bên trên bị bào mòn. Trên bề mặt của lớp tế bào
này có nhiều gai nhỏ nhô lên làm cho niêm mạc trở nên nhám. Người ta gọi những gai
nhỏ này là “răng mề”. Dưới kính hiển vi mỗi “răng mề” có một tuyến nhờn rất nhỏ ở
cạnh. Qua khỏi lớp tế bào tăng sinh thì có mô cơ rất phát triển, màu đỏ sậm. Nhờ có hệ
thống cơ này giúp cho mề co bóp rất mạnh, nghiền nát thức ăn chuẩn bị cho tiêu hoá
tiếp theo ở ruột. Mề co bóp có chu kỳ, tuỳ theo tính chất thức ăn mà chu kỳ co bóp có
thay đổi. Để giúp cho việc nghiền thức ăn, loài chim thường ăn những hạt sỏi. Nếu
thiếu sỏi thì làm giảm khả năng tiêu hoá thức ăn hạt trên 10%. Khi gà ăn nhiều xơ hoặc
ăn lông thì sỏi giúp nghiền nát nhanh hơn, gà tiêu thụ thức ăn nhiều hơn.
1.3.4 Ruột
Ruột non là một ống dài có đoạn rộng hẹp khác nhau và chia làm 3 đoạn: Tá
tràng (duodenum), không tràng (jejunum) và hồi tràng (ileum). Dưới tác dụng của các

khối lượng sơ sinh lớn, lông tơi xốp, bụng thon nhẹ, rốn kín, mắt to sáng, chân bóng,
cứng cáp, đi lại bình thường, hai mỏ khép kín, tránh chọn những con gà khô chân, vẹo
mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh
rốn (Nguyễn Xuân Bình, 2000).
1.4.2 Chọn lọc kết thúc giai đoạn úm
Sau giai đoạn úm 21 ngày tuổi ta chọn những cá thể phát triển hoàn chỉnh, tầm
vóc cân đối, mào và tích tai phát triển, bộ lông bóng mượt, hai chân vững chắc, đi
đứng vững vàng, nhanh nhẹn, trọng lượng đồng đều chuyển lên nuôi lấy thịt (Nguyễn
Thị Mai, 2009).
1.4.3 Phân biệt trống mái
Phương pháp soi lỗ huyệt: Khi chọn gà trống và gà mái, gà con được cầm ở tay
trái lưng gà áp vào lòng bàn tay, đầu trút xuống dưới. Khi quan sát cần bóp nhẹ vào
bụng để cho phân ra ngoài, dùng ngón cái và ngón trỏ tay phải từ từ mở lỗ huyệt ra
nếu con trống thấy có mấu lồi nhô lên, khi kéo căng mấu lồi nhỏ này không mất đi đó
chính là mấu giao cấu.

Số hiệu: BM08/QLKH – QT – 02 Lần ban hành: 02 Trang
8

Bảng 1.1: Phương pháp phân biệt trống mái dựa vào đặc điểm ngoại hình
Các bộ
phận
Gà trống Gà mái
Mào Hình vòng cung, khía răng cưa, không
đều
Hình tam giác, khía răng cưa,
đều
Chân To, dài Ngắn, bé
Đầu To, thô Bé, ít thô
Lông Lông đuôi thường mọc muộn Lông đuôi mọc sớm

Theo Nguyễn Thị Mai và ctv(2009), đây là phương thức chăn nuôi tương đối tiên
tiến với quy mô đàn thường từ 200 - 500 con. Gà được nuôi nhốt trong chuồng thông
thoáng tự nhiên với hệ thống máng ăn uống bán tự động và sử dụng chủ yếu thức ăn công
nghiệp. Ước tính có khoảng 10 - 15% số hộ nuôi theo phương thức này với số lượng gà
sàn xuất hàng năm khoảng 25 - 30%. Theo Nguyễn Đức Hưng (2006), ngoài thức ăn do
người chăn nuôi chủ động cung cấp, gia cầm còn tận dụng được thức ăn thiên nhiên trong
quá trình thả ngoài sân, gia cầm được vận động nên sản phẩm có chất lượng cao. Người
chăn nuôi chủ động trong công tác thú y nên hạn chế được dịch bệnh. Phương chăn nuôi
này hiện đang được quan tâm và phát triển ở nước ta.
1.5.3 Nuôi thâm canh (nuôi nhốt hoàn toàn)
Đây là phương thức chăn nuôi tiên tiến được ứng dụng phổ biến ở các nuớc có
nền kinh tế và chăn nuôi công nghiệp phát triển. Gia cầm được nuôi quy mô lớn và chất
lượng sản phẩm theo chuẩn mực chung. Gà thường thuộc giống cao sản và thức ăn
thường là thức ăn công nghiệp. Quy trình thú y và sản xuất được kiểm soát nghiêm ngặt.
Đi theo phương thức nuôi này là các cơ sở chế biến thức ăn, chế biến sản phẩm, sản xuất
các thiết bị phục vụ chăn nuôi có liên quan đều phát triển để hỗ trợ cho sản xuất thịt và
trứng. Tùy thuộc vào mức độ đầu tư và trình độ kỹ thuật mà quy mô có thể khác nhau. Ở
nước ta các cơ sở tư nhân giữ giống gốc và các doanh nghiệp chăn nuôi lớn đều nuôi gia
cầm theo phương thức này (Nguyễn Đức Hưng, 2006). Theo Nguyễn Thị Mai và
ctv(2009), phương thức này chủ yếu là hình thức gia công của các trang trại với các
doanh nghiệp nước ngoài như: C.P. Group, Japfa, Cargill, Proconco và phát triển mạnh
ở các tỉnh như: Hà Tây, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bình Dương,…
Ngoài ra, nhiều hộ nông dân, trang trại có tiềm lực tài chính và kinh nghiệm cũng tự
chủ đầu tư chăn nuôi theo phương thức này. Số hiệu: BM08/QLKH – QT – 02 Lần ban hành: 02 Trang
10

1.6 CHUỒNG TRẠI VÀ THIẾT BỊ DÙNG NUÔI GÀ

+ Kiểu chuồng kín: Xây dựng bằng vật liệu cách nhiệt, hoàn toàn dùng ánh
sáng điện, thông gió bằng quạt máy.
Số hiệu: BM08/QLKH – QT – 02 Lần ban hành: 02 Trang
11

+ Kiểu chuồng nửa kín nửa hở vừa có hệ thống quạt thông gió, vừa có cửa
thông gió tự nhiên, dùng ánh sáng điện là chủ yếu.
+ Kiểu chuồng hở hoàn toàn thông gió tự nhiên và dùng ánh sáng tự nhiên hoàn
toàn.
+ Kiểu chuồng nhỏ, thô sơ nuôi ở các gia đình thông thường làm cách mặt đất
khoảng 0.50m cho phân lọt xuống dưới, có thể làm cầu đậu, máng ăn treo bên ngoài
cho ga thò đầu ra ngoài ăn.
Với kiểu chuồng như thế dù chọn bất kỳ kiểu chuồng nào chúng ta cũng cần
chú ý thoả mãn những điều kiện sau đây:
+ Nền chuồng phải kiên cố, tránh được ẩm ướt, dễ sát trùng có độ dốc nhất định
thuận tiện cho việc thoát nước khi rửa chuồng, nền có thể làm bằng ximăng, nền đất và
nền gạch nhưng nền bằng xi măng vẫn tốt nhất vì nó dễ thoát nước, bền và không bị
chuột đào khoét.
+ Nóc chuồng có thể lợp bằng ngói, tôn hay lá, lợp bằng ngói là tốt nhất, bêton
nóng và khi cần sửa chữa khó khăn, tôn thì hè nóng, đông lạnh, lá thì dễ bị chuột cắn
làm tổ, mau hư. Nóc chuồng gà con nên làm trần vì nó chống chuột và giữ ấm chống
lạnh.
+ Các cửa ra vào và cửa sổ phải có độ cao nhất định, độ rộng vừa phải để ra vào
làm việc thuận tiện. Cửa nên mở ra phía ngoài để khỏi mất diện tích chuồng. Cửa sổ
nên có lưới sắt để phòng thú hay chim xâm nhập vào.
+ Chuồng phải có hệ thống thoát nước ngầm từ những hố đặt máng nước tự
động bên trong chuồng dẫn đến các cống rãnh thoát nước lớn bên ngoài (Lã Thị Thu
Minh, 2000).
1.6.2 Lồng úm gà con
Lồng úm nuôi 100 con có chiều dài 2m, rộng 1m, cao 0,5m. Lồng úm để đứng

trên có chụp đèn sưởi ấm cho gà.
Úm trên nền: Dùng cót cao 0,5 m quây tròn, khoảng 5 m
2
cót cho 100 gà con.
Theo Nguyễn Hữu Vũ (1999) trước khi đưa gà về nuôi cần chuẩn bị chu đáo
chuồng trại, các thiết bị dụng cụ chăn nuôi và đảm bảo khử trùng sạch sẽ như:
+ Khử trùng chuồng trại: Chuồng trại được quét sạch bụi bẩn, mạng nhện trên
trần, lưới, sàn nhà. Khử trùng nền chuồng bằng cách phun dung dịch formol 2 %, liều
lượng 0,5 lít/1m
2
nền chuồng hoặc quét một lớp nước vôi đặc lên trên nền chuồng (nền
ximăng hoặc lát gạch), để khô trước khi cho vào lớp độn chuồng.
+ Chuẩn bị rèm che: Quây quanh chuồng có thể làm bằng cót, vải bạt nhưng
phải đảm bảo kín, linh hoạt khi mở ra hoặc đóng vào. Rèm che treo cách trần 30 - 40
cm đảm bảo thông thoáng và phủ sát nền chuồng để tránh gió lùa.
+ Chuẩn bị nguồn sưởi: Có thể là lò sưởi điện, bếp than, củi, trấu, bóng đèn
điện… đảm bảo cung cấp nhiệt trong quây gà lên được 36 - 37
0
C. Phải được vận hành
thử để kiểm tra trước khi đưa gà vào chuồng.
Số hiệu: BM08/QLKH – QT – 02 Lần ban hành: 02 Trang
13

+ Quây gà: Được làm băng cót, bìa cứng, hộp gỗ có đường kính 2,5 m,
chiều cao 0,5 m dùng cho 300 gà 1 ngày tuổi. Quây có thể mở rộng khi tuổi gà lớn
lên.
1.6.3 Kỹ thuật úm gà con
* Chuồng úm:
Một tuần trước khi nhận gà, chuồng trại phải được sát trùng kỹ lưỡng, có phủ
bạt che kín xung quanh. Trước khi vào gà 2-3 ngày nền chuồng được độn trấu hoặc

o
C)
Chuồng có chụp sưởi
Ngày tuổi
Nhiệt độ tại chụp
úm
Nhiệt độ chuồng
nuôi
Nhiệt độ chuồng
nuôi bằng hơi ấm

0-3 38 28-29 31-33
4-7 35 28 31-32
8-14 32 28 29-31
15-21 29 25 28-29
Nguồn: Nguyễn Thị Mai ( 2009)
Bảng 1.3. Nhiệt độ thích hợp nuôi gà theo tuần tuổi

Tuần tuổi Nhiệt độ thích hợp
Tuần tuổi thứ nhất 31 – 33
0
C
Tuần tuổi thứ hai 29 – 31
0
C
Tuần tuổi thứ ba 26 – 29
0
C
Tuần tuổi thứ tư 22 – 26
0
Hình 1.4: Máng ăn và máng uống gà con
(www.chicken-yard.net)
Máng ăn, máng uống: Gà mới nở vài ngày đầu thức ăn nên rải trên giấy xi
măng, giấy báo, sau đó cho gà ăn trên khay nhôm, mẹt tre có gờ thấp 2 cm, khi gà lớn
dần cho gà ăn máng có gờ cao 5 cm. Có thể đặt các máng bằng gỗ, tôn. Máng ăn,
máng uống cho gia cầm con có thể hình trụ, hình ống có then dọc tròn xoay để gà
không nhảy vào máng và cũng không đậu lên được. Cần tính toán đủ máng ăn, máng
uống cho đàn gà và phân bố nhiều trong quây gà. Khay làm máng ăn, máng uống cở
40 x 60 cm, cao 5 cm cho 75 - 100 gà. Máng uống đặt hoặc treo xen kẻ các máng ăn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status