ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ TÌNH
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG ENZYME PHYTASE
TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN TỚI HIỆU QUẢ
CHĂN NUÔI LỢN THỊT VÀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60 62 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. PHẠM SỸ TIỆP
2. PGS.TS. TRẦN HUÊ VIÊN
THÁI NGUYÊN - 2011
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu để hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Đảng uỷ - Ban giám hiệu nhà trường,
Khoa sau đại học, Khoa Chăn nuôi - Thú y, các Thầy, Cô giáo Trường
Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đặc biệt là Thầy giáo, Phó Giáo sư - TS
Trần Huê Viên trực tiếp hướng dẫn tôi.
Tôi xin trân trọng cảm ơn trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi
(TN1) và Hộ trang trại chăn nuôi lợn ngoại xã Minh Đức, huyện Phổ Yên,
tỉnh Thái Nguyên (TN2) đã cung cấp địa điểm, chuồng trại và giúp đỡ tôi
iii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn ......................................................................................................... i
Lời cam đoan ..................................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................................. iii
Danh mục các từ viết tắt.................................................................................... v
Danh mục các bảng .......................................................................................... vi
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................... 1
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................. 2
3. Những đóng góp mới của đề tài ............................................................... 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................ 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ..................................................................... 4
1.1.1. Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của lợn ...... 4
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng và cho
thịt của lợn ...................................................................................... 7
1.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng ............................... 11
1.1.4. Cơ sở khoa học của sức sống và khả năng kháng bệnh ............... 22
1.1.5. Tổng quan về enzyme .................................................................. 22
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ......................................... 43
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................. 43
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ............................................. 45
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..... 48
2.1. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................... 48
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu ........................................................... 48
2.2.1. Địa điểm ....................................................................................... 48
2. Đề nghị ................................................................................................... 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 73
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 76
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Cs
ĐVT
DE
NLTD
DIỄN GIẢI
: Cộng sự
: Đơn vị tính
: Năng lượng tiêu hoá
: Năng lượng trao đổi/ME
NL
: Năng lượng
MJ
: Megajun
Kg
DCP
: Dicanxiphotphat
MNP
: Monocanxiphotphat
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 ................................................................ 49
Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí khẩu phần cho lợn thí nghiệm ................................... 53
Bảng 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 ................................................................ 51
Bảng 3.1. Lượng P thải ra trong nước tiểu lợn thí nghiệm ............................. 56
Bảng 3.2. Lượng P thải ra trong phân lợn thí nghiệm .................................... 57
Bảng 3.3. Lượng Ca thải ra trong nước tiểu lợn thí nghiệm ........................... 58
Bảng 3.4. Lượng Ca thải ra trong phân lợn thí nghiệm .................................. 59
Bảng 3.5. Lượng N thải ra trong nước tiểu lợn thí nghiệm ............................ 60
Bảng 3.6. Lượng Nitơ thải ra trong phân lợn thí nghiệm ............................... 62
Bảng 3.7. Một số chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh máu lợn TN ................................ 63
Bảng 3.8. Tổng hợp hiệu quả tiêu hóa P của Phytase ..................................... 64
Bảng 3.9. Khối lượng lợn thí nghiệm giai đoạn 20- 50 kg ............................. 65
Bảng 3.10. Tiêu tốn thức ăn cho lợn thí nghiệm giai đoạn 20- 50 kg ............ 66
Bảng 3.11. Khối lượng lợn thí nghiệm giai đoạn 51- 90 kg ........................... 67
Bảng 3.12. Tiêu tốn thức ăn cho lợn thí nghiệm giai đoạn 51- 90 kg ............ 68
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của phytase đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử
dụng thức ăn của lợn thịt ................................................................. 69
Bảng 3.14. Một số chỉ tiêu sinh lý và sinh hóa máu lợn TN .......................... 70
nuôi thì việc gia tăng độ hữu dụng của photpho trong thức ăn thông qua sử
2
dụng các enzyme tiêu hoá là một giải pháp khả thi. Phytase là một enzyme tiêu
hoá giúp giải phóng lượng Photpho bị giữ trong các phân tử phytate. Phytase
được sử dụng ngày càng rộng rãi và giúp làm giảm giá thành thức ăn chăn
nuôi, ngoài ra phytase còn có tác dụng làm giảm mùi hôi, giúp cải thiện môi
trường chăn nuôi. Hiện nay trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về
phytase cho lợn, thuỷ sản và gia cầm, tuy nhiên ở Việt Nam các công trình
nghiên cứu về phytase trong chăn nuôi còn ít và chưa hệ thống. Do đó để
ngành chăn nuôi động vật phát triển bền vững và làm giảm ảnh hưởng xấu đến
môi trường thì việc bổ sung phytase vào trong khẩu phần ăn cho lợn thịt là một
việc làm cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu sử dụng phytase trong khẩu phần thức ăn tới hiệu quả chăn
nuôi lợn thịt và cải thiện môi trường".
Với mục tiêu:
- Xác định ảnh hưởng của phytase trong khẩu phần chứa đạm động vật
và trong khẩu phần không chứa đạm động vật tới hiệu quả chăn nuôi lợn thịt
và môi trường sống.
- Xác định được ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme phytase tới tốc độ
sinh trưởng nói riêng, hiệu quả chăn nuôi lợn thịt nói chung.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
+ Ý nghĩa khoa học:
- Có cơ sở khoa học để làm sáng tỏ hiệu quả của phytase tới khả năng
sản xuất của lợn thương phẩm giống ngoại
- Nghiên cứu được ảnh hưởng của phytase đến tỉ lệ tiêu hoá, hấp thu và
thải trừ photpho, Canxi, Nitơ ra môi trường trong chăn nuôi lợn.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hoá và sinh lý tiêu hoá của lợn
1.1.1.1. Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa của lợn
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [10] cho biết dạ dày lợn là dạ
dày trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, bao gồm 5 phần như: dạ dày
đơn vùng thực quản (nhỏ), vùng manh nang, vùng thượng vị, vùng thân vị
và vùng hạ vị. Vùng thực quản không có tuyến, vùng manh nang và thượng vị
có tuyến tiết ra dịch nhầy không có pepsin và HCl.
Theo Nguyễn Thiện và cs, (1998) [11], ruột non của lợn dài gấp 14 lần
chiều dài cơ thể gồm 3 phần: Phần tá tràng, khổng tràng và hồi tràng. Ruột già
dài khoảng 4 - 5 m gồm 3 đoạn: manh tràng, kết tràng và trực tràng.
Hệ tiêu hoá của lợn thay đổi khối lượng, kích thước và thể tích tuỳ
theo giống, thức ăn, phương thức chăn nuôi. Lợn nuôi theo hướng mỡ, chăn
thả, quảng canh ăn nhiều thức ăn thô thì bộ máy tiêu hoá to hơn, dài hơn so
với lợn hướng nạc. Do đặc điểm cấu tạo tiêu hoá mà lợn có các đặc điểm tạp
ăn, chịu đựng kham khổ và có khả năng lợi dụng thức ăn thô xanh cao, nhất là
nơi các giống lợn ít được chon lọc. Do ăn nhiều thức ăn thô xanh nên ruột già
của lợn tồn tại hệ vi kháng sinh vật có khả năng tiêu hoá một phần celluloza.
Đặc điểm của hoạt động thần kinh và thể dịch mà lợn có khả năng
tiêu hoá thức ăn cao. Để sản xuất ra một khối lượng cơ thể, lợn chỉ sử dụng
hết 4 - 6 kg thức ăn, trong khi đó bò phải ăn hết 8 - 12 kg và dê cừu phải ăn
hết 6 - 10 kg.
Dựa vào các đặc điểm sinh học của hệ tiêu hoá nói trên chúng ta có thể
nghiên cứu phối hợp khẩu phần ăn cho phù hợp với hệ tiêu hoá của lợn, để
nâng cao năng suất trong chăn nuôi lợn.
5
6
Ruột non của lợn dài 14-18 m, tiêu hóa ở ruột non là nhờ tác dụng của
các dich tiêu hóa như: Dịch tụy, dịch ruột, dịch mật và các dịch tiết từ các cơ
quan tiêu hóa phía trên đưa xuống. Lợn có khối lượng 100 kg tiết 8 lít dịch
tụy trong một ngày đêm và sự phân tiết này còn phụ thuộc vào các loại thức
ăn, cách chế biến và cách cho ăn…
Theo A.V.Kvasnhiski (1951) lợn con 20- 30 ngày tuổi, dich tụy phân
tiết trong một ngày đêm 150-300 ml và sự phân tiết này tăng dần theo lứa
tuổi: 3 tháng tuổi là 3,5 lít và từ 7 tháng tuổi trở lên là 10 lít/ ngày đêm. Sự
biến đổi khả năng phân tiết dịch tụy theo tuổi trái với sự biến đổi của dịch vị.
Trong thời kỳ thiếu HCl trong dịch vị, hoạt tính của dịch tụy rất cao để bù lại
khả năng tiêu hóa kém của dạ dày. Ở lợn trưởng thành dịch vị dạ dày phân tiết
có tính liên tục nhưng không đều, khi ăn tiết nhiều, không ăn tiết ít hơn, buổi
sáng tiết ít hơn buổi chiều.
Các nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc điểm phân tiết các loại dịch tiêu hóa,
các nhân tố ảnh hưởng… đã được tiến hành bởi các tác giả: Trần Cừ và cs
(1975) [2] và đi tới các nhận xét có ý nghĩa ứng dụng là: Số lượng và chất
lượng các loại dịch tiêu hóa ở đường tiêu hóa của lợn thay đổi phụ thuộc vào
loại thức ăn, phương pháp cho ăn và nhất là phương pháp chế biến thức ăn.
Nếu thức ăn được chế biến tốt sẽ nâng cao được hiệu suất tiêu hóa, tỷ lệ lợi
dụng thức ăn từ đó nâng cao khả năng sinh trưởng của lợn.
Phần cuối cùng của bộ máy tiêu hóa là ruột già, ruột già dài khoảng 4 5 m bao gồm manh tràng, kết tràng và trực tràng. Ở ruột già chủ yếu xảy ra
quá trình tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải tạo ra sản
phẩm chính là axit lactic có tác dụng ức chế vi khuẩn gây thối và các vi sinh
vật có hại khác. Ruột già chủ yếu hấp thu nước và chất khoáng. Với protein
còn lại trong thức ăn chưa được tiêu hóa hết, đến ruột già được vi khuẩn vật
gây thối ở ruột già phân giải thành các chất Crerol, Indon có tính độc, chúng
8
A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác
định được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò
quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thấp nhất con
đường thực nghiệm.
Các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của sai lệch môi trường (E)
gồm có 2 loại:
- Sai lệch môi trường chung (Eg): (General Environmental deviation) là
sai lệch do các nhân tố môi trường tác động thường xuyên lên tính trạng một
cách lâu dài. Các yếu tố đó là: thức ăn, khí hậu, chế độ chăm sóc… tác động
lên một nhóm cá thể hay một quần thể gia súc (Nguyễn Văn Thiện và cs
1995, [14]).
- Sai lệch môi trường riêng (Es): (Special Environmental deviation) là sai lệch
do các nhân tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể riêng biệt trong nhóm vật
nuôi, hoặc một vài bộ phận riêng biệt của một cá thể nào đó trong quần thể trong một
thời gian ngắn và không thường xuyên (Nguyễn Văn Thiện 1975, [12]).
Như vậy khi giá trị kiểu hình của một tính trạng nào đó chi phối bởi từ 2
locus trở lên thì giá trị ấy được biểu thị như sau: P = G + E = A + D + I + Eg + Es.
Từ những phân tích ở trên cho thấy, các tính trạng năng suất ở lợn cũng
như ở các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các
yếu tố môi trường. Các vật nuôi khác nhau đều nhận được từ bố mẹ chúng
một vốn di truyền nhất định. Nhưng tiềm năng di truyền ấy thể hiện cao hay
thấp phụ thuộc rất lớn vào môi trường sống của chúng, đặc biệt là các yếu tố:
khí hậu, thức ăn, nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý. Vì thế trong công tác giống
lợn, chúng ta muốn cải tiến các đặc điểm di truyền của giống lợn địa phương
nhằm nâng cao năng suất, cần thiết phải thay đổi kiểu gen (G) qua việc tiến
hành chọn lọc chặt chẽ giá trị gây giống (A), lai tạo để có những tổ hợp gen
mới (D và I), kết hợp với việc cải tiến và tăng cường các biện pháp tác động:
10
- Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng
Sinh trưởng tích lũy: Là sự tăng lên về khối lượng cơ thể, kích thước
theo thời gian khảo sát
Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, thể tích và kích
thước các chiều cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát (TCVN,
1977) [15], đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn có dạng Parabol.
Tốc độ sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối
lượng, thể tích và kích thước các chiều cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc
đầu khảo sát (TCVN, 1977) [16]. Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn có
dạng Hyperbol, tốc độ sinh trưởng tương đối giảm dần theo tuổi của gia súc.
- Các chỉ tiêu đánh giá năng suất thịt
Khối lượng sống: là khối lượng giết mổ của lợn sau khi cho nhịn ăn 24 giờ.
Khối lượng thịt móc hàm (kg) và tỷ lệ thịt móc hàm (%)
Khối lượng thịt móc hàm là khối lượng thịt lợn sau khi đã chọc tiết, cạo
lông, mổ lấy hết cơ quan nội tạng.
Tỷ lệ móc hàm là tỷ lệ giữa khối lượng móc hàm và khối lượng sống.
Khối lượng thịt xẻ (kg) và tỷ lệ thịt xẻ (%)
Khối lượng thịt xẻ là khối lượng móc hàm trừ đi khối lượng đầu, 4
chân, đuôi và hai lá mỡ.
Tỷ lệ thịt xẻ là tỷ lệ giữa khối lượng thịt xẻ và khối lượng sống.
Tỷ lệ nạc (%)
Thịt nạc là thành phần quan trọng nhất có giá trị trong thịt xẻ. Tỷ lệ nạc
càng cao thì chất lượng thịt càng cao và ngược lại. Tỷ lệ nạc của các giống
cao sản như Yorkshire, Landrace, Pietrain… từ 55 - 64%. Hiện nay chúng ta
đang cố gắng nâng cao tỷ lệ nạc của các giống lợn trong nước bằng cách cho
lai với các giống lợn cao sản.
nạc, hướng mỡ.
12
*Điều khiển quá trình trao đổi chất của các hormone
Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và
giữ cân bằng các chất trong máu. Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống,
kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của
tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng. Về sau điều khiển quá
trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên. Hormon của thuỳ trước
tuyến yên STH (somatotropin hormone) là loại hormon rất cần thiết cho
sinh trưởng của cơ thể. Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [10]:
STH có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể
bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát
triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài). Khi thiếu hoặc thừa loại
hormon này sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ bé (nanismus) hoặc quá to
(gigantismus).
1.1.3.2. Yếu tố bên ngoài
Trong chăn nuôi lợn ngoài việc cải tiến giống thì thức ăn dinh dưỡng là
một yếu tố quyết định đến khả năng sinh trưởng và phát triển.
*Vai trò và nhu cầu về protein, axit amin đối với lợn nuôi thịt.
Theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985) [3]: Protein là nhóm chất
hữu cơ có phân tử lượng cao và có chứa nitơ. Protein đảm nhiệm nhiều chức
năng quan trọng và là nguồn nguyên liệu cấu tạo nên tế bào. Quá trình sinh
trưởng của lợn là quá trình tăng lên của khối lượng protein, hàm lượng protein
trong cơ thể rất cao. Các cơ quan bộ phận khác nhau có hàm lượng protein
không giống nhau. Protein có nhiều nhất trong cơ từ 30 – 35% so với tổng
lượng protein trong cơ thể.
Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tích
14
Năng lượng có ảnh hưởng quyết định đến việc sử dụng vật chất dinh
dưỡng trong thức ăn phù hợp với từng loài, giống, tuổi, chức năng sản xuất.
Năng lượng trong thức ăn được sử dụng cho các hoạt động sống của cơ
thể và hình thành nên các hợp chất hữu cơ của tế bào. Chất cung cấp năng
lượng chu yếu là gluxit như: Tinh bột, đường, xơ.... Hàng ngày gluxit đảm
bảo từ 70-80% nhu cầu dinh cầu vềdưỡng của lợn. Nếu thiếu lợn sẽ gầy yếu,
còi cọc, chậm lớn.
*Vai trò và nhu cầu về khoáng chất đối với lợn nuôi thịt.
Theo Từ Quang Hiển và cs (2003) [5] gia súc non cần được cung cấp
đầy đủ khoáng chất để phát triển bộ xương và đảm bảo cho các quá trình xảy ra
trong cơ thể. Nếu tính theo mức tăng trọng thì khoáng chất chiếm 3 - 4% khối
lượng cơ thể tăng. Nếu so với bộ xương thì khoáng chất chiếm 26% khối lượng
xương tăng.
Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn của gia súc non tốt hơn
gia súc trưởng thành. Quá trình trao đổi khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi
và phot pho xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non. Khi gia súc còn non khả năng tích
luỹ canxi, phot pho cao. Tuổi càng tăng, khả năng tích luỹ giảm. Nhìn chung,
gia súc non yêu cầu can xi lớn hơn phot pho, càng lớn và trưởng thành nhu
cầu can xi giảm, nhu cầu phot pho tăng lên. Để đảm bảo cho quá trình tiêu
hoá hấp thu và sử dụng canxi, photpho được tốt, tránh được hiện tượng còi
xương. Ở gia súc non cần chú ý cung cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho (đối
với gia súc non tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1,5-2/1).
- Những nguyên tố đa lượng: Ca, P, Na, Cl, Mg, S…
- Những nguyên tố vi lượng: Fe, Cu, Mn, Co, Zn, I….
* Canxi và phot pho: Trong các nguyên tố đa lượng, can xi và phot pho
còn được gọi là những nguyên tố cơ sở. Phần lớn chúng tham gia vào cấu trúc
hormon được sản sinh ra Ca từ xương được huy động để đáp ứng nhu cầu của
16
cơ thể. Bởi vì Ca và P kết hợp trong xương nên cả P cũng bị huy động và bài
tiết ra ngoài. Khi tuyến giáp trạng hoạt động quá mạnh, Ca của xương hoạt
động quá mức làm cho xương bị mỏng và tạo nên các lỗ hổng ở mô xương. Tuyến
giáp cũng đóng vai trò điều hòa quan trọng trong sự điều hòa số lượng Ca hấp thu
ở ruột non bởi ảnh hưởng của sự sản xuất 1,25 dihydroxycholecalciferol, một dẫn
xuất của vitamin D có liên quan đến sự hình thành protein liên kết Ca.
Ca có tác dụng hoạt hóa nhiều enzym như lipaza, succinicdehydrogennaza
adenosintriphosphataza và nhiều enzym proteolytic.
Ca điều hòa tính nhạy cảm (dễ bị kích thích) của thần kinh và cơ. Khi
nồng độ Ca giảm làm giảm tính nhạy cảm của các sợi thần kinh.. Khi nồng độ
Ca cao hơn bình thường thì có tác dụng ngược lại và làm cho thần kinh và cơ
nhạy cảm quá mức.
Ngoài ra, Ca còn tham gia quá trình đông máu và làm đông vón cazein
trong sữa. Ca còn tham gia vào việc điều hòa áp suất thẩm thấu và cân bằng
axit-bazơ.
Trao đổi Ca: Ca thức ăn được hấp thu chủ yếu qua tá tràng và không
tràng bằng cả hai con đường bị động (khuyếch tán) và chủ động (năng lượng
làm chất mang). Vitamin D protein cũng là chất mang quan trọng trong hấp
thu Ca chủ động. Khi tăng hàm lượng Ca trong khẩu phần làm giảm tỷ lệ hấp
thu Ca. Một vài axit amin (Lysin) kích thích sự hấp thu Ca nhưng axit phytic
và oxalic thì làm giảm hấp thu Ca do hình thành các phức hợp không tan Caoxalat và Ca-phytat.
Ở gia súc sinh trưởng Ca tích lũy trong xương và các tổ chức khác
nhiều hơn lượng mất qua phân, nước tiểu và mồ hôi. Ở gia súc trưởng thành
không mang thai, không nuôi con lượng Ca ăn vào bằng mất đi nếu nhu cầu
trao đổi được thỏa mãn.
18
- "Ăn bậy" (Pica) như ăn gỗ, giẻ rách, xương và những vật lạ khác. Tuy
nhiên bệnh này không phải là dấu hiệu đặc biệt do thiếu P mà còn có thể gây
ra do những nguyên nhân khác.
- Triệu chứng kinh niên như khớp xương cứng và thịt nhão.
- Giảm sản lượng sữa, giảm tỷ lệ thụ thai, sinh trưởng chậm. Nhiều tài
liệu cho là bổ sung P làm tăng tỉ lệ thụ thai của bò chăn thả.
- Triệu chứng thiếu P thể hiện phổ biến trên cừu nhiều hơn bò vì cừu có
thói quen chọn lựa khi ăn. Cừu thường chọn những phần thực vật non đang
sinh trưởng-phần chứa hàm lượng P thấp hơn.
Nguồn P: Hạt cốc, sữa, bột cá và bột thịt có xương là nguồn cung cấp P
rất tốt, trong khi đó cỏ khô và rơm rạ chứa rất ít P. Cám gạo chứa nhiều P
trong khi đó bột sắn chứa rất ít.
P cũng có vấn đề khá quan trọng về hiệu suất sử dụng. Phần lớn P ở hạt
cốc và nhất là cám ở dạng phytate, là muối của axit phytic (este của hexa P
của inositol). Axit phytic kết hợp với Ca và Mg thành muối không tan.
So với photphat vô cơ như dicanxi photphat thì mức độ sử dụng phytat
canxi ở gà con là 10%, gà đẻ 50%, lợn 30% và nhai lại gần 90%. Bò sử dụng
được nhiều phytat nhờ có phytaza lấy từ thức ăn thực vật.
* Natri, Clo và Kali: Hai nguyên tố natri và kali là những nguyên tố đối
kháng với canxi, chúng có tầm quan trọng rất lớn đối với sự sống, natri, kali
có trong các hợp chất clorua, cacbonat, photphat, sunphat… một số ít ở dạng
tự do hoặc ion hoá, một số ít khác ở dạng liên kết với protein. Nhiệm vụ của
natri là ở trong máu, còn của kali là ở trong mô bào. Cả hai nguyên tố đều có
khả năng hút nước và vì vậy chúng dễ gây ra chứng thuỷ thũng. Natri của
máu còn tham gia vào sự vận chuyển cacbonic của phổi. Trong dịch ruột natri
đóng vai trò quyết định trong nhiệm vụ trung hoà môi trường axit.