ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-----***-----
TÔ BÌNH DƢƠNG
PHÂN BỔ NGUỒN NHÂN LỰC CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ:
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội, 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
TÔ BÌNH DƢƠNG
PHÂN BỔ NGUỒN NHÂN LỰC CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ:
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN CẨM NHUNG
Thực tế luôn cho thấy, sự thành công nào cũng gắn liền với những sự hỗ trợ,
giúp đỡ của những người xung quanh dù cho sự giúp đỡ đó ít hay nhiều, trực tiếp
hay gián tiếp. Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu làm luận văn đến nay, em đã nhận
được sự quan tâm, chỉ bảo, của thầy cô. Cùng gia đình và bạn bè đã luôn động viên,
khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất để em có thể học tập, nghiên cứu.
Với tấm lòng biết ơn vô cùng sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất
từ đáy lòng đến quý Thầy Cô ở khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế - Trường Đại
học Kinh tế (ĐHQGHN) đã cùng với những tri thức và tâm huyết của mình để
truyền đạt cho chúng em trong vốn kiến thức quý báu suốt quá trình học tập tại
trường.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Cẩm Nhung đã tận tâm chỉ
bảo hướng dẫn em qua từng buổi học, từng buổi nói chuyện, thảo luận về đề tài
nghiên cứu. Nhờ có những lời hướng dẫn, dạy bảo đó, bài luận văn của em đã hoàn
thành một cách tốt nhất. Một lần nữa em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô.
Với điều kiện, vốn kiến thức cùng trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn
còn nhiều hạn chế nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy
em rất mong nhận được sự chỉ bảo, những ý kiến đóng góp của Thầy, Cô để em
nâng cao kiến thức của bản thân, phục vụ tốt cho quá trình học tập và làm việc của
em sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2018
Tác giả
Tô Bình Dƣơng
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
3.1.4. Hiệu quả phân bổ nguồn nhân lực ở Trung Quốc ................................ 34
3.2. Kinh nghiệm về phân bổ nguồn nhân lực ở Nhật Bản ............................... 38
3.2.1. Vai trò của nguồn nhân lực ở Nhật Bản................................................ 38
3.2.2. Cơ chế phân bổ nguồn nhân lực ở Nhật Bản ........................................ 39
3.2.3. Thực trạng phân bổ nguồn nhân lực ở Nhật Bản ................................. 42
3.2.4. Hiệu quả phân bổ nguồn nhân lực ở Nhật Bản .................................... 45
3.3. Kinh nghiệm về phân bổ nguồn nhân lực ở Singapore .............................. 47
3.3.1. Vai trò của nguồn nhân lực ở Singapore ............................................... 47
3.3.2. Cơ chế phân bổ nguồn nhân lực ở Singapore ....................................... 50
3.3.3. Thực trạng phân bổ nguồn nhân lực ở Singapore ................................ 52
3.3.4. Hiệu quả phân bổ nguồn nhân lực ở Singapore ................................... 56
CHƢƠNG 4. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM ......... 58
4.1. Đánh giá về phân bổ nguồn nhân lực ở Việt Nam ...................................... 58
4.1.1. Thuận lợi.................................................................................................. 58
4.1.2. Hạn chế .................................................................................................... 59
4.1.3. Đánh giá chung ....................................................................................... 62
4.2. Các chính sách, định hƣớng của Chính Phủ ............................................... 68
4.2.1. Vai trò của Chính phủ trong quá trình phân bổ nguồn nhân lực ........ 68
4.2.2. Hàm ý cho Việt Nam ............................................................................... 71
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 77
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
STT Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
NLLĐ
Nguồn lực lao động
7
QĐ-TT
Quyết định – Thủ tướng
8
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
STT Ký hiệu
1
2
Nguyên nghĩa tiếng Anh
Nguyên nghĩa tiếng Việt
AEC
ASEAN Economic Community
Cộng đồng kinh tế ASEAN
Chỉ số phát triển con người
ILO
International
6
7
Labour Tổ chức lao động quốc tế
Organization
USD
United States Dollar
TPP
Trans-Pacific
8
Đô la Mỹ
Partnership Hiệp định đối tác kinh tế
chiến lược xuyên Thái Bình
Agreement
Dương
9
25
Quốc giai đoạn 2014 - 2016
2
Bảng 3.2
Phân bố lao động trong các ngành kinh tế của
27
Trung Quốc giai đoạn 2014 – 2016
3
Bảng 3.3
Tỷ trọng của các ngành kinh tế trong tổng GDP tính
31
theo giá hiện hành
4
Bảng 3.4
GDP bình quân đầu người của Trung Quốc giai
32
đoạn 2014 – 2016
Phân bố lao động trong các ngành kinh tế của
49
Singapore giai đoạn 2014 – 2016
9
Bảng 3.9
Tỷ trọng của các ngành kinh tế trong tổng GDP của
52
Singapore tính theo giá hiện hành
10
Bảng 3.10
GDP bình quân đầu người của Singapore giai đoạn
52
2014 – 2016
DANH MỤC HÌNH
STT Hình
1
Hình 1
đường phát triển như thế đã dẫn tới sự trì trệ trong nền kinh tế các nước, trong dài
hạn sẽ xuất hiện tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, tốc độ tăng năng
suất lao động và hiệu quả các nguồn lực thấp, trình độ công nghệ lạc hậu chậm
được cải thiện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, sức cạnh tranh của nền kinh tế
thấp... Tóm lại, kiểu phát triên kinh tế này không mang lại những kết quả bền vững.
Những bài học kinh nghiệm của các nước đang phát triển trong những năm qua
cũng cho thấy, tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử, chính trị, xã hội, đặc biệt
là đặc điểm của các nguồn lực mà mỗi nước, trong từng hoản cảnh cụ thể cần lựa
chọn cho mình mô hình phát triển kinh tế thích hợp để có thể thành công.
Con đường để khắc phục những hạn chế của phát triển kinh tế dựa vào việc
sử dụng ngày càng tăng số lượng các yếu tố nguồn lực là thực hiện phát triển kinh
tế bền vững dựa trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nhân tố phát triển thông qua việc
nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của nền kinh tế. Phát triển kinh tế bền vững dựa
vào những nguồn lực nào, phân bổ các nguồn lực ra sao. Vấn đề phân bổ nguồn lực
1
cho phát triển kinh tế đã được nghiên cứu bởi tác giả trong và ngoài nước dưới các
khía cạnh khác nhau.
Trong xã hội hiện đại, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất đối với
sự phát triển của bất kì quốc gia nào, bởi phải có những con người đủ khả năng,
trình độ mới khai thác tốt các nguồn lực khác. Chính vì thế, nhiều nước trên thế giới
đã có những chính sách phát triển nguồn nhân lực trong nước và thu hút nguồn nhân
lực chất lượng cao từ các nước khác.
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cũng đã cho thấy, để đạt được sự phát triển
kinh tế cao và ổn định, cần phải nâng cao chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật, phải
đầu tư vào giáo dục – đào tạo; chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao chính là
tiền đề thành công của các nền công nghiệp mới ở Châu Á. Các nền công nghiệp
hóa mới (Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông) và các quốc gia có tốc độ
khu vực kinh tế.
Phân tích và đánh giá cơ chế phân bổ nguồn nhân lực của cac quốc gia Trung
Quốc, Nhật Bản, Singapore theo các tiêu chí hiệu quả (kinh tế, xã hội-công bằng,
môi trường).
Đề xuất quan điểm và giải pháp phân bổ một cách hiệu quả (kinh tế, xã hộicông bằng, môi trường) nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ở
Việt Nam trong thời gian tới.
3.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá và luận giải được những tác động, vai trò, thuận lợi và hạn chế trong
quá trình phân bổ nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới để từ đó đưa ra
những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Từ đó sẽ hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản các yếu tố ảnh
hưởng đến nguồn nhân lực và phân bổ nguồn nhân lực. Thu thập dữ liệu và phân
tích các khía cạnh của nguồn nhân lực nhằm làm rõ thực trạng phân bổ nguồn nhân
lực hiện nay ở Việt Nam. Đồng thời đưa ra những ưu, nhược điểm để đưa ra giải
pháp phân bổ nguồn nhân lực hợp lý và đạt hiệu quả cao.
4.
Câu hỏi nghiên cứu
3
Thực trang phân bổ nguồn nhân lực để góp phần phát triển kinh tế của các
nước trên thế giới như nào?
Nam” của hai tác giả Cảnh Chí Hoàng và Trần Vĩnh Hoàng (2013) bài viết này
khảo sát kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở một số quốc gia phát triển có
nguồn nhân lực chất lượng cao như Mỹ, Nhật và một số nước phát triển ở trình độ
thấp hơn, có những đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa gần giống Việt Nam như
Trung Quốc, Singapore đã đề ra được chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực phù hợp. Kinh nghiệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nước trên
sẽ giúp Việt Nam rút ra được những bài học kinh nghiệm hữu ích, đặc biệt trong
điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.
Từ các bài nghiên cứu của các tác giả về các khía cạnh khác nhau với cùng
mục tiêu tăng trưởng và phát triển nền kinh tế với những kết quả có được cùng với
những hạn chế còn tồn tại đối với đề tài. Bài nghiên cứu này tác giả sẽ đi phân tích
cụ thể về chủ thể nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế. Thực trạng phân bổ nguồn
nhân lực, cơ chế phân bổ nguồn nhân lực cùng với xu hướng phân bổ nguồn nhân
lực của một số quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới để từ đó có những
nhận xét, đánh giá đối với thực trạng hiệu quả phân bổ nguồn nhân lực, cơ chế phân
bổ nguồn nhân lực của Việt Nam từ đấy chúng ta có thể hình dung được rõ ràng hơn
về nguồn nhân lực của Việt Nam có những ưu nhược điểm ra sao.
1.2.
Cơ sở lý luận về phân bổ nguồn nhân lực
1.2.1. Khái niệm về nguồn nhân lực
"Nguồn lực con người" hay "nguồn nhân lực”, giống như một số nguồn lực
khác như: nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực công nghệ… nguồn
nhân lực là một nguồn lực đặc biệt không thể thiếu, xem xét con người với tư cách
là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Cho đến nay, khái niệm về nguồn
lực con người (nguồn nhân lực) đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau do
được nghiên cứu và xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau.
7
8
là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số,
có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực
dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo
không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào
tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ.
Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động
thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông
qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người. Con người
với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được
trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành
nguồn vốn vô cùng to lớn“.
Nếu như dựa vào khả năng lao động của con người và giới hạn của tuổi lao
động thì nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động mà không kể tới trạng thái có việc làm hay không có việc làm.
Dựa vào độ tuổi lao động và trạng thái không hoạt động thì nguồn lao động
bao gồm những người trong độ tuổi lao động nhưng vì lý do khác chưa tham gia
và công việc xã hội như: nội trợ, học sinh sinh viên, người thất nghiệp, bộ đội xuất
ngũ, lao đông hợp tác với nước ngoài đã hết hạn về nước , những người hưởng lợi
tức và những đối tượng khác ngoài những đối tượng trên.
Hay nguồn nhân lực bao gồm cả lực lượng lao động giản đơn, lao động kỹ
thuật, lao động trí óc.
Với những cách tiếp cận trên, có thể đưa ra điểm chung của nguồn nhân lực
đều nói lên khả năng lao động của xã hội trong độ tuổi lao động và có những đòi
hỏi về trình độ cũng như năng lực để thực sự trở thành đợn vị cấu thành chất xám
trong kết quả sản xuất và hoạt động của xã hội. Như vậy, nguồn nhân lực không
chỉ được xem xét ở số lượng mà còn ở chất lượng. Xem xét dưới các góc độ khác
nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái
trình độ, năng lực phát triển và tăng trưởng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Điều
đó càng được thể hiện rõ nét hơn trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay khi mà nền
kinh tế nào dựa nhiều vào tri thức sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển, duy trì được tốc
10
độ phát triển kinh tế cao, sử dụng hợp lý và hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển
đất nước. Các lý thuyết kinh tế hiện đại cũng chỉ ra rằng động lực quan trọng nhất
của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là yếu tố con người.
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển
linh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong
các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết
định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay.
Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại
nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn
lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.
Như chúng ta đã biết, xét đến cùng yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết định sự
vận động, phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất bao
gồm sức lao động và tư liệu sản xuất trong đó người lao động là yếu tố quan trọng
hàng đầu. Ph. Ăngghen đã từng nhấn mạnh rằng muốn nâng nền sản xuất lên thì
một mình tư liệu lao động, dù là tư liệu cơ giới hay bất kỳ tư liệu nào khác cũng
không đủ mà cần có những người có năng lực tương xứng sử dụng những tư liệu đó.
Như vậy vai trò của nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của con người
trong sự phát triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của kinh tế xã hội.
Con người là động lực của sự phát triển: Các nguồn lực khác như vốn, tài
nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, vị trí địa lý…là những khách thể, chịu sự khai
thác cải tạo của của con người. Các nguồn lực này tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm
năng, muốn phát huy tác dụng phải có sự kết hợp với nguồn lực con người, thông
qua hoạt động có ý thức của con người. Con người với tất cả những năng lực, phẩm
lực lượng lao động quyết định. Thêm vào đó, trong thời đại của cách mạng
KH&CN, yếu tố thông tin và tri thức trở thành thành phần cốt lõi của cả hệ thống
kinh tế hiện đại. Số liệu thống kê cho thấy, phần đóng góp của thông tin, tri thức
trong thu nhập quốc dân của Mỹ là 47,4%, Anh là 45,8%, Đức là 40%. Vì vậy,
không phải ngẫu nhiên mà Gary Becker, người được giải thưởng Noben về kinh tế
năm 1992, đã khẳng định rằng “không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như
đầu tư vào nguồn lực con người, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục”. Hiệu quả đầu tư
phát triển con người luôn cao hơn hiệu quả đầu tư vào các lĩnh vực khác, tiết kiệm
12
được việc sử dụng và khai thác các nguồn lực khác, và có độ lan toả đồng đều hơn
so với các hình thức đầu tư khác.
Nền kinh tế thế giới đang dần chuyển sang kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu
hoá đang diễn ra sâu rộng và nhanh chóng thì vai trò quyết định của nguồn nhân lực
đối với phát triển càng rõ nét hơn. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế gần đây đã chỉ
ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất
ba trụ cột cơ bản là: áp dụng công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó, yếu tố và cũng là động lực quan trọng
nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn
nhân lực chất lượng cao. Trong nền kinh tế toàn cầu hoá đầy biến động và cạnh
tranh quyết liệt, thì ưu thế cạnh tranh luôn nghiêng về các quốc gia có nguồn nhân
lực chất lượng cao. Bởi vậy, hiện nay trong chiến lược phát triển của mình, nhiều
quốc gia đã xác định phát triển nguồn vốn nhân lực là yếu tố cạnh tranh cơ bản
nhất.
Tầm quan trọng của nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở nhận thức lý luận,
ở tư duy của các nhà lãnh đạo mà luôn luôn được khẳng định trong cuộc sống. Các
nguồn lực để hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đều quan trọng, nhưng xét
đến cùng, nếu thiếu sự hiện diện của trí tuệ và lao động của con người, thì mọi
nguồn lực khác đều trở nên vô nghĩa. Sự khẳng định này không chỉ nói lên vai trò
nhanh quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo
hướng CNH, HĐH cả về quy mô và cường độ. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động càng
tiến bộ càng đòi hỏi khả năng thích ứng cao hơn của nguồn nhân lực cả về trình độ
học vấn, trí tuệ, năng lực sáng tạo, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề
nghiệp, thể lực cũng như phẩm chất tâm sinh lý, ý thức, lối sống, đạo đức… Đó là
mối quan hệ biện chứng nhân quả giữa chất lượng nguồn nhân lực (kết quả của phát
triển nguồn nhân lực) với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của mỗi
quốc gia và vùng lãnh thổ.
14
Như vậy có thể nói nguồn nhân lực là một nguồn lực có vai trò quan trọng
quyết định tới sự phát triển của kinh tế xã hội. Đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư
mang lại hiệu quả lâu dài và bền vững nhất.
Ta có thể thấy được ba vai trò chính của nguồn nhân lực đó là:
Thứ nhất: Nguồn lực lao động phát hiện, sáng tạo ra các nguồn lực phát
triển: con người là chủ thể phát hiện, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên để
tạo nên tăng trưởng kinh tế; nguồn lực vốn là kết qua lao động và tích lũy của con
người mà có; nguồn lực khoa học – công nghệ cũng do con người sáng tạo ra.
Thứ hai: Nguồn lực lao động đóng vai trò quyết định trong việc sử dụng các
nguồn lực khác. Chất lượng nguồn lực lao động là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả sử dụng ba nguồn lực còn lại (gồm Nguồn lực vốn, KH&CN, tài nguyên
thiên nhiên). Nói đến NLLĐ là nói đến tổng thể NLLĐ của một quốc gia, trong đó
NLLĐ có trình độ cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là NLLĐ tinh tuý
nhất, có chất lượng nhất và có vai trò quyết định sự thành công đối với phát triển
kinh tế của một đất nước.
Thứ ba: NLLĐ là động lực của phát triển kinh tế. NLLĐ vừa có nhu cầu tự
thân để phát triển với yêu cầu ngày càng cao, phong phú và chủ thể sáng tạo công
nghệ, điều chỉnh cơ cấu kinh tế để thỏa mãn các nhu cầu xã hội.
nguồn nhân lực mới hợp lý hơn, hiệu quả hơn và phù hợp hơn với tình hình kinh tế,
xã hội, văn hóa, chính trị của mỗi quốc gia.
Cơ chế phân bổ nguồn nhân lực: Tùy từng thời kỳ, bản chất, đặc điểm kinh
tế-xã hội, mục tiêu phát triển hay lịch sử phát triển của từng quốc gia sẽ có những
cơ chế phân bổ nguồn nhân lực cụ thể khác nhau để đảm bảo được mục tiêu phát
triển bền vững mà mỗi quốc gia đề ra cho con đường phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia, dân tộc mình. Từ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội chiến lược ngắn
hạn và dài hạn sẽ là căn cứ quan trọng làm cơ sở cho việc phân bổ nguồn nhân lực,
16
kèm theo đó là các kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực sao cho hợp lý và hiệu quả tối đa.
Trong nền kinh tế thị trường thì cơ chế thị trường và sự quản lý điều tiết từ
Nhà nước sẽ là cơ sở chính trong phân bổ các nguồn lực nói chúng và nguồn nhân
lực nói riêng. Chúng ta biết rằng cơ chế thị trường là quá trình tương tác lẫn nhau
giữa các chủ thể kinh tế trong quan hệ cung cầu của thị trường trong việc hình thành
lên giá cả , phân phối tài nguyên, xác định khối lượng và cơ cấu sản xuất. Sự tương
tác của các chủ thể tạo nên những điều kiện nhất định để nhà sản xuất, với hành vi
tối đa hóa lợi nhuận, sẽ căn cứ vào giá cả thị trường để quyết định ba vấn đề: sản
xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai. Ngược lại, hoạt động của các chủ
thể tạo nên sự tương tác nói trên. Như vậy, cơ chế thị trường là hình thức tổ chức
kinh tế, trong đó các quan hệ kinh tế tác động lên mọi hoạt động của nhà sản xuất
và 1 người tiêu dùng trong quá trình trao đổi. Theo lý thuyết của các nhà kinh tế học
thì cơ chế thị trường là cách thức tự động phân bổ tối ưu các nguồn lực của nền kinh
tế. Đó là vì, khi mỗi nhà sản xuất đều căn cứ vào giá cả thị trường để có quyết định
về sản xuất, sẽ không có sản xuất thừa, cũng sẽ không có sản xuất thiếu. Phúc lợi
kinh tế được đảm bảo do không có tổn thất xã hội. Đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế
thị trường là động lực lợi nhuận, nó chỉ huy hoạt động của các chủ thể. Trong kinh