BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
THỬ NGHIỆM BỔ SUNG HUFA TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN NÂNG CAO
SỨC SINH SẢN CỦA TÔM CÀNG XANH Macrobrachium rosenbergii
(De Man, 1879) CÁI GIẢ TÁI PHÁT DỤC.
Luận văn tốt nghiệp
Chuyên ngành Nuôi trồng Thủy sản, khoá 2003-2008 Sinh viên thực hiện:
Đỗ Thuỵ Thuý Vân
MSSV: 45DN142
Lớp : 45NT-2
Cán bộ hướng dẫn:
ii
TÓM TẮT
Thử nghiệm ảnh hưởng các chất DHA và EPA trong thành phần HUFA bổ sung
trong khẩu phần thức ăn lên sự tái phát dục, sức sinh sản, chất lượng trứng, chất lượng ấu
trùng 1 ngày tuổi của tôm càng xanh cái giả Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1879)
nuôi tái phát dục đã được nghiên cứu trong thí nghiệm. Trong đó, DHA và EPA là dạng
hỗn hợp trong sản phẩm Turbo-HUFA được bố trí 3 nghiệm thức thí nghiệm ứng với 3
nồng độ bổ sung: 2 mL, 4 mL, 6 mL/kg thức ăn công nghiệp và nghiệm thức đối chứng
không bổ sung HUFA. Thí nghiệm tiến hành 45 ngày trên các bể ximăng ngoài trời, chu kỳ
kiểm tra là 14 ngày/lần. và đã thu được một số kết quả ban đầu.
Nồng độ 2, 4, 6 mL HUFA bổ sung trong thức ăn có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống tôm
cái (lần lượt theo thứ tự là 91,2%; 91,5%; 94,5% và đối chứng 89,6%), thời gian tái phát
dục (3,2; 2,6; 2,0 ngày và đối chứng 5,1 ngày), đẻ trứng (23,4; 17,6; 24 ngày và đối chứmg
chỉ tăng lên trong lần sinh sản thứ 4, 5 rồi giảm thấp dần ở các lần tiếp theo.
2.3.3. Quy trình sản xuất tôm càng xanh toàn đực 23
Phần 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 24
3.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 24
3.2. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 24
3.2.1. Vật liệu 24
3.2.2. Dụng cụ 25
3.3. Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 26
3.3.1. Bố trí thí nghiệm 26
3.3.2. Phương pháp theo dõi và xác định các chỉ tiêu 28
v
3.3.3. Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu 31
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1. Tỷ lệ sống tôm bố mẹ nuôi vỗ tái phát dục 33
4.2. Thời gian tái phát dục, đẻ trứng, lột xác và sự phát triển buồng trứng 34
4.2.1. Thời gian tái phát dục 34
4.2.2. Thời gian đẻ trứng 34
4.2.3. Thời gian lột xác 35
4.2.4. Sự phát triển của buồng trứng 36
4.3. Tỷ lệ tôm cái tái phát dục và mang trứng 40
4.4. Sức sinh sản của tôm mẹ 42
4.4.1. Sức sinh sản tuyệt đối 42
4.4.2. Sức sinh sản tương đối 43
4.4.3. Sức sinh sản thực tế 44
4.5. Chất lượng trứng 45
4.5.1. Đường kính và khối lượng ướt của trứng 45
4.5.2. Tỷ lệ nở của trứng 47
4.6. Chất lượng ấu trùng 48
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT. 50
5.1. Kết luận 50
Bảng 10: Tỷ lệ tái phát dục và đẻ trứng của tôm cái 40
Bảng 11: Tỷ lệ tái phát dục của tôm cái qua các lần sinh sản 41
Bảng 12: Sức sinh sản của tôm mẹ ở các nghiệm thức thí nghiệm 42
Bảng 13: Khối lượng ướt, đường kính và tỷ lệ nở của trứng 45
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH.
trang
Hình 1: Đặc điểm hình thái ngoài của tôm càng xanh 7
Hình 2: Sơ đồ quy trình tạo tôm cái giả 23 viii
GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ VÀ CHỮ VIẾT TẮT.
Tôm cái giả: Những con tôm đực đã được dùng kỹ thuật vi phẫu loại bỏ tuyến đực
từ giai đoạn 25- 40 ngày tuổi, mang nhiễm sắc thể giới tính ZZ.
PL
20-60
: Post larvae 20-60 ngày tuổi
Ø: đường kính
TAN: Hàm lượng Ammonia tổng số (Total Ammonia Nitrogen).
ANOVA: One-way Analysis of Variances
TPD: tái phát dục.
ĐC: đối chứng.
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long.
Viện NCNTTS II: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.
HUFA: là nhóm các acid béo không no có mạch cacbon dài (từ 20 cacbon trở lên),
chứa từ 4-6 nối đôi trong mạch cacbon (highly unsaturated fatty acid).
PUFA: là nhóm các acid béo không no có mạch cacbon dài và có ít nhất là 2 nối
đôi trong mạch cacbon (poly unsaturated fatty acid).
DHA: Docosahexaenoic acid.
EPA: Eicosapentaenoic acid.
AA: Arachidonic acid.
24h-LC
50
: nồng độ NH
3
sinh sản cho kết quả thấp (Afalo, 2006), nhất là khi cho đẻ tái phát dục. Hơn nữa, chất
lượng ấu trùng cũng thấp (thể hiện qua khả năng chống chịu trong môi trường có ammonia
rất kém), tỷ lệ sống dao động lớn từ 5-51% [2]. Từ đó cho thấy chất lượng tôm bố mẹ sau
khi chuyển đổi giới tính còn gặp nhiều khó khăn, cần phải nghiên cứu tìm biện pháp giải
quyết bởi đặc tính khác biệt của chúng so với tôm bình thường.
Một trong những yếu tố được đánh giá có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng
tôm bố mẹ là dinh dưỡng. Hiện nay vấn đề dinh dưỡng của tôm càng xanh vẫn còn nghiên
cứu rất hạn chế đặc biệt là đối với tôm cái giả. Đối với tôm càng xanh bình thường đã có
một vài nghiên cứu về nhu cầu đạm (40% prôtêin và năng lượng 4.000 Kcal có khả năng
nâng cao sức sinh sản), acid amin (Das, 1996), ảnh hưởng của việc bổ sung chất béo cao
phân tử (HUFA) trong thức ăn đối với hàm lượng HUFA trong trứng [21] hay nghiên cứu
về bổ sung các nguồn lipid khác nhau trong thức ăn nâng cao chất lượng tôm càng xanh bố
mẹ [4]. Năm 1994, D’Abramo đã thí nghiệm và ước tính được nhu cầu vitamin C cho tôm
càng xanh giai đoạn hậu ấu trùng là trên 100 mg/ kg thức ăn [27]. Gần đây, dự án “sản
xuất tôm càng xanh toàn đực” đã có một số nghiên cứu về việc kết hợp thức ăn công
nghiệp, thức ăn tươi (cá biển, gan bò, mực) và một số chất bổ sung (vitamin C, HUFA)
trong dinh dưỡng cho tôm bố mẹ. Kết quả ban đầu cho thấy việc bổ sung 2 g vitamin C/kg
thức ăn công nghiệp và 4 mL Panga HUFA/kg thức ăn cho tỷ lệ thành thục cao nhất
(63,1%). Sức sinh sản tăng dần khi tăng lượng HUFA (1 mL, 2 mL, 4 mL) bổ sung và chất
lượng trứng có sự sai khác có ý nghĩa giữa các nồng độ HUFA khác nhau ở tôm cái giả
sinh sản lần đầu [12]. Tuy vậy những ảnh hướng chưa thể hiện rõ rệt ở tôm tái phát dục,
nhất là việc nghiên cứu đánh giá về ảnh hưởng của từng loại acid béo không no cao phân
2
tử trong thành phần HUFA đã sử dụng điển hình như DHA (Decosahexaenoic, 22:6n-3),
EPA (Eicosapetaenoic, 20:5n-3), chưa được thực hiện. Trong khi đó, các acid béo không
no này đã được các nhà nghiên cứu dinh dưỡng trên thế giới đánh giá là vô cùng quan
trọng đối với sinh trưởng và sinh sản của động vật bậc cao trên cạn [37] cũng như các loài
cá biển đã nghiên cứu [40]. Chính vì vậy, nghiên cứu đi sâu về ảnh hưởng của các chất
3
Phần 2: TỔNG LUẬN.
2.1. Tình hình nghiên cứu và nuôi tôm càng xanh
2.1.1. Lịch sử nghiên cứu tôm càng xanh
Tôm càng xanh đầu tiên được Rumplius G.E. mô tả và đặt cho rất nhiều tên gọi
khác nhau từ thế kỷ 18 Đến năm 1879, De Man đã đặt tên là Macrobrachium rosenbergii.
Thế nhưng mãi đến năm 1950, Rolthius L.B. mới xác định lại và sử dụng chính thức tên
này cho đến nay [12].
Từ thế kỷ XIX trở đi bắt đầu có nhiều nghiên cứu về sự phân bố của tôm càng xanh
ở khu vực Ấn Độ Dương và các nước Đông Nam Á như các nghiên cứu của Oliver (1811),
Lamarek (1818), Kom (1918), Roux (1932),…Đặc biệt, Roux (1933) đã mô tả khá rõ về
hình thái, phân loại và vùng phân bố của loài tôm này. S.W. Ling (1969) đã nghiên cứu các
đặc điểm sinh học ngoài tự nhiên, hình thái ấu trùng trong phòng thí nghiệm và công bố
quy trình sinh sản nhân tạo tôm càng xanh, đánh dấu cột mốc quan trọng cho sự phát triển
của kỹ thuật sản xuất giống tôm càng xanh [33]. Sagi và Cohen (1990) đã phát hiện vai trò
của tuyến Androgenic trong điều khiển giới tính tôm càng xanh và nó đã trở thành cơ sở
quan trọng trong sản xuất giống tôm càng xanh về sau này [13].
Bên cạnh, các nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, hàm lượng oxy trong nước lên
tỷ lệ sống của tôm càng xanh được thực hiện bởi một số tác giả như: Farmanfamian A.A,
1987; Raana Z., 1982; Brody T.,1980; New M.B, 1980.
Vấn đề dinh dưỡng tôm càng xanh cũng đã có một số nghiên cứu từ khá sớm.
Piamsak Menasveta và ctv. (1980) đã thí nghiệm thức ăn kết hợp giữa cám gạo và bột cá
với tỷ lệ 1:1, hàm lượng protein là 40%, kết quả tôm sinh trưởng kích thước lần lượt là
47,76 g ở ao đất; 25,02 g ở lồng và 26,32 g ở bể xi măng sau 6 tháng nuôi. Gomez Diaz và
cộng sự (1988) đã nghiên cứu về tỷ lệ protein và tinh bột để đạt mức tăng trưởng và tỷ lệ
sống cao nhất của tôm càng xanh là 1:1. Reigh và ctv., (1989) thí nghiệm trên tôm càng
xanh về ảnh hưởng của các loại acid béo lên sinh trưởng của tôm cho thấy thức ăn chứa
2.1.2. Tình hình nuôi tôm càng xanh
Nuôi tôm càng xanh thương phẩm trên thế giới đã xuất hiện từ lâu, đặc biệt khi
người đầu tiên là tiến sĩ Ling (1969) đã cho biết đầy đủ chu kỳ sống của tôm trong phòng
thí nghiệm [38]. Sau đó khi Fujimura và Okamoto thực hiện sản xuất giống đại trà thì việc
nuôi tôm thương phẩm ngày càng phát triển mạnh hơn. Từ đó, tôm càng xanh đã trở thành
hàng hoá xuất khẩu của nhiều nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia…[8].
Theo thống kê của FAO (2000), sản lượng tôm càng xanh trên toàn thế giới đạt
được khoảng 5.246 tấn (1984) và đã tăng gấp hơn 3 lần (17.680 tấn) với giá trị khoảng 75
triệu USD vào năm 1989. Trong đó, sản lượng tôm nuôi chiếm 72% tổng sản lượng (FAO,
1998). Ở châu Á, Thái Lan và Malaysia là một trong những nước có nghề nuôi tôm phát
triển ưu thế với công nghệ nuôi tôm thương phẩm và quy trình sản xuất giống đặc sắc
(Boonyaratpalin và Vorasayan, 1983). Còn Trung Quốc và Ấn Độ cũng khá thành công
trong chưong trình sản xuất giống và nuôi tôm thương phẩm trên các thuỷ vực nước ngọt
5
lớn. Trung Quốc đã đạt mức 37.000 tấn (1996), 43.000 tấn (1997), 62.000 tấn (1998) và
được xem là có sản lượng tôm càng xanh lớn nhất, chiếm 95% tổng sản lượng tôm càng
xanh thế giới (FAO, 2002). Theo báo cáo mới nhất của năm 2003, chỉ riêng Trung Quốc,
sản lượng tôm càng xanh đạt trên 300.000 tấn (Miao, 2003) [8].
Ở nước ta từ sau năm 1975, nuôi tôm càng xanh mới phát triển nhưng chủ yếu theo
phương pháp dân gian, diện tích nhỏ, con giống tự nhiên và theo mùa vụ nên năng suất
không cao mà lại bị động về con giống . Từ năm 1985 trở lại đây, phong trào nuôi tôm,
nhất là nuôi tôm sú Penaeus monodon, phát triển mạnh với nhiều phương pháp nuôi: quảng
canh, bán thâm canh hay nuôi trong ruộng lúa (báo cáo của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng
Thủy sản II (Viện NCNTTS II) tháng 12/1995). Còn tôm càng xanh vẫn chưa thu hút sự
quan tâm của người nuôi do quy trình sản xuất giống phức tạp, chưa hoàn chỉnh và kỹ
thuật nuôi thương phẩm còn nhiều hạn chế.
Tuy nhiên, sản xuất giống tôm càng xanh nhân tạo đã bắt đầu phát triển mạnh từ
1999 khi nhu cầu con giống ngày càng cao và thành công trong việc nghiên cứu, ứng dụng
Bộ mười chân: Decapoda
Bộ phụ chân bơi: Natantia
Phân bộ: Caridea
Họ: Palaemonidae
Phân họ Palaemoninae
Giống: Macrobrachium
Loài: Macrobrachium rosenbergii (de Man, 1879)
Tên khoa học: Macrobrachium rosenbergii.
Tên tiếng Anh: Giant Freshwater Prawn.
2.2.2. Hình thái
Tôm càng xanh là loài có kích cỡ lớn nhất trong nhóm tôm nước ngọt. Theo sự
miêu tả của nhiều tác giả thì cơ thể tôm gồm hai phần cơ bản: phần đầu ngực và phần thân
[1] [8] [41]:
Phần đầu ngực lớn, có dạng hình trụ, được bao bọc bởi một tấm vỏ kitin gọi là giáp
đầu ngực (carapace) chứa các nội quan như: tim, gan, tụy, dạ dày, mang Tôm càng xanh
có chuỷ dài hình kiếm, ngọn cong vượt quá vảy râu, có 11-16 răng trên và 10-15 răng dưới
chủy. Một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ để nghiền mồi và ba đôi chân hàm để giữ mồi.
Năm đôi chân ngực (còn gọi là chân bò) trong đó hai đôi chân ngực đầu tiên biệt hóa thành
hai đôi càng để bắt mồi và tự vệ. Đôi càng thứ hai (theo thứ tự từ trên xuống) rất to và đều
nhau, chiều dài vượt quá độ dài thân có khi tới 1.5 lần. 7
ắt
râu
chân bơi
vùng mang
c
ủa giáp đầu
telson
phần thân
và đuôi
đốt bụng 2
càng
ch
ủy
các đ
ốt bụng
bánh lái 8
Bảng 1: Một số đặc điểm hình thái phân biệt tôm đực và tôm cái [8].
Đặc điểm Tôm đực Tôm cái
Kích cỡ Lớn hơn và đầu ngực to hơn tôm
Dãy tế bào dính vào vùng gần
cuối của ống dẫn
Không có
Kích cỡ
thành thục
Chiều dài 17,5 cm, trọng lượng
trung bình 35 g.
Chiều dài trung bình 15 cm, trọng
lượng 25 g.
2.2.3. Phân bố
Tôm càng xanh có nguồn gốc phân bố ở Đông Nam Á, một khu vực khá hẹp của
Đông Bắc Á, một phần Đại Tây Dương và một vài bán đảo ở Thái Bình Dương. Về sau đối
tượng này được di nhập cả sang các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới trên thế giới và trở thành
đối tượng nuôi quan trọng đến nay (Holthius, 1980). Riêng tại Việt Nam, tôm càng xanh có
phân bố tự nhiên từ Nha Trang trở vào các tỉnh phía Nam nhưng chủ yếu ở các tỉnh
ĐBSCL [15]. Tôm càng xanh phân bố ở tất cả các thủy vực nước ngọt (đầm, hồ, ao, sông )
và các thủy vực nước lợ, nước trong cũng như nước đục. Phạm vi phân bố, mật độ quần
đàn tự nhiên của tôm càng xanh phụ thuộc vào một số yếu tố môi trường mà trước hết là
nhiệt độ, độ mặn và pH [11].
2.2.4. Tập tính sống
Môi trường sống của tôm càng xanh là nước ngọt và lợ vùng nhiệt đới, chất đáy
thích hợp là bùn hay bùn cát. Hậu ấu trùng và tôm trưởng thành sống ở nước ngọt, thích
9
ánh sáng vừa (400 lux) và ăn tạp (FAO, 1985; Lương Đình Trung, 1999; Ismael và M.B.
New, 2000) [8].
Tôm càng xanh có tính ăn thịt lẫn nhau và xảy ra khi nuôi mật độ cao hay thiếu
thức ăn (Smith và Sandifer, 1975; Segal và Roe, 1975; Ismael và M.B.New, 2000). Hậu ấu
trùng và tôm trưởng thành thường tấn công lẫn nhau trong giai đoạn lột xác và sau khi lột
C (Diaz–Herrara và Buckle–Ramizer,
1990). Ở nhiệt độ ngoài khoảng 22-33
o
C tôm giảm hoạt động, sinh trưởng và sinh sản, còn
dưới 13
o
C hay trên 38
o
C có thể gây chết tôm [8].
10
Độ mặn dao động tuỳ giai đoạn phát triển trong vòng đời của tôm. Ấu trùng cần độ
mặn 6-16‰, tốt nhất là 10-12‰. Đối với tôm lớn, chúng có thể chịu mặn đến 25‰ (tuy
nhiên, khi nuôi tôm tốt nhất không quá 10‰) [8].
Ôxy hoà tan khác nhau tuỳ giai đoạn, nhiệt độ, Giá trị ôxy tối thiểu trên 2,1 ppm
ở 23
o
C, trên 2.9 ppm ở 28
o
C và 4,7 ppm ở 33
o
C đối với tôm con. Còn tôm lớn cần nhiều
ôxy hơn và cần duy trì trên 4,0 ppm [8].
Độ pH thích hợp nhất cho sinh trưởng của tôm là 7,0-8,5, dưới 6,5 hay trên 9,0 kéo
dài không tốt cho tôm. Đặc biệt pH có ảnh hưởng lớn đến sinh sản tôm mẹ [8].
Độ cứng: tôm cần các loại khoáng như canxi, magiê cho quá trình tạo vỏ mới khi
lột xác, thích hợp nhất từ 50-150 ppm. Độ cứng hơn 300 ppm làm tôm chậm lớn và bị bám
nguyên sinh động vật. Đạm có hàm lượng tốt nhất là ở mức dưới 0,1 ppm đối với đạm
nitrite và dưới 1 ppm đạm amôn [8].
thuyết phục. Sau đó tôm đực dùng càng ôm tôm cái và dùng chân chùi sạch phần vỏ ở
ngực tôm cái. Động tác này kéo dài 10–15 phút và sau đó diễn ra quá trình gắn tinh: túi
tinh của tôm đực bắn vào phần bụng và ngực, giữa những đôi chân ngực của tôm cái ở
trong dung dịch nhờn do tôm cái tiết ra.
Bảng 2: Các giai đoạn phát triển buồng trứng tôm càng xanh [8].
Tác giả
Giai
đoạn
Nguyễn Thanh Phương (2003) Chang & Shih (1995)
I Trứng chưa thành thục. Buồng trứng nhỏ,
trong suốt, nằm ở vùng chót sau của
khoang giáp đầu ngực. Trứng có hình cầu
với nhân rõ ràng và nguyên sinh chất
trong suốt. Đường kính trứng đạt 0,064-
0,128 mm.
Buồng trứng không thể hiện.
II
Chớm thành thục. Buồng trứng chiếm
khoảng 1/4-1/2 chiều dài của khoang giáp
đầu ngực và có màu vàng. Trứng hơi ngà
do có noãn hoàng trong nguyên sinh chất.
Nhân không thấy rõ. Đường kính trứng
khoảng 0,191-0,447 mm
Buồng trứng với một điểm nhỏ màu
vàng được thấy gần phía sau vùng giáp
đầu ngực.
vĩ vẫn đẻ trứng, trứng này rụng sau 1–2 ngày.
Suốt quá trình ấp trứng, tôm cái dùng chân bụng quạt nước cung cấp oxy cho trứng
nở và loại bỏ các trứng hư, dị vật dính vào khối trứng. Thời gian ấp đến trứng nở từ 15-23
ngày phụ thuộc vào nhiệt độ, pH nước. Tôm càng xanh thuộc loại mắn đẻ. Trong điều kiện
thuận lợi, thức ăn đầy đủ, tôm có thể đẻ 4-6 lần trong năm. Buồng trứng thường tái thành
thục khi tôm cái đang mang trứng. Khi tôm cái phóng thích ấu trùng ở bụng xong sẽ lột
xác sau 2-5 ngày để giao vĩ và đẻ tiếp. Khoảng thời gian giữa hai lần lột xác tiền giao vĩ
ngắn nhất là 23 ngày.
Sự phát triển của phôi
Trứng hình bầu dục, đường kính 0,6–0,7 mm và có màu da cam tươi. Sau khi thụ
tinh 4h, trứng phân đôi tế bào, sau đó khoảng 1h30 đến 2h có một lần phân bào. Sau 24h
việc phân bào hoàn thành . Hốc mắt phát triển vào ngày thứ 7. Các sắc tố của mắt bắt đầu
xuất hiện vào ngày thứ 8. Đến ngày thứ 10 sắc tố xuất hiện, tim hình thành và bắt đầu đập.
Phôi bào phát triển hoàn toàn vào ngày thứ 12, lúc trứng chuyển từ màu da cam sang nhạt
rồi xám dần [9].
Ấu trùng phát triển hoàn toàn trong trứng vào ngày thứ 16–17, trứng có màu xám
đậm. Đến ngày thứ 19–20 trứng sẽ nở (26-28
o
C). Quá trình này diễn ra chậm chạp nhưng
liên tục. Ấu trùng dùng miệng rung động màng trứng và co rút cơ thể làm cho trứng mỗi
lúc một dài thêm. Các động tác này đột ngột dừng trong 10 phút, sau đó mạnh mẽ và liên
tục hơn. Thân ấu trùng tiếp tục giật, mình và phần đuôi của ấu trùng dùng làm vật che cho
mắt và đầu được đẩy ra ngoài trước, tiếp theo là phần mình. Cuối cùng bằng một cái búng
mạnh của thân, toàn bộ ấu trùng lọt ra ngoài vỏ, 5 phút sau ấu trùng bắt đầu bơi lội [8].
Sức sinh sản
Sức sinh sản của tôm thay đổi từ 7.000–503.000 trứng/cá thể, sức sinh sản tương
đối của tôm tự nhiên khoảng 500–1.000 trứng/gam khối lượng tôm (tôm nuôi trong ao hồ
khoảng 300-600 trứng/gam khối lượng tôm), tuỳ thuộc vào kích cỡ, khối lượng và số lần
tham gia sinh sản [8]. Theo New và Singholka (1985), tôm càng xanh thành thục hoàn
cao hơn có ý nghĩa so với nguồn tôm mẹ từ ao nuôi thương phẩm và nguồn tôm mẹ nuôi
vỗ cùng một nhóm kích cỡ. Khi so sánh sự tương quan khối lượng tôm càng xanh cái mang
trứng với sức sản xuất, kích thước trứng và chiều dài ấu trùng cho thấy được sức sinh sản
tăng theo thể trọng tôm mẹ và đạt mức cao nhất 1.219 trứng/g thể trọng tôm mẹ ở nhóm
tuổi 120-140 g. Ở nhóm có khối lượng từ 40 g trở lên sẽ đảm bảo được chất lượng [42].
Khi chọn tôm mẹ cho sinh sản các tác giả đã thống nhất trong giới hạn kích thước nhất
định được thể hiện thông qua bảng 4:
14
Bảng 4: Chỉ tiêu về kích cỡ tôm mẹ tuyển chọn cho sinh sản [7].
Tác giả Kích cỡ
S. W. Ling( 1969) 40- 80 g/con
Fujimura( 1974) 40 g /con trở lên
Malecha( 1993) Trung bình 40 g/con , dài 15- 25 cm
Subramanyam( 1980) 40- 60 g/con
Phạm Hữu Lai (1998) 30- 50 g/ con
Theo Ang (1991), nghiên cứu sức sinh sản của tôm càng xanh trong ao có khối
lượng 6,22-45,80 g có sức sinh sản dao động từ 1.211-89.747 trứng/con cái. Tôm càng
xanh là loài có sức sinh sản tương đối thấp so với một số loài giáp xác khác (sức sinh sản
của tôm thẻ 200.000-500.000 trứng/tôm mẹ; tôm sú 200.000-1.200.000 trứng/tôm mẹ
(Cúc, 1981; Tuấn và ctv, 1994; Trung, 2004)) [8].
2.2.9. Đặc điểm dinh dưỡng
Tập tính dinh dưỡng
Theo Ling (1969), tôm càng xanh có thể xếp vào nhóm ăn tạp vì chúng sử dụng
6-8
5-6
4-5
3-4
2-3
1,5-2
Trong quá trình nuôi tôm càng xanh, loại thức ăn phổ biến nhất đã và đang sử dụng
là thức ăn chế biến tại chỗ gồm: bột cá, bột đậu nành, bột ngũ cốc, vitamin và khoáng chất,
thức ăn cho heo và gà con (Booyaratpalin & New, 1993), có thể thêm Oxytetracylin,
vitamin C và các chất từ bột tôm (ở Thái Lan) hoặc dầu cá, nhiều gốc phosphate, chất kết
dính và muối Iod (ở Brazil) (Zimmermann, 1988). Bên cạnh, thức ăn công nghiệp và thức
ăn tươi từ động vật thủy sản cũng được sử dụng kết hợp để tăng hiệu quả sản xuất bởi các
loại thức ăn này đều có dinh dưỡng cao nhưng thức ăn chế biến khó đảm bảo đủ thành
phần cân đối, thức ăn công nghiệp giá thành cao, thức ăn tươi dễ ô nhiễm nước nuôi. Vì
vậy, việc lựa chọn và kết hợp sử dụng giữa các loại thức ăn trên là cần thiết để giảm bớt
nhược điểm của mỗi loại và đạt hiệu quả cao nhất [12].
Đối với tôm càng xanh, thức ăn phải đảm bảo đủ các thành phần sau:
▪ Prôtêin
Prôtêin góp phần cơ bản tạo nên mọi tổ chức tế bào trong cơ thể, kể cả tuyến sinh
dục, chiếm khoảng 65-75% trong thành phần sinh hóa của tôm [3]. Mức prôtêin cần thiết
trong nuôi tôm là 25-35% [8]. Riêng tôm bố mẹ và ấu trùng thì prôtêin cao hơn (khoảng
40% và năng lượng 4000 kcal sẽ nâng cao sức sinh sản tôm bố mẹ [29]). Theo Trần Thị
Thanh Hiền (2004), thức ăn tôm bố mẹ có hàm lượng prôtêin khoảng 43% trở lên [5]. Còn
Nguyễn Thanh Phương & ctv. (2003) đề nghị thức ăn 40-45% prôtêin với thành phần bột
cá cao đạm và bột đậu nành [9]. Mặt khác, prôtêin phải có đủ các thành phần acid amin
thiết yếu giúp tăng trưởng và hoạt động các enzyme, hormon.
Bảng 7: Mức Protein đề nghị trong thức ăn của tôm càng xanh ở Thái Lan (Nguồn:
S.Thongrod, pers. comm., 1999) [8]. ▪ Chất béo (Lipids)
Lipid giữ vai trò quan trọng trong sinh trưởng và sinh sản của tôm. Đây là thành
phần cấu tạo nên màng tế bào và giữ vai trò quan trọng trong việc tích luỹ năng lượng cho
quá trình phát triển buồng trứng. Nhu cầu lipid giảm dần theo độ tuổi của tôm (S.
Thongrod, 1999) [5]. Lipid không chỉ như là nguồn cung cấp năng lượng (8-9 Kcal/g) mà
còn cung cấp các acid béo, phospholipid, sterol cũng như là vật mang (carrier) của các
vitamin tan trong dầu cần thiết cho sinh trưởng và phát triển, sinh sản của tôm cá [25].
Với vai trò quan trọng, lipid là một vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu để nâng
cao chất lượng thức ăn cho tôm, đặc biệt là thức ăn trong giai đoạn nuôi vỗ và ấu trùng [3].
Trong những thành phần tan trong dầu thì PUFA (poly unsaturated fatty acid), HUFA
(highly unsaturated fatty acid), phospholipid, sterol được quan tâm và nghiên cứu nhiều
nhất.
Nhu cầu lipid của tôm càng xanh bố mẹ khó có thể xác định chính xác vì phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như chất lượng nguồn protein, năng lượng thức ăn, dạng và tỷ lệ của các
acid béo thiết yếu. Teshima và ctv. (1992) đã xác định tốc độ sinh trưởng cao nhất về khối
lượng có thể đạt đối với tôm càng xanh khi nuôi bằng thức ăn có bổ sung hỗn hơp acid
Giai đoạn Protein (%) Lipid (%)
Ấu trùng (4-15 ngày) >37 >5
Ấu niên >30 >4
Ấu niên (5-12 g) >25 >3
Trưởng thành >25 >3