VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ NHƯ NGHĨA
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
TẠI CÁC ĐIỂM DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ NHƯ NGHĨA
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
TẠI CÁC ĐIỂM DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS. VÕ KHÁNH VINH
Võ Như Nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH
HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TẠI CÁC ĐIỂM DU LỊCH ................ 7
1.1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản
tại các điểm du lịch ........................................................................................... 7
1.2. Các nguyên tắc phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản tại các điểm du
lịch ................................................................................................................... 17
1.3. Chủ thể, nội dung phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản tại các điểm
du lịch .............................................................................................................. 19
1.4. Các biện pháp phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản tại các điểm du
lịch ................................................................................................................. 266
Kết luận Chương 1 .......................................................................................... 28
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI TRỘM
CẮP TÀI SẢN TẠI CÁC ĐIỂM DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................................................. 29
2.1. Thực trạng tổ chức lực lượng phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản
tại các điểm du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ..................................... 29
2.2. Thực trạng áp dụng các biện pháp phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài
sản tại các điểm du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ............................... 34
2.3. Đánh giá thực trạng phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản ............... 41
Kết luận Chương 2 .......................................................................................... 59
CHƯƠNG 3. DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA
TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TẠI CÁC ĐIỂM DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................. 600
3.1. Dự báo tình hình tội trộm cắp tài sản tại các điểm du lịch trên địa bàn
: Tòa án nhân dân
6. UBND
: Ủy ban nhân dân
7. VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Bảng 1: Thống kê các vụ trộm cắp tài sản tại các điểm du lịch và du khách,
dân số trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến tháng 6
năm 2019
Bảng 2: Thống kê khách du lịch, dân số và các vụ phạm pháp hình sự, trộm
cắp tài sản tại các điểm du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ
năm 2014 đến tháng 6 năm 2019
Bảng 3: Thống kê một số tội phạm hình sự xảy ra tại thành phố Đà Nẵng từ
năm 2014 đến tháng 6 năm 2019
Bảng 4: Thống kê tội phạm hình sự và tội trộm cắp tài sản tại điểm du lịch
xảy ra tại các quận, huyện thành phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến
tháng 6 năm 2019
Bảng 5: Thống kê địa điểm gây án của tội trộm cắp tài sản tại các điểm du
lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến tháng 6 năm
2019
Bảng 6: Thống kê thời gian gây án của tội trộm cắp tài sản tại các điểm du
lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến tháng 6 năm
2019
Bảng 7: Thống kê đặc điểm nhân thân đối tượng phạm tội trộm cắp tài sản
tại các điểm du lịch, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và phòng
ngừa đấu tranh tội phạm của địa phương, được quần chúng nhân dân và xã
2
hội đồng tình ủng hộ.
Tuy nhiên, tình hình tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, tội phạm sử dụng
công nghệ cao ngày càng có chiều hướng gia tăng; công tác quản lý nhà nước
về an ninh trật tự (sau đây viết tắt là ANTT) và phòng cháy chữa cháy còn
nhiều khó khăn, thách thức, diễn biến tình hình tội phạm trên địa bàn thành
phố ngày càng phức tạp, không chỉ gia tăng về số lượng tội phạm, người
phạm tội mà tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm, phương thức, thủ đoạn
thực hiện che giấu tội phạm ngày càng tinh vi, tình hình tội TCTS ở các điểm
du lịch biến động, có những thời điểm gia tăng, diễn biến khó kiểm soát, liên
quan đến người nước ngoài ngày càng nhiều, số lượng người bị bắt, bị xét xử
sau đó lại tái phạm vẫn còn chiếm tỷ lệ lớn trong số những người phạm tội.
Và hậu quả gây thiệt hại lớn cho tài sản của Nhà nước, tổ chức và công dân,
du khách gây ra tâm lý lo lắng cho xã hội, ảnh hưởng đến môi trường du lịch
và quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương.
Qua đánh giá, xác định các nguyên nhân kết hợp với thực tiễn và để đáp
ứng yêu cầu trong tình hình mới, cho nên đặt ra vấn đề nghiên cứu lý luận về
phòng ngừa tình hình tội TCTS tại các điểm du lịch là cần thiết, phải tìm hiểu
về nhận thức, thực trạng áp dụng các biện pháp phòng ngừa tình hình tội
TCTS tại các điểm du lịch để từ đó đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm nâng
cao hiệu quả phòng ngừa loại tội phạm này một cách toàn diện, có hệ thống
đem lại hiệu quả cao hơn trong thời gian tới, góp phần phục vụ thắng lợi công
cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở địa phương và đất nước.
Khi tìm hiểu và trao đổi được biết chưa có công trình khoa học nào
nghiên cứu để đưa ra các giải pháp phòng ngừa tình hình tội TCTS tại các
điểm du lịch. Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Phòng ngừa tình hình tội trộm
hình tội TCTS, TCTS tại các điểm du lịch, từ đó đưa ra các biện pháp nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa loại tội phạm này trong
4
thời gian tới tại các điểm du lịch thành phố Đà Nẵng.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất là, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về phòng ngừa tình
hình tội phạm TCTS tại các điểm du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Thứ hai là, tìm hiểu thực trạng phòng ngừa tình hình tội TCTS tại các
điểm du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn từ năm 2014 đến
tháng 6 năm 2019.
Thư ba là, đề xuất các biện pháp về tăng cường phòng ngừa tình hình tội
TCTS tại các điểm du lịch trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về lý luận, về thực trạng phòng ngừa tình hình tội TCTS tại
các điểm du lịch và các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội TCTS
ở các điểm du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Quan hệ giữa tình hình tội TCTS ở các điểm du lịch trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng với các hiện tượng kinh tế - xã hội khác để tạo cơ sở cho việc
thiết lập các giải pháp phòng ngừa tội phạm TCTS tại các điểm du lịch.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: các vấn đề lý luận chung về phòng ngừa tình hình
tội trộm cắp tài sản; thực trạng hoạt động điểm du lịch và công tác phòng
ngừa tình hình tội TCTS tại các điểm du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Qua đó đề ra biện pháp nhằm tăng cường phòng ngừa tình hình tội TCTS tại
các điểm du lịch.
Nghiên cứu Đề tài thực hiện dưới góc độ tội phạm học thuộc chuyên
ngành “Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm”; Điều 138 Bộ luật hình sự
viết, các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố liên quan tới công
6
tác phòng ngừa tình hình tội TCTS và các tội xâm phạm sở hữu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống, góp phần làm rõ được những vấn đề lý luận và thực
tiễn về phòng ngừa tình hình tội TCTS tại các điểm du lịch trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung và thực tiễn ở các
điểm du lịch trên thành phố Đà Nẵng, luận văn góp phần làm rõ thực trạng
tình hình TCTS tại các địa điểm du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, qua
đó đề ra những biện pháp giúp cá nhân, cơ quan, tổ chức, du khách và nhân
dân tại điểm du lịch tham khảo, nâng cao nhận thức và hành vi trong phòng,
chống, đấu tranh tội TCTS tại các điểm du lịch;
Bên cạnh đó, luận văn có thể dùng làm tài liệu trong việc phục vụ cho
công tác tuyên truyền, nghiên cứu về phòng ngừa tình hình tội TCTS tại các
điểm du lịch..
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội trộm cắp
tài sản tại các điểm du lịch
Chương 2: Thực trạng phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản tại các
điểm du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Dự báo và giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội
trộm cắp tài sản tại các điểm du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
8
ngừa tình hình tội phạm cho các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội.
Phòng ngừa tình hình tội phạm là việc các chủ thể của Nhà nước thông
qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình sử dụng tổng hợp các biện
pháp để từng bước khắc phục những nguyên nhân và điều kiện của tội phạm,
không để tội phạm xảy ra hoặc nếu tội phạm xảy ra phải hạn chế đến mức
thấp nhất hậu quả thiệt hại cho con người và cho xã hội.
Với các lý luận trên, có thể xác định phòng ngừa là biện pháp đấu tranh
phòng, chống tội phạm hiệu quả nhất ở các phương diện chính trị, kinh tế và
xã hội... Và để đạt được mục đích làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội
phạm ra khỏi đời sống xã hội, Nhà nước cần có chủ trương để công tác phòng
ngừa tình hình tội phạm là hoạt động thường xuyên, có sự bảo đảm về vật
chất cũng như các phương tiện pháp luật, giáo dục. Khẳng định rõ công tác
đấu tranh phòng, chống tội phạm là sự nghiệp của toàn dân, của tất cả các cấp,
các ngành. Cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp bằng các chủ trương, biện pháp
phải huy động được cả hệ thống chính trị, tạo điều kiện phối hợp chặt chẽ
giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và quần chúng nhân dân để cùng
thực hiện.
Như vậy, xét đến cùng, phòng ngừa tình hình tội phạm là phải làm rõ
nguyên nhân và điều kiện dẫn đến sự phạm tội và làm rõ các biện pháp,
phương pháp phòng ngừa. Với mục đích đó, chương trình phòng ngừa tình
hình tội phạm khi xây dựng cần phải có kế hoạch, phải thường xuyên có sự
chỉ đạo chặt chẽ của Đảng, Nhà nước và các ngành, các cấp, các tổ chức xã
hội khác và kịp thời thông tin đến nhân dân để cùng thực hiện. Đồng thời,
cũng cần phải thực hiện sát hợp với các đặc điểm kinh tế, tâm lý, xã hội và
các đặc điểm truyền thống của từng địa phương.. Song cùng, cần phải có cách
thức tập trung huy động sự vào cuộc tham gia của các cấp ủy đảng, chính
quyền, các tổ chức chính trị xã hội và quần chúng nhân dân.
10
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của điểm du lịch
Theo Luật du lịch của nước CHXHCN Việt Nam năm 2017 tại điểm 1,
điều 3 nêu rõ “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con
người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên
tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám
phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.
Đối với điểm du lịch, tại điểm 7, điều 3, Luật Du lịch của nước
CHXHCN Việt Nam năm 2017 qui định: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên
du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch”.
Như vậy, có thể khái niệm về điểm du lịch như sau: Điểm du lịch là nơi
tiến hành hoạt động du lịch, có ranh giới xác định trên bản đồ địa hình do cơ
quan có thẩm quyền xác nhận, được đầu tư phát triển du lịch, đáp ứng điều
kiện về an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, có ưu thế về tài
nguyên du lịch, được quy hoạch đầu tư phát triển nhằm phục vụ nhu cầu đa
dạng của khách du lịch, hàng năm đón được từ 50.000 lượt khách du lịch trở
lên, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường.
Sự phát triển của ngành Du lịch đã và đang góp phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và xuất khẩu tại chỗ; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa, tài nguyên thiên nhiên; tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân;
đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người
Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động Du lịch còn một số hạn chế, yếu kém, phát
triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và kỳ vọng của xã hội. Hiệu
lực và hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch chưa cao; môi trường du lịch, an
toàn thực phẩm và an toàn giao thông còn nhiều bất cập…
Tại thành phố Đà Nẵng, từ khi áp dụng Luật Du lịch năm 2005 chính
quyền thành phố, các địa phương, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ
hành, kinh doanh vận tải khách du lịch, các cơ sở lưu trú du lịch, doanh nghiệp,
12
đáp ứng các điều kiện như có tài nguyên du lịch và có ranh giới xác định; có
kết cấu hạ tầng và dịch vụ cần thiết đảm bảo phục vụ khách du lịch; ngoài ra,
còn phải đáp ứng các điều kiện về ANTT, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường
theo quy định của pháp luật.
Các điểm du lịch sau khi được công nhận thì việc quản lý, khai thác
càng trở nên chặt chẽ và tuân thủ theo đúng các quy định của Luật Du lịch.
Trong đó, các tổ chức, cá nhân được giao quản lý điểm du lịch được quyền đầu
tư, khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch; đồng thời, ban hành nội quy, tổ chức
kinh doanh dịch vụ phục vụ khách du lịch; tổ chức dịch vụ hướng dẫn, cũng
như quy định, quản lý việc sử dụng hướng dẫn viên du lịch trong phạm vi quản
lý và được thu phí theo quy định của pháp luật. Cùng với đó, trách nhiệm của
các tổ chức, cá nhân này là phải thực hiện tốt việc quản lý, giám sát hoạt động
kinh doanh dịch vụ du lịch tại điểm du lịch, tránh để xảy ra các hoạt động trái
quy định, gây phản cảm, ảnh hưởng đến hình ảnh điểm du du lịch. Đặc biệt,
phải tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch đến tham quan, cũng như bảo
đảm an toàn cho du khách và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường.
Thành phố Đà Nẵng gần đây cũng đã quan tâm hơn và tạo điều kiện
thuận lợi khi đăng ký công nhận điểm du lịch đó là: Được đẩy mạnh xúc tiến,
quảng bá du lịch trong nước và ngoài nước; được tham gia các chương trình,
sự kiện do ngành Du lịch tổ chức; được hỗ trợ các hoạt động tuyên truyền
quảng bá dưới hình thức giới thiệu các khu, điểm du lịch được xếp hạng trên
báo chí - truyền hình - ấn phẩm quảng bá du lịch của Sở Du lịch Đà Nẵng
hoặc tại các sự kiện trong và ngoài nước do Sở Du lịch tham dự; giới thiệu tại
website của Sở Du lịch. Ngoài ra, các khu, điểm du lịch sẽ được đánh giá, tôn
vinh nếu có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển du lịch Đà
Nẵng nói riêng và Việt Nam nói chung; được cắm biển chỉ dẫn điểm đến theo
ngành quản lý chức năng; được chuẩn hóa các bài thuyết minh hướng dẫn du
14
nhằm phục vụ nhu cầu đa dạng của khách du lịch;
- Hàng năm đón được từ 50.000 lượt khách du lịch trở lên, đem lại
hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường.
- Công khai số điện thoại, địa chỉ của tổ chức, cá nhân quản lý điểm du
lịch; Có hình thức tiếp nhận và giải quyết kịp thời phản ánh, kiến nghị của
khách du lịch.
1.1.3. Mục đích của của phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản
tại các điểm du lịch
Trong thực tiễn của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng
ngừa tội phạm lại được hiểu một cách trực tiếp và đơn giản chính là hoạt động
chủ yếu của các cơ quan chuyên môn, chuyên trách trong công tác bảo vệ
pháp luật và phòng chống tội phạm, mà cụ thể là: Công an, TAND, Viện
Kiểm sát, Thanh tra, cơ quan Thi hành án hình sự và một số cơ quan Nhà
nước khác (Kiểm lâm, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển ...) nhằm
ba mục đích sau: Một là, loại trừ và thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện
phạm tội, xóa bỏ các tác nhân là điều kiện tạo thuận lợi việc phát sinh ra tội
phạm. Hai là, nghiên cứu môi trường sống (gia đình - nhà trường - xã hội)
xung quanh các nguyên nhân và điều kiện phạm tội và người phạm tội, qua đó
hạn chế, ngăn ngừa những hiện tượng có ảnh hưởng bất lợi và không đúng
đến việc hình thành các phẩm chất cá nhân tiêu cực chống đối xã hội của bản
thân người phạm tội. Ba là, trên cơ sở này, đưa ra các giải pháp tổng thể và có
hệ thống phòng ngừa các hiện tượng tiêu cực và tội phạm, các tác nhân ảnh
hưởng và những thiếu sót trong cơ chế quản lý về các mặt (như: kinh tế, xã
hội, công tác tổ chức cán bộ...), cũng như kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình
sự, pháp luật tố tụng hình sự và các ngành luật khác. [13, tr.196]
Chỉ thị 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về “Tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình
16
tích cực cho sự hình thành hoàn thiện nhân cách con người, du khách. Đồng
thời, khi thực hiện việc phòng ngừa tình hình tội phạm tại các điểm du lịch đòi
hỏi phải nghiên cứu kĩ các vấn đề về tình hình tội phạm, về điểm du lịch;
nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm tại điểm du lịch; nhân thân
người phạm tội; xây dựng phương hướng và biện pháp loại trừ nguyên nhân và
điều kiện tình hình tội phạm tại điểm du lịch và xây dựng nhân cách tích cực
của các công ty lữ hành, du khách, con người tại điểm du lịch và trong xã hội...
1.1.4. Ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản tại các
điểm du lịch
Phòng ngừa tình hình tội TCTS tại các điểm du lịch tốt thì tạo tiền đề
để góp phần huy động sức mạnh tổng thể, đồng bộ trong đấu tranh phòng,
chống tội phạm, làm giảm sự gia tăng của tội phạm và vi phạm pháp luật tại
các điểm du lịch, đồng thời để xóa bỏ các tác động tiêu cực đối với xã hội,
hạn chế làm giảm tới mức thấp nhất xảy ra tội phạm trong xã hội. Thực hiện
tốt phòng ngừa tình hình tội TCTS tại đây góp phần thực hiện nghiêm chỉnh
và đầy đủ các Nghị quyết, Chỉ thị, đường lối và Chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước.
Thực hiện tốt, đảm bảo mục đích, yêu cầu sẽ tạo trạng thái tâm lý ổn
định, an toàn trong nhân dân, tại khu dân cư, điểm du lịch; tạo thêm niềm tin
du khách và nhân dân vào nền pháp chế Xã hội chủ nghĩa, từ đó nâng cao sự
tín nhiệm vào khả năng hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Góc độ
rộng hơn, điều này lôi cuốn sự ủng hộ, tích cực vào cuộc và nhiệt tình tham
gia của du khách, quần chúng nhân dân trong công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm tạo ra sự hưởng ứng của xã hội, của du khách, cộng đồng đối
với những hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật.
Thông qua việc thực hiện các chương trình quốc gia phòng chống tội
phạm để thực hiện tốt công tác phòng ngừa tình hình tội TCTS tại các điểm du