GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH
I. Vị trí môn học:
Môn học Tài chính-Tiền tệ hình thành trên cơ sở tổng hợp có chọn lọc những
nội dung chủ yếu của hai môn học: “Tài chính học” và “Lưu thông Tiền tệ-Tín
dụng” của chuyên ngành Tài chính và Ngân hàng.
Những kiến thức của môn học này mang tính tổng hợp, có liên quan trực tiếp
đến điều kiện kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường có điều tiết. Do vậy nó trở
thành môn học cơ sở cho tất cả sinh viên đại học thuộc các ngành kinh tế.
Môn học này cung cấp cho sinh viên những kiến thức, những khái niệm và
những nội dung chủ yếu về Tài chính, Tiền tệ, Tín dụng và Ngân hàng. Nó có tác
dụng làm cơ sở bổ trợ cho việc nghiên cứu các môn kinh tế ngành.
Giáo trình là công trình nghiên cứu của các giáo viên Bộ môn Tài chính-
Ngân hàng, được các giáo viên trực tiếp biên soạn:
- Ths Trần Ái Kết: biên soạn các chương I, II, III, VI, IX
- Ths Phan Tùng Lâm: biên soạn chương IV
- Nguyề
n Thị Lương, Đoàn Thị Cẩm Vân: biên soạn chương V
- Phạm Xuân Minh: biên soạn chương VII và VIII
II. Phân phối chương trình:
Chương trình môn học được phân phối như sau:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về tiền tệ
Chương II: Những vấn đề cơ bản về tài chính
Chương III: Những vấn đề cơ bản về tín dụng
Chương IV: Ngân sách Nhà nước
Chương V: Thị trườ
ng tài chính và các định chế tài chính trung gian
Chương VI: Tài chính doanh nghiệp
Chương VII: Hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Chương VIII: Lạm phát và chính sách tiền tệ
nhờ nó người ta có thể mua được hầu hết mọi thứ. Theo Charles Rist thì cái thật
quan trọng đối với nhà kinh tế không phải là sự thố
ng nhất về một định nghĩa thế
nào là tiền tệ mà phải biết và hiểu hiện tượng tiền tệ.
II. CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ:
Nghiên cứu lịch sử phát sinh và phát triển của tiền tệ cho thấy tiền tệ đã trải
qua nhiều hình thái: hoá tệ, tín tệ và bút tệ...
1
1. Hoá tệ:
Một hàng hoá nào đó giữ vai trò làm vật trung gian trao đổi được gọi là hoá tệ,
hoá tệ bao gồm hoá tệ không kim loại và hoá tệ bằng kim loại.
– Hoá tệ không kim loại.
Sản xuất và trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển. Sự trao đổi không còn
ngẫu nhiên, không còn trên cơ sở của định giá giản đơn. Trao đổi đã vượt khỏi cái
khung nhỏ hẹp một vài hàng hoá, giới hạn trong một vài địa phương. Sự trao đổi
ngày càng nhiều hơn đ
ó giữa các hàng hoá đòi hỏi phải có một hàng hoá có tính
đồng nhất, tiện dụng trong vai trò của vật ngang giá, có thể tạo điều kiện thuận lợi
trong trao đổi, và bảo tồn giá trị. Những hình thái tiền tệ đầu tiên có vẻ lạ lùng,
nhưng nói chung là những vật trang sức hay những vật có thể ăn. Thổ dân ở các bờ
biển Châu Á, Châu Phi, trước đây đã dùng vỏ sò, vỏ ốc làm tiền. Lúa mì và đại
m
ạch được sử dụng ở vùng Lưỡng Hà, gạo được dùng ở quần đảo Philippines.
Trước Công nguyên, ở Trung Quốc kê và lụa được sử dụng làm tiền…
Tiền tệ bằng hàng hoá có những bất tiện nhất định của nó trong quá trình phục
vụ trao đổi như không được mọi người mọi nơi chấp nhận, dễ hư hỏng, không đồng
nhất … do đó dẫn đến việc sử
dụng hoá tệ bằng kim loại.
– Sự gia tăng dân số và phát triển đô thị ở các nước Châu Âu từ thế kỷ XIII
đưa đến sự gia tăng nhu cầu trao đổi. Các mỏ vàng ở Châu Âu không đủ cung
ứng.
– Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bạch kim loại bị mất giá, trong thời gian
dài vàng, bạc song song được sử dụng làm tiền; các nước Châu Âu sử dụng cả vàng
lẫn bạc. Chỉ các nước Châu Á mới sử dụng bạc (do không đủ vàng) đến cuối thế kỷ
XIX bạc ngày càng mất giádo vậy các nước Châu Âu và cả Hoa Kỳ quyết định và
sử dụng vàng, các nước Chấu Á như Nh
ật Bản, Ấn Độ, Trung Hoa do lệ thuộc sự
nhập cảng nguyên liệu máy móc… từ Phương Tây nên cũng bãi bỏ bạc sử dụng
vàng. Ở Đông Dương, bạc được sử dụng làm tiền từ 1885 đến 1931. Đến năm 1931
đồng bạc Đông Dương từ bản vị bạc sang bản vị vàng, có thể cho rằng, khoảng từ
1935 chỉ còn một kim loại quý được tất cả các n
ước chấp nhận làm tiền trên thế giới
là vàng.
2. Tín tệ:
Tín tệ được hiểu là thứ tiền tự nó không có giá trị nhưng do sự tín nhiệm của
mọi người mà nó được lưu dụng. Tín tệ có thể bao gồm tiền bằng kim loại và tiền
giấy.
3
– Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền tệ thuộc hình
thái hoá tệ. Ở hình thái này giá trị nội tại của kim loại thường không phù hợp với
giá trị danh nghĩa.
– Tiền giấy bao gồm tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán.
– Tiền giấy khả hoán là thứ tiền được lưu hành thay cho tiền vàng hay tiền bạc
ký thác ở ngân hàng. Bất cứ lúc nào mọi người cũ
ng có thể đem tiền giấy khả hoán
đó đổi lấy vàng hay bạc có giá trị tương đương với giá trị được ghi trên tiền giấy
khả hoán đó.
+ Điều kiện khả hoán: có thể đổi lấy bất cứ lúc nào tại ngân hàng phát hành
+ Điều kiện dự trữ vàng làm đảm bảo: ban đầu là 100% sau còn 40%
+ Điều kiện phải cho Nhà nước vay không tính lãi khi cần thiết.
– Tiền giấy bất khả hoán là thứ tiền giấy bắt buộc lưu hành, mọi người không
thể đem tiền giấy này đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc.
Nguồn gốc của tiền bất khả hoán là bởi những nguyên nhân sau:
+ Thế chiến thứ nhất đã làm cho các quốc gia tham chiến không còn đủ vàng
để đổi cho dân chúng. Nước Anh từ năm 1931 đã cưỡng bức lưu hành tiền giấy bấ
t
khả hoán, nước Pháp năm 1936.
+ Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 dẫn đến ở nước Đức mọi người đua
nhau rút tiền, do đó Ngân hàng Trung ương Đức đã phải dùng vàng trả nợ nước
ngoài và do đó số trữ kim gần như không còn. Tiến sĩ Schacht (1933 – 1936) đã áp
dụng chính sách tiền tài trợ bằng cách phát hành trái phiếu, để tài trợ sản xuất và
những chương trình kinh tế, xã hội l
ớn. Biện pháp này làm giảm 50% thất nghiệp,
sản xuất tăng 41% (1934). Từ đó, nhiều nhà kinh tế cho rằng giá trị tiền tệ không
phải dựa vào dự trữ vàng như các quan điểm trước đây.
3. Bút tệ:
Bút tệ là một hình thái tiền tệ được sử dụng bằng cách ghi chép trong sổ sách
kế toán của Ngân hàng. Bút tệ xuất hiện lần đầu tại nước Anh, vào giữa thế kỷ XIX.
Để tránh những quy định chặt chẽ trong việc phát hành giấy bạc, các nhà ngân hàng
Anh đã sáng chế ra hệ thống thanh toán qua sổ sách ngân hàng.
Bút tệ ngày càng có vai trò quan trọng, ở những quốc gia có nền kinh tế phát
triển và hệ thống ngân hàng phát triển, người dân có thói quen sử dụng bút t
ệ.
4. Tiền điện tử:
Có nhiều tên gọi cho thứ tiền này: tiền nhựa, tiền thông minh,… Đây có phải
là một hình thái tiền tệ không là vấn đề chưa thống nhất. Một số quan điểm cho rằng
đây chỉ là “phương tiện chi trả mới”, sự “chuyển dịch vốn bằng điện tử”.
- Có thể chia nhỏ được: để tạo thuận lợi cho việc đổi chác giữa các hàng hoá
có giá trị khác nhau;
- Dễ vận chuyển: tiền tệ phải đủ gọn nhẹ để dễ dàng trong việc trao đổi hàng
hoá ở khoảng cách xa;
- Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng;
6
- Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng: để số lượng của nó đủ dùng trong
trao đổi;
- Có tính đồng nhất: các đồng tiền có cùng mệnh giá phải có sức mua ngang
nhau.
2. Chức năng đơn vị đánh giá.
Chức năng thứ hai của tiền là một đơn vị đánh giá, tức là tiền tệ được sử
dụng làm đơn vị để đo giá trị của các hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế. Qua việc
thực hiện chức năng này, giá trị của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện ra bằng
tiền, như việc đo khối kượng bằng kg, đo độ dài bằng m…nhờ đó mà việc trao đổi
hàng hoá được diễn ra thuận lợi hơn.
Nếu giá trị hàng hoá không có đơn vị đo chung là tiền, mỗi hàng hoá sẽ được
định giá bằng tất cả các hàng hoá còn lại, và như vậy số lượng giá các mặt hàng
trong nền kinh tế ngày nay sẽ nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc
tiêu dùng hàng hoá, do phần lớn thời gian đã dàng cho việc đọc giá hàng hoá. Khi
giá của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hi
ện bằng tiền, không những thuận tiện cho
người bán hàng hóa mà việc đọc bảng giá cũng đơn giản hơn rất nhiều với chi phí
thời gian ít hơn sử dụng cho các giao dịch.
Là một đơn vị đánh giá, nó tạo cơ sở thuận lợi cho việc sử dụng tiền làm
phương tiện trao đổi, nhưng cũng chính trong quá trình trao đổi sử dụng tiền làm
trung gian, các tỉ lệ trao đổi được hình thành theo t
ập quán - tức là ngay từ khi mới
ra đời, việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi đã dẫn tới việc dùng tiền làm đơn
Việc thực hiện chức năng phươ
ng tiện dự trữ giá trị của tiền tốt đến đâu tuỳ
thuộc vào sự ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định theo khối
lượng hàng hoá mà nó có thể đổi được. Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền sẽ
giảm đi và ngược lại. Sự mất giá nhanh chóng của tiền sẽ làm cho người ta ít muốn
giữ nó, điều này thường xảy ra khi l
ạm phát cao. Vì vậy để tiền thực hiện tốt chức
năng này, đòi hỏi sức mua của tiền phải ổn định.
IV. KHỐI TIỀN TỆ
Việc định nghĩa tiền tệ là một phương tiện trao đổi mới chỉ đưa ra một cách
hiểu khái quát về tiền, nó không cho chúng ta biết rõ trong nền kinh tế hiện tại
những phương tiện cụ thể nào được coi là tiền, số lượng của nó là nhiều hay ít. Vì
vậy người ta phải định nghĩa tiền một cách cụ thể hơn bằng việc đưa ra các phép đo
về các khối ti
ền tệ trong lưu thông.
Các khối tiền tệ trong lưu thông tập hợp các phương tiện được sử dụng
chung làm phương tiện trao đổi, được phân chia tuỳ theo “độ lỏng” hay tính thanh
khoản của các phương tiện đó trong những khoảng thời gian nhất định của một quốc
gia. Độ “lỏng” hay tính thanh khoản của một phương tiện trao đổi được hiểu là khả
8
năng chuyển đổi từ phương tiện đó ra hàng hoá, dịch vụ - tức là phạm vi và mức độ
có thể sử dụng những phương tiện đó trong việc thanh toán chi trả.
Các phép đo khối tiền tệ được đưa ra tuỳ thuộc vào các phương tiện được hệ
thống tài chính cung cấp và thường xuyên có sự thay đổi cho phù hợp, nhưng nhìn
chung các khối tiền tệ trong lưu thông bao gồm:
- Khối tiề
n giao dịch (M
1
) gồm những phương tiện được sử dụng rộng rãi
phụ thuộc vào nhận th
ức và khả năng của NHTƯ trong điều hành chính sách thực
tế. Tuy nhiên, sử dụng trực tiếp trong các giao dịch làm phương tiện trao đổi chủ
yếu là khối tiền M
1
, vì vậy định nghĩa M
1
được sử dụng thường xuyên khi nói tới
cung-cầu tiền tệ.
9
V. CUNG - CẦU TIỀN TỆ
1. Cầu tiền tệ
Việc nghiên cứu cầu tiền tệ luôn được các nhà kinh tế quan tâm, và nó có thể
cho những gợi ý về hoạch định chính sách của những người chịu trách nhiệm điều
hành nền kinh tế.
1.1. Một số học thuyết về cầu tiền tệ
Qua thời gian, những học thuyết về cầu tiền tệ đã cho thấy sự tranh luận
không ngừng của các nhà kinh tế về sự ả
nh hưởng của lãi suất đến cầu tiền tệ, và
sau đó là sự ảnh hưởng của tiền tệ đối với hoạt động kinh tế.
1.1.1Quy luật lưu thông tiền tệ của Karl Marx.
Khi nghiên cứu các chức năng của tiền tệ, Karl Marx đưa ra 5 chức năng:
chức năng thước đo giá trị, chức năng phương tiện lưu thông, chức năng phương
tiện cấ
t giữ, chức năng phương tiện thanh toán và chức năng tiền tệ thế giới. Trong
việc nghiên cứu chức năng phương tiện lưu thông của tiền tệ, Marx đã đưa ra quy
luật lưu thông tiền tệ hay quy luật về số lượng tiền cần thiết cho lưu thông với nội
dung:
Số lượng tiền cần thiết thực hiện chức năng phương tiện l
phương tiện Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ
thanh toán
10
Bằng việc đưa ra quy luật về số lượng tiền cần thiết cho lưu thông, Karl
Marx đã chỉ ra rằng nền kinh tế cần một lượng tiền nhất định cho việc thực hiện các
giao dịch về hàng hoá dịch vụ, số lượng tiền này chịu ảnh hưởng của hai yếu tố cơ
bản là tổng giá cả hàng hoá trong lưu thông và tốc độ lưu thông bình quân của tiền
tệ.
Yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ cần thiết cho lưu thông, tức là đòi hỏi
lượng tiền cung ứng phải cân đối với lượng tiền cần cho việc thực hiện các giao
dịch của nền kinh tế.
1.1.2Học thuyết số lượng tiền tệ thô sơ
Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, một số nhà kinh tế mà đại diện tiêu biể
u
là Irving Fisher ở đại học Yale đưa ra học thuyết về số lượng tiền tệ mà nội dung
chủ yếu là một học thuyết vế xác định thu nhập danh nghĩa.
Trong tác phẩm “sức mua của tiền tệ”, nhà kinh tế học Mỹ Irving Fisher đưa
ra mối quan hệ giữa tổng lượng tiền tệ (M) với tổng chi tiêu để mua hàng hoá, dịch
vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế dựa trên một khái niệm gọi là tốc độ lưu thông
tiền tệ theo phương trình trao đổi tính theo giá trị danh nghĩa của các giao dịch
trong nền kinh tế:
PTMV
T
=
Trong đó P là giá bình quân mỗi giao dịch, T là số lượng giao dịch tiến hành
trong một năm và
lượng tiền tệ với nội dung: Số lượng thu nhập danh nghĩa chỉ được xác đị
nh bởi
những chuyển động trong số lượng tiền tệ.
Irving Fisher và các nhà kinh tế cổ điển khác cho rằng tiền lương và giá cả
hoàn toàn linh hoạt nên coi mức tổng sản phẩm được sản xuất trong nền kinh tế (Y)
thường được giữ ở mức công ăn việc làm đầy đủ, do vậy Y có thể được coi một
cách hợp lý là không thay đổi trong thời gian ngắn.
Như vậy: phương trình trao đổi
được viết lại:
P = (V/Y) x M = k x M
Trong đó: k (= V/Y) không thay đổi trong thời gian ngắn và thay đổi chậm
trong thời gian dài. Học thuyết số lượng tiền tệ hàm ý rằng: những thay đổi trong
mức giá cả chỉ là kết quả của những thay đổi trong số lượng tiền tệ thô sơ đã đi đến
vấn đề cầu tiền tệ.
Phương trình trao đổi được viết lại như sau:
PY
V
M
×=
1
Khi thị trường tiền tệ cân bằng: số lượng tiền các tổ chức và cá nhân nắm giữ
(M) bằng số lượng tiền được yêu cầu (MD), vì vậy: PYkPY
V
MD ×=×=
1
- Động cơ dự phòng
Keynes thừa nhận rằng ngoài việc giữ tiền để tiến hành giao dịch hàng ngày,
người ta còn giữ thêm tiền để dùng cho những nhu cầu bất ngờ. Tiền dự phòng được
sử dụng trong các cơ hội mua thuận tiện hoặc cho nhu cầu chi tiêu bất thường.
Keynes tin rằng số tiền dự phòng mà người ta muốn n
ắm giữ được xác định
trước tiên tiên bởi mức độ các giao dịch mà người ta dự tính sẽ thực hiện trong
tương lai và những giao dịch đó tỉ lệ với thu nhập, do đó cần tiền dự phòng tỉ lệ với
thu nhập.
- Động cơ đầu cơ
Keynes đồng ý rằng tiền tệ là phương tiện cất giữ của cải và gọi động cơ giữ
tiền là động cơ đầu cơ. Keynes đồng ý với các nhà kinh tế Cambridge rằng của cải
gắn chặt với thu nhập nên bộ phận cấu thành mang tính đầu cơ của cầu tiền tệ sẽ
liên quan đến thu nhập, nhưng Keynes tin rằng lãi suất đóng một vai trò quan trọng.
Keynes chia các tài sản có thể được dùng cất giữ của cải làm hai loại: tiền và
trái khoán. Keynes giả định rằng lợi tức dự tính về tiền là số không, lợi tức dự tính
đối với trái khoán gồm tiền lãi và tỉ lệ dự tính về khoản lợi vốn.
Keynes giả định rằng: các cá nhân tin rằng lãi suất có chiều hướng quay về
một giá trị thông thường nào đó. Nếu lãi suất thấp hơn giá trị thông thường đó thì
13
người ta dự tính lãi suất của trái khoán tăng lên trong tương lai và như vậy dự tính
sẽ bị mất vốn về trái khoán đó. Kết quả là người ta rất có thể giữ của cải của mình
bằng tiền hơn là bằng trái khoán và cầu tiền tệ sẽ cao. Ngược lại, nếu lãi suất cao
hơn giá trị thông thường đó, cầu tiền tệ sẽ thấp. Từ lập luận trên cầ
u tiền tệ là liên
hệ âm so với mức lãi suất.
Đặt chung ba động cơ với nhau:
Đặt chung ba động cơ giữ tiền vào phương trình cầu tiền tệ, Keynes đã phân
Y
M
PY
V
,
==
Cầu tiền tệ liên hệ âm với lãi suất, nên khi tăng lên,
giảm xuống và
tốc độ tăng lên. Do lãi suất bị biến động mạnh nên thuyết ưa thích tiền mặt chỉ ra
rằng tốc độ cũng biến động mạnh.
)(
Yif ,
Như vậy thuyết của Keynes về cầu tiền tệ cho thấy cầu tiền tệ tỉ lệ với thu
nhập và có liên hệ âm với lãi suất. Với sự biến động mạnh của tốc
độ, học thuyết
này cũng chỉ rằng tiền tệ không phải là nhân tố duy nhất ảnh hưởng đến sự thay đổi
của thu nhập danh nghĩa.
1.1.4 Học thuyết số lượng tiền tệ hiện đại của Friedman
Năm 1956 Milton Friedman đã phát triển học thuyết về cầu tiền tệ trong bài
báo nổi tiếng “Học thuyết số lượng tiền tệ: Một sự xác nhận l
ại”. Friedman cho rằng
cầu tiền tệ phải bị ảnh hưởng bởi cùng các nhân tố ảnh hưởng đến cầu của bất kỳ tài
sản nào. Vì vậy cầu tiền tệ phải là một hàm số của những tài nguyên được sẵn sàng
sử dụng cho các cá nhân (tức là của cải của họ) và của lợi tức dự tính về các tài sản
khác so với lợi tức dự tính về tiề
n.
14
Friedman trình bày ý kiến của mình về cầu tiền tệ như sau:
: cầu về số dư tiền mặt thực tế.
PMD
Y
P
: Thu nhập thường xuyên (thu nhập dài hạn bình quân dự
tính).
R
m
: Lợi tức dự tính về mặt tiền.
r
b
: Lợi tức dự tính về trái khoán.
R
e
: Lợi tức dự tính về cổ phần (cổ phiếu thường).
Π
: Tỉ lệ lạm phát dự tính.
e
Theo Friedman, việc chi tiêu được quyết định bởi thu nhập thường xuyên tức
là thu nhập bình quân mà người ta dự tính sẽ nhận được trong thời gian dài. Thu
nhập thường xuyên ít biến động, bởi vì nhiều sự biến động của thu nhập là tạm thời
trong thời gian ngắn. Vì vậy cầu tiền tệ sẽ không bị biến động nhiều cùng với sự
chuyển động c
ủa chu kỳ kinh doanh. Một cá nhân có thể giữ của cải dưới nhiều
hình thức ngoài tiền, Friedman xắp xếp chúng thành 3 loại: trái khoán, cổ phiếu (cổ
phiếu thường) và hàng hoá. Những động lực thúc đẩy việc giữ những tài sản đó hơn
là giữ tiền thể hiện bằng lợi tức dự tính về mỗi một tài sản đó so với lợi tức dự tính
về tiền. Lợ
i tức về tiền bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố:
không phải chỉ có lãi xuất là quan trọng của nền kinh tế tổng hợp. Hơn nữa,
Friedman không coi lợi tức dự tính về tiền là một hằng số. Khi lãi suất tăng lên
trong nền kinh tế, các ngân hàng thu được nhiều lợi nhuận cho vay hơn và do vậy
các ngân hàng có thể trả lãi cao hơn cho các khoản tiền gửi giao dịch hoặc nâng cao
chất lượng các dị
ch vụ cung cấp cho khách hàng tức là lợi tức dự tính về tiền sẽ
tăng lên, như vậy
sẽ tương đối ổn định khi lãi xuất thay đổi, tức là theo
Friedman những thay đổi của lãi xuất sẽ có ít tác dụng đến cầu tiền tệ.
mb
rr
−
Từ những phân tích đó, hàm số cầu tiền tệ của Friedman chủ yếu là một hàm
số trong đó thu nhập thường xuyên là yếu tố quyết định đầu tiên của cầu tiền tệ và
phương trình cầu tiền tệ của ông có thể
được tính gần với:
)(
P
Yf
P
=
MD
Theo quan điểm của Friedman, cầu tiền tệ không nhạy cảm với lãi suất vì
những thay đổi của lãi suất ít có tác dụng đến lợi tức dự tính tương đối của những
tài sản khác so với tiền, cùng với sự ít biến động của thu nhập thường xuyên, cầu
tiền tệ sẽ tương đối ổn định và có thể dự đoán được bằng hàm số cầu ti
ền tệ. Và như
vậy tốc độ (V) có thể dự đoán được tương đối chính xác theo phương trình cầu tiền
Như vậy, nếu loại bỏ sự ảnh hưởng của mức giá, mức cầu tiền tệ thực tế sẽ
chịu tác động bởi hai yếu tố quan trọng: thu nhập thực tế và lãi suất. Hàm số cầu
tiền tệ của Keynes vẫn còn nguyên giá trị.
2. Cung tiền tệ
Để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng tiền tệ trong nền kinh tế, một số tổ chức
như NHTƯ, các ngân hàng thương mại cung ứng tiền ra lưu thông.
2.1.Cung ứng tiền của Ngân hàng Trung ương
NHTƯ phát hành tiền mặt chủ yếu dưới hình thức giấy bạc ngân hàng. Quá
trình này được thực hiện khi NHTƯ cho vay đối với các tổ chức tín dụng, cho vay
đối với kho bạc Nhà nước, mua vàng, ngoại tệ
trên thị trường ngoại hối hoặc mua
chứng khoán trong nghiệp vụ thị trường mở.
Khối lượng tiền phát hành của NHTƯ được gọi là tiền mạnh hay cơ số tiền
(MB) bao gồm hai bộ phận: Tiền mặt trong lưu hành (C) và tiền dự trữ của các ngân
hàng kinh doanh (R), trong đó chỉ có bộ phận tiền mặt ngoài ngân hàng mới được
sử dụng đáp ứng cho nhu cầu về tiề
n.
2.2.Cung ứng tiền của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
Các NHTM và các tổ chức tín dụng khác tạo tiền chuyển khoản (D) theo cơ
chế tạo tiền trong toàn bộ hệ thống ngân hàng. Khối lượng tiền do các tổ chức này
cung ứng được tạo ra trên cơ sở lượng tiền dự trữ nhận từ NHTƯ và các hoạt động
nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán không dùng tiền mặt của h
ệ thống ngân hàng.
Khi NHTƯ phát hành tiền đưa vào hệ thống ngân hàng, các NHTM sử dụng
số tiền dự trữ này để cho vay. Khi các doanh nghiệp hoặc dân cư vay khoản tiền đó,
17
nó được sử dụng để thanh toán chi trả và có thể một phần hoặc toàn bộ được kí gửi
trở lại vào một ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kì hạn, ngân hàng lại tiếp
tục có vốn để cho vay. Như vậy từ lượng tiền dự trữ ban đầu, hệ thống ngân hàng
mMBMS
⋅=
Trong đó:
MS: Mức cung tiền giao dịch
MB: Cơ số tiền
m: hệ số tạo tiền.
18
D
C
D
C
m
rr
ED
++
+
=
1
Với: C/D: Tỷ lệ tiền mặt trong lưu hành so với tiền gửi không kỳ hạn.
r
D
: Tỷ lệ dự trữ buộc.
r
E
: Tỷ lệ dữ trữ dư thừa của các ngân hàng thương mại.
Mặc dù có rất nhiều chủ thể có tác động tới mức cung ứng tiền nhưng NHTƯ
3
1
2
MS
P
MD
P
Lãi
suất, i
Q
3
Q
1
Q
2
i
3
i
1
i
2
Khối lượng
tiền M
1
thực tế,
2
do vậy lãi
suất thị trường sẽ bị áp lực làm giảm xuống tới điểm cân bằng i
1
.
Nếu lãi suất thị trường ban đầu ở điểm i
3
thấp hơn lãi suất cân bằng i
1
, sẽ có
lượng dư cầu tiền thực tế Q
3
– Q
1
. Các tổ chức cá nhân giữ ít tiền hơn họ sẽ muốn
nâng số tiền họ giữ bằng cách bán các trái phiếu lấy tiền, đẩy lãi suất tăng lên tới
mức lãi suất i
1
, khi đó thị trường cân bằng lãi suất không tăng nữa.
Như vậy thị trường luôn chuyển động tới một mức lãi suất cân bằng tại đó
mức cung tiền thực tế bằng mức cầu tiền thực tế. Sự cân đối này cho thấy trong
ngắn hạn khi mức giá và sản lượng chưa kịp điều chỉnh; nếu NHTƯ tăng mức cung
ứng tiề
n, lãi suất thị trường sẽ được điều chỉnh giảm, ngược lại khi mức cung tiền
giảm xuống sẽ đẩy lãi suất thị trường tăng lên. Chính vì vậy, khi NHTƯ tìm cách
kiểm soát cả mức cung tiền và mức lãi suất của thị trường đều dẫn tới nguy cơ mất
cân đối thị trường.
VI. TÁC ĐỘNG CỦA TIỀN TỆ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ
Sự phân tích cung cầu tiền tệ cho thấy, trong cơ chế thị trường bất kỳ sự thay
tăng lên, chi phí tài trợ cho các hoạt động đầu tư có thể tăng lên dẫn tới giảm lượng
đầu tư, AD suy giảm làm giảm sản lượng và giá cả.
Ngược lại khi NHTƯ mở rộng tiền tệ, lãi suất cân bằng của thị trường gi
ảm
đi, chi phí đầu tư rẻ hơn có thể mở rộng đầu tư, tổng cầu tăng làm tăng sản lượng và
giá cả. Tuy nhiên lãi suất không thể đại diện đầy đủ cho chi phí đầu tư nên những
tác động này có thể không rõ ràng.
- Sự sẵn có của các nguồn vốn
Khi chính sách tiền tệ là thắt chặt, mức cung tiền giảm, mặc dù lãi suất có thể
thay đổi rất ít nhưng khả n
ăng cho vay của các ngân hàng có thể giảm (r
D
tăng).
Việc hạn chế tín dụng của các ngân hàng thương mại làm cho chi tiêu đầu tư giảm
xuống dẫn tới AD giảm. Khi NHTƯ mở rộng tiền tệ có thể làm tăng khả năng cho
vay của các ngân hàng thương mại, làm cho chi tiêu đầu tư tăng lên. Sự tác động
này được thể hiện ở sơ đồ:
21
MSÊ Æ khả năng cho vayÊ Æ IÊ Æ ADÊ Æ thu nhập và giá cảÊ
Tuy nhiên khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại được mở rộng
không đồng nghĩa với việc nguồn vốn này sẽ được tận dụng ngay, nó còn tuỳ thuộc
vào khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Việc hạn chế khả năng cho vay của hệ
thố
ng ngân hàng có tác dụng tốt hay không còn tuỳ thuộc giới hạn của việc kiểm
soát vốn quốc tế.
Ngoài ra, sự thay đổi của cung tiền tệ có tác dụng đến giá cổ phiếu, khi dân
chúng giữ nhiều tiền hơn họ muốn chẳng hạn, chi tiêu vào thị trường cổ phiếu có
thể tăng lên làm tăng giá cổ phiếu; giá trị ròng của các hãng tăng lên có nghĩa là
những người cho vay sẽ được đảm bả
Cơ chế tác động sẽ là:
MÊ Æ giá cả phiếuÊ Æ giá trị tài sản tài chính Ê Æ khả năng khó khăn TCÌ Æ
chi tiêu nhà ở, hàng tiêu dùng lâu bề
nÊ Æ ADÊ Æ Y,PÊ.
3. Xuất khẩu ròng
Trong bối cảnh nền kinh tế mở của các quốc gia và việc áp dụng chế độ tỷ
giá thả nổi, sự ảnh hưởng này thông qua tác động vào tỷ giá hối đoái. Khi lãi suất
trong nước giảm (lạm phát chưa thay đổi) tiền gửi bằng nội tệ sẽ kém hấp dẫn hơn
so với tiền gửi ngoại tệ, kết quả là nhu cầu về ngoại tệ cao hơn so với nội tệ làm cho
giá đồng nội tệ giảm so với ngoại tệ và làm cho hàng nội địa rẻ hơn so với hàng
ngoại, xuất khẩu ròng tăng lên và vì vậy tổng cầu tăng lên. Cơ chế tác động này
được tóm tắt:
MÊ ÆiÌ Æ EÊ Æ NXÊ Æ ADÊ Æ Y,PÊ.
Như vậy: Sự thay đổi của mức cung tiền tệ có tác động tới các ho
ạt động
kinh tế thông qua các tác động tới những bộ phận của tổng cầu như chi tiêu đầu tư,
chi tiêu tiêu dùng, xuất khẩu ròng. Tuy nhiên sự tác động này mạnh hay yếu còn tuỳ
thuộc vào sự phản ứng của nền kinh tế. Nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn phát
triển và linh hoạt thì chính sách tiền tệ có hiệu quả lớn hơn. Trong trường hợp nền
kinh tế trì trệ, các nguồn tài chính
được tạo ra có thể không được tận dụng đầy đủ và
chính sách tiền tệ ít có hiệu lực hơn. 23