( Word Reader - Unregistered )
www.word-reader.com
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án tốt nghiệp này, ngoài sự nổ lực, cố gắng của bản thân,
tôi còn nhận được sự giúp đỡ của gia đình, cơ quan thực tập, nhà trường, thầy cô,
bạn bè, và qua đây tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến sự giúp đỡ tận tình của:
- Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang.
- Các thầy cô giáo khoa Chế biến.
- Ban giám đốc Viện Nghiên cứu và nuôi trồng Thủy sản III.
- Thầy giáo Ths. Lê Vịnh, K.s Nguyễn Đình Quang Duy, Vũ Đình Tý đã
trực tiếp hướng dẫn tôi cũng như đã cho tôi nhiều ý kiến vô cùng quý báu
và cơ sở vật chất để thực hiện đề tài này.
- Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ
tôi hoàn thành luận văn này.
Nha Trang, tháng 6 năm 2011
Đinh Quốc Hưng
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương I: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 3
1.1TỔNG QUAN CHUNG VỀ DINH DƯỠNG ĐỘNG VẬT THỦY SẢN 3
1.1.1 Lịch sử phát triển ngành dinh dưỡng động vật thủy sản 3
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản về dinh dưỡng và thức ăn 3
1.1.3 Vai trò của thức ăn đối với nuôi trồng thủy sản. Mối quan hệ giữa thủy sản và
dinh dưỡng 5
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng cơ bản của động vật thủy sản 6
1.2 TỔNG QUAN VỀ NHU CẦU DINH DƯỠNG
CỦA ĐỘNG VẬT THỦY SẢN 6
1.2.1 Nhu cầu năng lượng chung của động vật thuỷ sản 6
1.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của động vật thuỷ sản 7
1.2.2.1 Nhu cầu protein 7
Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 THIẾT KẾ XÂY DỰNG CÁC CÔNG THỨC THỨC ĂN VÀ CHẾ BIẾN
CÁC MẪU THỨC ĂN NUÔI THỬ NGHIỆM HẢI SÂM CÁT 40
3.1.1 Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng trong nguyên liệu 40
3.1.2 Xây dựng các công thức thức ăn nuôi hải sâm cát 41
3.1.3 Quy trình chế biến các loại thức ăn nuôi hải sâm cát 44
3.2. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG KHÁC NHAU
ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HẢI SÂM GIỐNG 46
3.2.1 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng khác nhau đến sự tăng trưởng
theo khối lượng của hải sâm 46
3.2.2 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng khác nhau đến tốc độ
tăng trưởng tuyệt đối và tương đối của hải sâm 48
3.3 ẢNH HƯỞNG CỦỦA CÁC CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG KHÁC NHAU
ĐẾN HỆ SỐ THỨC ĂN 51
3.4 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU
ĐẾN TỶ LỆ SỐNG CỦA HẢI SÂM 54
3.5 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG 55
3.5.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ 56
3.5.2 Ảnh hưởng của pH môi trường 57
3.5.3 Ảnh hưởng của độ mặn nguồn nước 58
3.6 CHI PHÍ VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ Ở CÁC CÔNG THỨC THÍ NGHIỆM 58
3.7 ĐÁNH GIÁ CẢM QUAN VỀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA HẢI SÂM 60
Chương IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 63
4.1.Kết luận 63
4.2. Đề xuất 64
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Tóm tắt thông tin về nhu cầu khoáng của động vật thủy sản 11
Hình 2.1 Hải sâm cát cỡ giống 2g/con 31
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 35
Hình 2.3 Tiến hành bố trí thí nghiệm 36
Hình 3.1 Quy trình chế biến thức ăn tổng hợp cho hải sâm cát 44
Hình 3.2 Máy nghiền thô 45
Hình 3.3 Máy nghiền tinh 46
Hình 3.4 Tăng trưởng theo khối lượng của hải sâm trong 4 tuần
nuôi đối với các loại thức ăn khác nhau 47
Hình 3.5 Tốc độ tăng trưởng tương đối (%) của hải sâm
qua từng tuần nuôi thí nghiệm 49
Hình 3.6 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (g/ngày) của hải sâm qua từng tuần nuôi 50
Hình 3.7 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (g/ngày) của hải sâm trong 4 tuần nuôi 51
Hình 3.8 Đồ thị thể hiện hệ số thức ăn (FCR) phụ thuộc vào các loại thức ăn
trong 4 tuần nuôi 53
Hình 3.9 Đồ thị thể hiện hệ số thức ăn (FCR) phụ thuộc vào
các loại thức ăn khác nhau theo từng tuần nuôi 54
Hình 3.10 Đồ thị thể hiện tỷ lệ sống của hải sâm đối với từng loại thức ăn 55
Hình 3.11 Diễn biến nhiệt độ trong thời gian nuôi thí nghiệm
( thời gian đo: sáng và chiều) 56
Hình 3.12 Diễn biến của pH môi trường trong thời gian nuôi thí nghiệm 57
Hình 3.13 Sự thay đổi độ mặn trong thời gian nuôi 58
Hình 3.14 Hải sâm cát cỡ giống 2g/con vào thời điểm bắt đầu thí nghiệm 61
Hình 3.15 Hải sâm cát sau 28 ngày nuôi thí nghiệm
với loại thức ăn 22% protein 61
Hình 3.16 Hải sâm cát sau 28 ngày nuôi thí nghiệm với loại thức ăn là bột rong 62
LỜI MỞ ĐẦU
Nuôi trồng thuỷ sản hiện nay đang là một ngành nghề đang được khuyến
khích và ưu tiên phát triển. Nguồn thu nhập mà ngành thuỷ sản đem lại rất lớn, trong
đó phần lớn là thuỷ sản nước mặn.
Hải sâm cát (Holothuria scabra) đang được coi là đối tượng thuỷ sản nước
đó chế biến loại thức ăn có bổ sung protein từ những nguyên liệu thích hợp cho sự
sinh trưởng và phát tiển của hải sâm giống.
Nội dung nghiên cứu:
- Tổng quan về nhu cầu dinh dưỡng của động vật thủy sản và các nghiên cứu
liên quan đến hải sâm cát.
- Xây dựng các công thức thức ăn và chế biến các mẫu thức ăn có hàm lượng
protein khác nhau.
- Nuôi thử nghiệm hải sâm cát bằng các loại thức ăn đã chế biến.
- Đánh giá so sánh và chọn thức ăn có hàm lượng protein thích hợp.
Ý nghĩa khoa học: kết quả nghiên cứu thu được sẽ là cơ sở giúp các nhà chế
biến về thức ăn nuôi thủy sản có thể sản xuất ra loại thức ăn phù hợp nhất cho hải
sâm giống phục vụ cho việc nuôi thương phẩm hải sâm ở nước ta hiện nay. Đồng
thời đây cũng là cơ sở để phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy sau này.
Ý nghĩa thực tiễn:
- Kết quả của luận văn sẽ bước đầu góp phần giúp các nhà máy chế biến thức
ăn áp dụng để sản xuất ra loại thức ăn mới và tốt nhất cho hải sâm giống
- Góp phần phát triển nghề nuôi hải sâm ở nước ta hiện nay.
- Cải thiện đời sống cho nhân dân và phát triển kinh tế vùng ven biển.
Chương I: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.1 Tổng quan chung về dinh dưỡng động vật thủy sản
1.1.1 Lịch sử phát triển của ngành dinh dưỡng động vật thủy sản
Antoine Lavoisier (1743-1794), nhà hoá học lớn người Pháp được xem như
là người có công gây dựng nên ngành khoa học Dinh Dưỡng. Kiến thức về dinh
dưỡng được phát triển mạnh vào khoảng thập niên 1920.
Tuy nhiên, dinh dưỡng học thuỷ sản chỉ mới phát triển gần đây. Những
nghiên cứu đầu tiên về nhu cầu dinh dưỡng được thực hiện tại Corlan (Ohio, Mỹ)
vào nhũng năm 40 và bắt đầu từ thập niên 60 các nghiên cứu về dinh dưỡng thuỷ
sản phát triển rất nhanh. Thức ăn nhân tạo thuỷ sản đầu tiên do sự phối trộn các
thành phần nguyên liệu chỉ bắt đầu từ thập niên 50. Cuối thập niên 50 loại thức ăn
viên được dùng phổ biến tại Mỹ và Châu Âu.
- Thức ăn giàu khoáng như bột đá, monocanxiphosphat, dicanxiphosphat…
- Thức ăn bổ sung dinh dưỡng như vitamin, khoáng chất, acid amin và thức
ăn bổ sung phi dinh dưỡng (feed additives) như chất chỗng oxy hóa, sắc chất và các
thuốc phòng bệnh…[1]
* Dinh dưỡng
Dinh dưỡng là sự chuyển hóa vật chất của thức ăn thành những yếu tố cấu tạo
nên cơ thể thông qua các quá trình sinh lý, hóa học:
- Quá trình dinh dưỡng được thực hiện trong cơ thể.
- Thức ăn là cơ sở để cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng cho quá trình
dinh dưỡng.
Mục đích của dinh dưỡng động vật thủy sản là nghiên cứu cơ sở khoa học và
thực tiễn để cho quá trình chuyển những chất dinh dưỡng của thức ăn thành những
chất dinh dưỡng cơ thể hiệu quả nhất.
Chất dinh dưỡng là các nguyên tố hay hợp chất hóa học có trong khẩu phần
làm thỏa mãn sự sinh sản, sinh trưởng hay duy trì quá trình sống bình thường. Sáu
nhóm chất dinh dưỡng đã được phân loại như sau: nước, protein và amino acid,
carbonhydrat, lipid, vitamin và các nguyên tố khoáng.[1]
1.1.3 Vai trò của thức ăn đối với nuôi trồng thủy sản. Mối quan hệ giữa
thủy sản và dinh dưỡng
* Vai trò: Thức ăn có vai trò quyết định đến năng suất, sản lượng, hiệu quả
của nghề nuôi trồng thủy sản.
Thức ăn là cơ sở để cung cấp chất dinh dưỡng cho quá trình trao đổi chất của
động vật thủy sản.
Trong cùng điều kiện nuôi (môi trường, đối tượng nuôi, các biện pháp kỹ
thuật được áp dụng ) thì thức ăn có vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng, đến
năng suất và hiệu quả kinh tế.
Trong các điều kiện nuôi nói chung, thức ăn chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi
phí chung (50 - 77%). Đây là vấn đề cần được quan tâm, sử dụng hợp lý cho nghề
nuôi Sử dụng và chế biến thức ăn cho động vật thủy sản cần được kết hợp với
nhiều nghề khác như chăn nuôi, chế biến bột cá, chế biến phụ phẩm nông nghiệp,
- Mức độ hoạt động
- Yếu tố môi trường như: nhiệt độ, ánh sáng, độ mặn, nồng độ O
2
,
chất độc hoặc chất chuyển hóa… [1]
1.2 Tổng quan về nhu cầu dinh dưỡng của động vật thuỷ sản
1.2.1 Nhu cầu năng lượng chung của động vật thuỷ sản
Cũng giống như mọi cơ thể sinh vật khác muốn tồn tại và phát triển, động vật
thuỷ sản cần có một chế độ dinh dưỡng đủ năng lượng, đủ chất, tỷ lệ cân đối giữa
các thành phần dinh dưỡng.
Trong đó nguồn năng lượng lượng cung cấp phải đáp ứng đủ năng lượng tiêu
hao hằng ngày gồm: năng lượng tiêu hao cho chuyển hoá cơ bản, cho tiêu hoá hấp
thụ thức ăn và cho các hoạt động cơ.
Năng lượng cho chuyển hoá cơ bản là năng lượng để duy trì sự sống, để duy
trì các chức phận sinh lý cơ bản như tuần hoàn, hô hấp, hoạt động của các tuyến nội
tiết và duy trì thân nhiệt. Chuyển hoá cơ bản thay đổi theo giống, loài, giới tính, giai
đoạn trưởng thành và tình trạng sức khoẻ của động vật thủy sản. Ở con đực cao hơn
con cái, con nhỏ thì chuyển hoá cơ bản cao và thấp dần đến giai đoạn trưởng thành,
chuyển hoá cơ bản giảm khi nhịn đói hay thiếu ăn và có thể giảm 50% nếu tình trạng
này kéo dài.
Thức ăn là nguồn cung cấp năng lượng cho động vật thuỷ sản, trong đó,
nguồn chính là glucid và lipid, nguồn khác là protein. Theo lý thuyết, 1g glucid cho
4,1 kcal; 1g lipid cho 9,1 kcal; 1g protein cho 5,56 kcal. Ngoài cung cấp đủ năng
lượng, thức ăn phải là nguồn cung cấp protein, lipid, glucid, vitamin, và khoáng với
tỷ lệ cân đối, đầy đủ, hợp lý. Do vậy, phải nắm vững vai trò từng thành phần dinh
dưỡng trong thức ăn nuôi động vật thuỷ sản. [2]
1.2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của động vật thuỷ sản
1.2.2.1 Nhu cầu protein
*Vai trò của protein
Protein rất đa dạng về cấu trúc và chức năng là nền tảng về cấu trúc và chức
số hơn 80 acid amin đã gặp.
Một số acid amin khi thiếu thì vật nuôi sẽ ngừng lớn và giảm trọng lượng dù
các thành phần khác đều đầy đủ. Các acid amin này được gọi là các acid amin không
thay thế vì chúng không thể tự tổng hợp được trong cơ thể vật nuôi hoặc được tổng
hợp với mức độ không đủ để đáp ứng nhu cầu cơ thể. Các acid amin này cần được
bổ song đầy đủ vào thức ăn. Các acid amin thiết yếu là: tryptophan, lisine,
isoleucine, methionine, phenylalanine, valine, histidine, arginine.
Các acid amin không thiết yếu có thể được tổng hợp. Do đó, khi thiếu chúng
trong thức ăn cơ thể có thể bù trừ sự thiếu hụt đó nhờ quá trình tự tổng hợp bên
trong cơ thể từ các nguyên tố C, H, O và N có trong thức ăn. Một số acid amin
không thiết yếu là glycine, proline, alanine, serine, asparagine, glutamine. Cystein
(có thể tái tạo từ phenylalanine) còn gọi là acid amin bán thiết yếu.
Giá trị của thức ăn trước hết phụ thuộc vào số lượng và chất lượng protein có
trong đó. Và để sử dụng protein có hiệu quả cao thức ăn phải cung cấp đủ năng
lượng, sinh tố và muối khoáng. Protein động vật có tỷ lệ hấp thụ rất cao so với
protein thực vật. Trong quá trình chế biến, dưới tác dụng nhiệt cao (>100°C) và thời
gian lâu sẽ làm giảm mức độ sử dụng acid amin, trong đó lisine và các acid amin có
chứa S sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Tuy nhiên, tác dụng nhiệt chế biến ở mức độ
thích hợp có khă năng làm tăng mức độ tiêu hóa protein và chất bột. Nhiệt làm mất
hoạt tính các chất ức chế đặc hiệu (thí dụ một số glucoside trong đậu nành) và một
số enzyme ức chế hấp thụ (ví dụ enzyme thiaminase trong bột cá). Vì vậy chế biến
thông thường không ảnh hưởng xấu mà còn có tác dụng tốt cho thức ăn thủy sản.
Hệ số tăng trọng càng cao chứng tỏ đạm càng tốt. Trên thực tế, nhiều loại
protein được sử dụng một lúc bởi chúng sẽ bù trừ, hỗ trợ cho nhau về các thành
phần acid amin. Vì vậy, trong thức ăn thủy sản thường có sự phối trộn của các
nguyên liệu có nguồn gốc động vật như bột cá với các nguồn nguyên liệu có nguồn
gốc thực vật như đậu tương hay ngũ cốc. [2]
1.2.2.2 Nhu cầu lipid
Về phương diện dinh dưỡng, lipid thuộc nhóm chất chính. Lipid là nguồn
sinh năng lượng quan trọng gấp 2,25 lần glucid hay protein. Chất béo là dung môi
là vấn đề khó vì có nhiều vitamin được sinh ra bởi sinh vật đường ruột, vì vậy, nhu
cầu vitamin trong thức ăn cũng cần phải nghiên cứu kỹ để đảm bảo bổ sung lượng
thích nhất. [13]
1.2.2.5 Nhu cầu về khoáng
Cơ thể động vật thủy sản không sản xuất được các chất khoáng. Vì vậy, tất cả
các chất khoáng như: Ca, P, K, S, Mg, Fe, Cl… phải là thành phần cần thiết bắt
buộc của khẩu phần ăn. Một phần nhỏ chất khoáng, động vật thủy sản có thể hấp thụ
từ môi trường nước. Vai trò của khoáng đối với động vật thủy sản rất đa dạng,
nhưng chủ yếu là quá trình tạo hình đặc biệt là vỏ, xương, vây, tham gia vào quá
trình tạo protein, quá trình tạo enzyme, điều hòa chuyển hóa, duy trì tính ổn định
môi trường bên trong cơ thể trong điều kiện thành phần thức ăn luôn khác nhau,
tăng sức chịu đựng của động vật thủy sản nuôi với các yếu tố môi trường bên ngoài
và sức đề kháng đối với nhiễm trùng. Các chất khoáng có mặt trong nguyên liệu
thức ăn với hàm lượng lớn từ hàng chục đến hàng trăm mg%, có khi hàng g% gọi là
yếu tố đa lượng như đã nêu trên.
Bảng 1.1 Tóm tắt thông tin về nhu cầu khoáng của động vật thủy sản:
[14]
Khoáng Nhu cầu (mỗi kg thức ăn khô)
Canxi 5g
Phospho 7g
Magie 500mg
Natri 1-3g
Kali 1-3g
Lưu huỳnh 3-5g
Clo 1-5g
Sắt 50-100g
Đồng 1-4g
Mangan 20-50mg
Coban 5-10mg
Kẽm 30-100mg
2
tối thích: 1,78 ml/l H
2
O.
_ Tháng khai thác: tốt nhất là từ tháng 4 trở đi; tháng 9-12 không nên khai
thác. [4]
· Đặc điểm sinh sản
Hải sâm có mùa vụ sinh sản chính từ tháng 4 đến tháng 8, chúng có thể đẻ
quanh năm ở vùng nhiệt đới. Trong sinh sản nhân tạo có thể cho đẻ quanh năm
Hải sâm cát thuộc loài đực cái dị thể, nhưng nhìn bên ngoài rất khó phân biệt
. Tuyến sinh dục có hình ống dài từ ống chính phân thành nhiều ống nhỏ.
Tập tính sinh sản: Hải sâm cát là loài thụ tinh ngoài. Trước sinh sản chúng
thường cuộn mình, lắc lư cơ thể. Con đực thường phóng tinh trước con cái khoảng
20-30 phút, có khi vài giờ, nó tiết ra một dải tinh trùng màu trắng đục. Khi con cái
đẻ, trứng phóng ra từ từ và liên tục, con cái có thể phóng trứng nhiều hơn 1 lần,
thường xảy ra đối với cá thể thành thục có kích thước lớn.
Quá trình thụ tinh xảy ra trong nước, quá trình này xảy ra trong khoảng
10-15’, sau khoảng 30’ thì phân cắt thành 2 tế bào và sau đó tiếp tục nhân lên thành
nhiều tế bào. Giai đoạn phôi nang xuất hiện sau khi thụ tinh khoảng 4-5 giờ, phôi vị
xuất hiện sau khoảng 18-20 giờ.
Các giai đoạn phát triển phôi và biến thái của ấu trùng trong điều kiện môi
trường có độ mặn 32‰, nhiệt độ nước 29- 31ºC, pH dao động 7,8-8.
- Ấu trùng Auricularia: xuất hiện sau khoảng 30 giờ từ lúc thụ tinh, có dạng
hình tai, kích thước trung bình dài 500-550µm, rộng 340-350µm có vành tiêm mao
bao phủ xung quanh cơ thể để chuyển động và lùa thức ăn. Sau khoảng 7-8 ngày, ấu
trùng chuyển sang hậu Auricularia, có kích thước dài 1125-1140 µm, rộng 750-760
µm.
- Ấu trùng Doliolaria: kích thước là 460-620 µm. Sự thay đổi nhanh chóng
diễn ra trong cơ thể ấu trùng và có đầy đủ nội quan như con trưởng thành, giai đoạn
này ngắn, chỉ diễn ra 2-3 ngày.
- Theo M.Baine (1999), H. scabra mới bám ăn vi khuẩn tảo giáp, chất chiết
xuất từ Sagassum. sp. Khi giống đạt 10-20mm,chúng có thể thay đổi chuyển
sang nền đáy cát và ăn bột tảo Ulvalactula.
· Thành phần hóa học của hải sâm
Thành phần hóa học chủ yếu là: protein, lipid tổng số, các acid béo, amino
acid, khoáng tổng số và một số nguyên tố vi lượng quí hiếm. Hàm lượng các chất
này phụ thuộc vào loài, môi trường sống, trạng thái sinh lý, mùa vụ, nguồn thức ăn,
thời tiết…
- Đạm tổng số: trong mô hải sâm chứa nhiều thể keo (colagen) và
chiếm 60% tổng số đạm(Cluskin 1976-1978), có thể đến 77,5%. Thành phần chất
keo chứa 18 loại amino acid và trong đó hàm lượng có giá trị cao là Glycerin,
proline, glutamic, threonine.
- Glucid: Hàm lượng hydrat carbon trong thịt hải sâm cs giá trị thấp.
Trong đó galactose chiếm 12%, glucose 11%, Fructose 20% so với tổng lượng
đường.
- Lipid: chú ý đến các chất như phospholipid, monoglycerit, diglycerit,
triglycerit, acid béo no và không no; hàm lượng phospholipid chiếm 12,5-37,2%
lipid tổng số. Trong thịt hải sâm có 34 loại acid béo, trong đó, acid béo không bão
hòa chiếm ưu thế và các acid béo có nhiều nối đôi chiếm 43,1-75% gồm: linoleic,
Arachidoric, Eicosatrienic, Eicosapentaenoi, là các acid béo không thay thế có hoạt
tính sinh học cao và là tiền chất của prostaglandin-một loại dược phẩm quý.
- Acid nucleic: trong hải sâm có nhiều ở thành ruột và phổi.
- Vitamin: tìm thấy một số loại vitamin trong thịt hải sâm như: B1, B2,
B12, C, PP.
- Khoáng: Hàm lượng các chất khoáng vi lượng trong thị hải sâm cao
hơn so với các loài cá, đặc biệt là các nguyên tố vi lượng quý hiếm như Se-là chất
giải độc, đào thải Hg, Pb ra khỏi cơ thể.
- Men: chứa nhiều ở ruột, một ít ở mô cơ: Protease ở thành ruột và mô
cơ: amylase, phospholipase, glucozidase, nuclease có ở thành ruột. [9], [12]
· Giá trị về dược học của hải sâm
Choe (1983) nghiên cứu về hệ enzyme, kết quả nghiên cứu cho thấy, trong
hải sâm có các enzyme như: Amylase, protease, dipeptiase, celluloza. Thành phần
ruột hải sâm có phospholipase, lipase. [19]
b/ Về các chất có hoạt tính sinh học của hải sâm
Tháng 5 năm 2000, chính phủ New Zealand tổ chức buổi hội thảo bàn về các
biện pháp đẩy mạnh nuôi, đặc biệt nghiên cứu sản phẩm có giá trị gia tăng từ hải
sâm (nghiên cứu chiết xuất các chất có hoạt tính sinh học phục vụ đời sống con
người).
Theo tìm hiểu của Li Xiangmin năm 1997, thì hải sâm sau khi làm sạch nội
tạng thường được chế biến bằng cách nấu và làm khô. Trong quá trình chế biến cần
kiểm soát nhiệt độ nhằm tránh tổn thất các thành phần ding dưỡng có trong hải sâm,
đặc biệt là các chất có hoạt tính sinh học cao. [20]
Trong lipid của hải sâm có hai hợp chất có khả năng chống sưng: một chất có
đặc điểm tương tự dầu cá, chất thứ hai là hỗn hợp acid béo có nhánh, thành phần
chính là 12-MTA (methyltetradecanoic acid). Hợp chất này và chất biến đổi khác
13-MTA là những chất ức chế rất mạnh hoạt động của hệ men 5-LOX (Lypo
xygenase system). Nhóm chất ức chế này đang được nghiên cứu để chế tạo các dược
phẩm trị suyễn, sưng loét dạ dày, ruột và thấp khớp (The Protease số 55-2003).
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học tại Universidad Autonomwde Baja
California, đã xác định được hai Triterpinoid olygoglycoside loại Holostan là
Parvimosides A và B trích từ hải sâm có hoạt tính sinh học cao hơn các chất họ đã
nghiên cứu trước đây (Jounal of Natural Products số 68-2005).
Nhóm nghiên cứu quốc tế Plos Pathogens, năm 2005, nghiên cứu tách chiết 1
loại protein được gọi là lectin từ hải sâm Holothuria scabra. Các nhà khoa học đã