Pháp luật về lao động là người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ THANH TÂM

PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ
NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ THANH TÂM

PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ
NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHAN THỊ THANH HUYỀN


1.2. Lao động là người khuyết tật .............................................................................11
1.3. Điều chỉnh của pháp luật về lao động là người khuyết tật .................................16
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ
NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY ..........................................................................................................................33
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về lao động là người khuyết tật ở Việt Nam
hiện nay .....................................................................................................................33
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động là người khuyết tật ở Việt Nam
hiện nay .....................................................................................................................44
2.3. Đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về
lao động là người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay ...................................................54
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ LAO ĐỘNG LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .......61
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về lao động là người khuyết tật ....................61
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về lao động là người khuyết tật .......................64
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADA

: The American with

Đạo luật người Mỹ khuyết tật

Disabilities Act
ADAAA : The American with Disabilities
Act Amendments Act


: International Labour Organization Tổ chức Lao động Quốc tế

WHO

: World Health Organization

Tổ chức Y tế Thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tham gia lực lượng lao động/Participation in labor force .......................47
Bảng 2.2: Tỷ lệ tìm được việc làm của người lao động dựa trên trình độ học vấn .....49

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Lý do người khuyết tật không làm việc hoặc không có nhu cầu tìm việc... 48


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lao động là một trong những hoạt động chủ yếu của con người. Ngay từ thuở
sơ khai con người đã ý thức được rằng phải lao động để tạo ra thức ăn duy trì cuộc
sống. Theo thời gian và không gian, xã hội phát triển thì lao động không chỉ đơn
thuần là để tạo ra thức ăn cho bản thân mà sức lao động còn trở thành một loại hàng
hóa đặc biệt được mua bán giữa người lao động và người sử dụng lao động. Có lẽ vì
vậy mà các quy định về lao động của mỗi quốc gia nói riêng và các văn kiện pháp
lý quốc tế hiện đại nói chung luôn dành rất nhiều sự quan tâm cho lĩnh vực lao
động. Mặc dù, tính chất lao động có thể khác nhau giữa công việc này với công việc
kia, sức lao động có thể khác nhau giữa người này với người kia song bất kì ai cũng
đều được quyền tự do lao động nếu họ có đủ khả năng, bao gồm cả người khuyết

tạo nghề còn thấp. Mặc dù pháp luật cũng đã có các quy định cụ thể về yêu cầu các
cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức không được từ chối tuyển dụng người lao động là
người khuyết tất nếu có đủ tiêu chuẩn, nhưng nhiều đơn vị, doanh nghiệp luôn viện
các lí do để từ chối nhận họ vào làm việc.
Từ thực trạng trên, việc làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về lao động là người
khuyết tật, đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng quy định và hiệu quả thực hiện
các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về lao động là người khuyết tật trong
thực tiễn để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện là một vấn đề mang tính cấp
thiết. Chính vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về lao động là người
khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Pháp luật về lao động là người khuyết tật là một vấn đề không phải mới nhưng
nó luôn mang tính thời sự và cần được quan tâm, nghiên cứu. Nhất là khi các văn
kiện quốc tế về bảo vệ quyền của người khuyết tật và lao động là người khuyết tật
được Liên Hợp Quốcvà Tổ chức lao động thế giới thông qua đã thúc đẩy nhiều công
trình khoa học chọn đây là đề tài nghiên cứu. Trong đó, có một số đề tài liên quan
đến nội dung nghiên cứu luận văn của tác giả, cụ thể là:
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam” của
Phạm Thị Thanh Việt, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2009.

2


- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật lao động về việc làm và giải quyết
việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” của Đinh Thị Nga Phượng, Đại học
quốc gia Hà Nội, năm 2011.
- Luật văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về vấn đề giải quyết việc làm cho
người lao động khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” của Trần Thị Tú Anh, Đại học quốc
gia Hà Nội, năm 2014.

vụ sau:
- Phân tích, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về người khuyết tật và lao
động là người khuyết tật.
- Làm rõ những vấn đề lý luận về điều chỉnh pháp luật đối với lao động là
người khuyết tật.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về lao động là người khuyết tật và thực tiễn
thực hiện ở Việt Nam hiện nay.
- Định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật
và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định đó tại Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp
luật về lao động là người khuyết tật và thực tiễn thực hiện các quy định đó tại Việt
Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy phạm pháp luật về
việc làm, học nghề, an toàn lao động, vệ sinh lao động, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi
thông qua các quy định cụ thể của Luật người khuyết tật năm 2010, Bộ luật lao
động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn liên quan đến lao động là người khuyết
tật.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích và hệ thống hóa: phương này này được sử dụng để
tiến hành liệt kê và hệ thống hóa các quy định trong các văn kiện quốc tế, quy định
pháp luật liên quan đến lao động là người khuyết tật để từ đó phân tích, nghiên cứu
sự phù hợp của từng quy định đó. Phương pháp này được sử dụng nhiều ở chương 1
và chương 2.

4



5


7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, bảng biểu thì
Luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người khuyết tật, lao động là người
khuyết tật và pháp luật về lao động là người khuyết tật;
- Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về lao động là người khuyết tật và
thực tiễn thực hiện ở Việt Nam hiện nay;
- Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về lao động là
người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay.

6


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT, LAO ĐỘNG
LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG LÀ
NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Người khuyết tật
1.1.1. Khái niệm
Người khuyết tật, là một trong các nhóm người dễ bị tổn thương cần được ưu
tiên và bảo vệ. Theo WHO thì NKT có ba mức suy giảm là: “Khiếm khuyết
(impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) [56, tr.7]. Khiếm khuyết
là tình trạng mất mát hoặc không như bình thường tạm thời hoặc vĩnh viễn về tâm
lý hoặc/và sinh lý của cấu trúc cơ thể con người. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu
chức năng hoạt động hằng ngày, là hậu quả của sự khiếm khuyết gây ra và cần các
biện pháp can thiệp để khắc phục nhược điểm. Còn tàn tật là tình trạng bất lợi hoặc
thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh tác

người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới
những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động,
sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”. Tuy nhiên có thể nhìn thấy rằng, luật pháp
quốc tế không cho rằng cách gọi tàn tật là đúng, vì giữa người tàn tật và NKT là hai
khái niệm khác nhau. Theo quan điểm của Ủy ban về các quyền của người khuyết
tật, NKT trở thành “tàn tật” là vì do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội
và có một cuộc sống giống như thành viên khác của xã hội. Do đó, việc đánh đồng
hai khái niệm “tàn” và “khuyết” là một sẽ làm hạn chế sự tham gia và hòa nhập vào
cộng đồng của người khuyết tật.
Ngày 17.6.2010, Quốc hội chính thức thông qua LNKT thay thế cho Pháp lệnh
về người tàn tật năm 1998, từ đây khái niệm NKT chính thức được thừa nhận và sử
dụng rộng rãi: “NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc
bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt,
học tập gặp khó khăn”. Khái niệm này được sự dụng rộng rãi trong hầu hết các văn
bản điều chỉnh về người khuyết tật sau này, ví dụ như Bộ luật lao động năm 2012,
Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015, Thông tư số 03/2018/TT-BGDĐT quy
định về giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật. Như vậy, NKT là người khiếm
khuyết về bộ phận cơ thể dẫn đến bị hạn chế trong quá trình tham gia vào các hoạt

8


động hàng ngày. Cũng như các nước Anh, Mỹ, pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận
người bị khiếm khuyết về tinh thần và trí tuệ là người khuyết tật. Cụ thể là tại Điều
3 LNKT năm 2010 có quy định về dạng tật và mức độ khuyết tật, cụ thể: Khuyết tật
vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần;
Khuyết tật trí tuệ… Vì nhìn nhận từ thực tế thì những người bị suy giảm về tinh
thần và trí tuệ, nhất là trẻ em cũng gặp rất nhiều rào cản trong sinh hoạt và hòa nhập
cùng cộng đồng, chẳng hạn trẻ em mắc: bệnh tự kỉ, hội chứng tăng động rối loạn,
tâm thần phân liệt… Các khiếm khuyết này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển

sáng và môi trường bình thường. Tuy nhiên, so với khái niệm này thì người cận thị
nặng cũng có thể xem là NKT vì họ cũng bị giảm về khả năng nhìn, cảm nhận ánh
sáng, màu sắc, sự vật. Theo WHO định nghĩa thì khuyết tật nhìn là tình trạng suy
giảm khả năng nhìn ở một mức độ nhất định gây ra những vấn đề không thể khắc
phục bằng phương tiện hỗ trợ thông thường như kính, mà sau khi điều chỉnh thị lực
tốt nhất kém hơn 20/40 hoặc 20/60 theo thang điểm thị lực [56, tr.20].
Bốn là, khuyết tật thần kinh, tâm thần. Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình
trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện
với những lời nói, hành động bất thường.
Năm là, khuyết tật trí tuệ; khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả
năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân
tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc như người thường.
Thứ hai, khiếm khuyết về bộ phận cơ thể hoặc/và tinh thần của NKT phải là
nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm lâu dài về khả năng thực hiện các hoạt động, sinh
hoạt hằng ngày
Theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật (DDA) do Quốc
hội Anh ban hành - nay chỉ có hiệu lực ở Bắc Ireland, khi xét về mặt thời gian tác
động của những khiếm khuyết dẫn đến suy giảm về khả năng thực hiện các hoạt
động, sinh hoạt của NKT thì sự suy giảm đó phải kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài,
nếu ít hơn 12 tháng bình thường thì không được coi là NKT, trừ khi là bị tái phát đi
tái phát lại [49, tr.51]. Nghĩa là, NKT thì ngoài sự khiếm khuyết về cơ thể hoặc/và
tinh thần, thì còn phải đáp ứng điều kiện về mặt thời gian mà sự suy giảm về cơ thể
hoặc/và tinh thần đó gây ra cho họ dẫn đến những hạn chế trong cuộc sống. Khoảng
thời gian suy giảm đó phải đủ lâu để làm ảnh hưởng đến các hoạt động sinh hoạt

10


thông thường cũng như là khả năng tự lao động nuôi sống bản thân của chính NKT
đó.


đích của con người nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội”
[33, tr.485]. Hay nói cách khác, lao động chính là quá trình kết hợp của sức lao
động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người. Ngày
nay, con người sử dụng sức lao động của mình không chỉ gói gọn trong việc tạo ra
sản phẩm phục vụ nhu cầu cấp thiết của mình mà còn sử dụng nó để tìm kiếm thu
nhập nuôi sống bản thân và gia đình.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật việc làm 2013 thì: “Người lao động là công dân
Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc”. Và
khoản 1 Điều 3 của BLLĐ năm 2012: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở
lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu
sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Khi có nhu cầu tìm kiếm việc
làm, các cá nhân phải ứng tuyển và đáp ứng các yêu cầu đặt ra của người tuyển
dụng thì mới được tuyển vào doanh nghiệp. Tại đó, quyền và nghĩa vụ phát sinh
giữa người lao động và người sử dụng lao động được thể hiện thông qua một hợp
đồng. Và người sử dụng lao động sẽ phải chi trả một khoản tiền lương xứng đáng
với sức lao động mà người lao động đã bỏ ra. Như vậy, có thể nói lao động không
đơn thuần chỉ dừng lại ở việc tạo ra giá trị phục vụ nhu cầu cần thiết của bản thân,
mà nó còn là nguồn đem lại thu nhập lớn cho cá nhân biết khai thác và sử dụng.
Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Đại hội đồng Liên Hợp
Quốcghi nhận: “Mỗi người đều có quyền làm việc, tự do chọn nghề, được có những
điều kiện làm việc thuận lợi và chính đáng và được bảo vệ chống lại nạn thất
nghiệp”. Và NKT cũng không là ngoại lệ. Để tham gia vào quan hệ lao động, trở
thành người lao động thì NKT phải đảm bảo các điều kiện về chủ thể đặt ra theo
yêu cầu của pháp luật lao động.
Thứ nhất, về độ tuổi. Theo quy định của BLLĐ năm 2012 và Nghị định
148/2018/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 05/2015/NĐ-CP
ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số nội dung của BLLĐ thì NKT muốn trở thành chủ thể và tham gia kí kết hợp
đồng lao động phải là người thuộc các trường hợp sau đây: (i) Người lao động từ đủ

động thực hiện, người sử dụng lao động sẽ trả một khoản tiền công tương ứng.
Chính vì vậy, quan hệ lao động mang tính đích danh, phải do chính người lao động
thực hiện. NKT khi kí hợp đồng và trở thành người lao động, thì phải tự mình thực

13


hiện những công việc được giao theo đúng thỏa thuận.
Ngoài ra, với tính đặc thù là sự khiếm khuyết về thể chất hoặc/và tinh thần
khiến NKT gặp nhiều khó khăn để có thể thực hiện các công việc trong điều kiện và
môi trường làm việc như người bình thường. Theo ILO thì cơ hội có một việc làm
phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó của NKT bị bị hạn chế rất nhiều bởi hậu quả
của các khiếm khuyết. Vì vậy, tất cả các quốc gia trên thế giới đều có những chính
sách và cơ chế riêng đối với lao động là người khuyết tật. Một phần là để hỗ trợ họ
trong quá trình lao động tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân, phần khác làm tốt các
chính sách này sẽ giúp quốc gia đó khai thác và sử dụng nguồn lao động trong xã
hội một cách hợp lý và hiệu quả. Do đó, không doanh nghiệp nào được quyền từ
chối nếu NKT tham gia ứng tuyển và đáp ứng được tất cả các điều kiện tuyển dụng
mà người sử dụng lao động đặt ra cũng như các điều kiện về mặt chủ thể do pháp
luật quy định.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm: “Lao động là người khuyết
tật là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có những khiếm khuyết về bộ phận cơ thể hoặc/và
tinh thần nhưng vẫn có khả năng lao động và làm việc theo hợp đồng lao đồng,
được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Nhà
nước luôn tạo điều kiện tốt nhất để NKT phục hồi khả năng lao động, được làm việc
phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của người khuyết tật. LNKT năm 2010 cũng
nghiêm cấm các doanh nghiệp từ chối tuyển dụng hoặc đặt ra các yêu cầu trái pháp
luật nhằm hạn chế hoặc từ chối cơ hội tìm kiếm việc làm của lao động là người
khuyết tật.
1.2.2. Tính đặc thù của lao động là người khuyết tật

NKT đòi hỏi khoảng thời gian dài hơn so với lao động là người bình thường. Chưa
kể, việc sử dụng lao động là NKT làm việc trong các điều kiện môi trường khắc
nghiệt, độc hại, công việc có tính chất nặng nhọc và nguy hiểm càng dễ dẫn đến
nguy cơ tai nạn lao động và mất khả năng lao động. Chính vì thế, bảo vệ sức lao
động của NKT, không để họ đảm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp
xúc với những chất độc hại có tác động xấu đến các khiếm khuyết của bản thân là
một trong những nội dung quan trọng mà hầu hết các công ước quốc tế và pháp luật
quốc gia hướng đến.
Điều 27, Công ước về quyền của người khuyết tật có quy định: “Cấm phân

15


biệt trên cơ sở sự khuyết tật trong mọi vấn đề liên quan đến việc làm, bao gồm điều
kiện tuyển dụng, sự thuê mướn và tuyển dụng, tiếp tục được tuyển dụng, thăng tiến
nghề nghiệp và điều kiện làm việc an toàn và bảo đảm sức khỏe”. Nhà nước phối
hợp với xã hội tạo ra điều kiện lao động an toàn, thân thiện và không cưỡng bức,
bóc lột NKT làm việc trong môi trường khắc nghiệt. Như quy định tại LNKT của
Việt Nam: “Người khuyết tật không phải làm những công việc nặng nhọc, nguy
hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục công việc nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định. Người khuyết tật
bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên không phải làm thêm giờ, làm việc
ban đêm. Ngoài ra, hàng năm người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe
định kỳ cho lao động là người khuyết tật ít nhất 6 tháng một lần”.
Ngoài ra, pháp luật các nước rất chú trọng đến việc bảo vệ sức lao động và
hạn chế suy giảm chức năng lao động ở NKT thông qua các quy định về thời giờ
làm việc, thời giờ nghỉ ngơi để lao động là NKT có thời gian nghỉ dưỡng, phục hồi
khả năng lao động. Tránh tình trạng làm thêm giờ, làm việc ban đêm gây ảnh hưởng
không tốt đến các khiếm khuyết của bản thân
1.3. Điều chỉnh của pháp luật về lao động là người khuyết tật

đều có thể dùng sức lao động của mình tạo ra một thành quả lao động ngang nhau.
Và sự đối xử đặc biệt với lao động khuyết tật so với lao động thông thường không
bị coi là phân biệt đối xử giữa những người lao động với nhau. Theo khuyến nghị
111 của ILO về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp năm 1958 thì mọi
biện pháp đặc biệt nào nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của những người mà việc bảo
vệ hoặc sự trợ giúp đặc biệt đối với họ nói chung được thừa nhận là cần thiết vì
những lý do như là giới tính, độ tuổi, tàn tật, gánh nặng gia đình, trình độ xã hội
hoặc văn hoá đều không xem là sự phân biệt đối xử.
Thứ hai, tạo ra các điều kiện phù hợp để NKT có cơ hội tiếp cận việc làm của
mình một cách bình đẳng, không bị phân biệt đối xử.
Trước đây, hầu hết các quốc gia đều xem vấn đề hỗ trợ NKT là một hoạt động
phúc lợi xã hội hoặc hành động nhân đạo từ phía cộng đồng dành cho người khuyết
tật. Tuy nhiên, nhờ vào sự nổ lực đấu tranh của các tổ chức, hiệp hội và đặc biệt là
bản thân NKT mà các quan điểm không đúng đắn trên dần được thay đổi. Ví dụ,
một bệnh nhân khiếm thính tại Úc đã gặp khó khăn trong việc hiểu các nội dung

17


truyền đạt từ bác sĩ điều trị của mình và đã khởi kiện bệnh viện này vì không đảm
bảo quyền bình đẳng trong sử dụng các dịch vụ y tế. Sau vụ kiện này, pháp luật của
quốc gia này đã có quy định các bệnh viện phải chịu trách nhiệm cung cấp phiên
dịch ngôn ngữ ký hiệu cho các bệnh nhân điếc [10, tr.29].
Nội dung của Quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng cơ hội cho NKT năm 1993 đã
ghi nhận lại rằng: “Trong nhiều năm qua, chính sách khuyết tật đã phát triển từ
mức chăm sóc cơ bản tại các cơ sở đến việc giáo dục cho trẻ em khuyết tật và phục
hồi chức năng cho người bị khuyết tật trong giai đoạn trưởng thành. Thông qua
việc giáo dục và phục hồi chức năng, NKT trở nên hoạt bát hơn và trở thành động
lực đối với sự phát triển hơn nữa của chính sách dành cho người khuyết tật. Các tổ
chức của người khuyết tật, gia đình và những người ủng hộ họ đã được thành lập

mà NKT đang phải đối mặt, cũng như việc họ thường xuyên bị tách biệt khỏi xã hội
không phải do tình trạng khuyết tật của từng cá nhân, mà chính là hậu quả của
những phản ứng tiêu cực xã hội đối với người khuyết tật. Do đó, NKT chưa có
nhiều cơ hội và môi trường để họ thể hiện khả năng của bản thân và tự tin phát huy
trong học tập cũng như lao động. Chính luật pháp và các chính sách đã góp phần tạo
ra các thay đổi tích cực. Theo công ước số 159 của ILO Về phục hồi chức năng lao
động và việc làm (Người khuyết tật) năm 1983 tại Điều 2 quy định: “Mọi Nước
thành viên phải coi mục đích của tái thích ứng nghề nghiệp là làm cho người có
khuyết tật có thể tìm được và duy trì một việc làm thích hợp, có thể tiến bộ được về
mặt nghề nghiệp, và do đó dễ dàng trong việc hòa nhập hoặc tái hòa nhập vào xã
hội”. Được lao động, được có cơ hội tìm kiếm một việc làm tạo ra thu nhập là tiền
đề cho NKT thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của mình. Vì chỉ khi NKT có thể
nuôi sống bản thân bằng sức lao động, không phụ thuộc vào gia đình và xã hội thì
khi đó họ mới đủ tự tin để tham gia vào các hoạt động văn hóa – xã hội tại khu dân
cư mình sinh sống, tại cơ quan nơi mình làm việc.
Thứ tư, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ người lao động là người
khuyết tật, là cơ sở để cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện chức năng quản lý nhà
nước trong lĩnh vực lao động.
Tổ chức Lao động Quốc tế là một cơ quan chuyên trách của Liên Hợp Quốccó
nhiệm vụ đảm bảo các điều kiện lao động bình đẳng và phù hợp trên toàn thế giới.
Với sứ mệnh được giao, tổ chức này đã soạn thảo nên các điều khoản dưới hình

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status