IỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ VŨ
QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ VŨ
QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NINH THỊ THU THỦY
HÀ NỘI, năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
3.1. Quan điểm, định hướng quản lý tài sản công tại Trung tâm y tế huyện Nam
Giang....................................................................................................................... 68
3.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài sản công tại Trung tâm y tế
huyện Nam Giang................................................................................................... 70
3.3. Một số kiến nghị............................................................................................... 76
KẾT LUẬN............................................................................................................ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tài sản công có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của một
Quốc gia nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong
những năm qua, cơ chế quản lý tài sản công đã được quan tâm xây dựng và chỉnh
đốn nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu khai thác nguồn nội lực to lớn này, đặc
biệt là giai đoạn phát triển mới của đất nước. Từ thực tế đó, nhiệm vụ quản lý tài
sản công đã được xác định và đặt vào vị trí quan trọng.
Cùng với việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng thì việc khai thác
nguồn lực tài chính từ tài sản công chính là bước đột phá quan trọng. Nguồn lực từ
tài sản công được khai thông sẽ đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội và điều
hành kinh tế vĩ mô. Việc khai thác nguồn lực tài chính từ tài sản công được triển
khai thực hiện với những tài sản có khối lượng và giá trị lớn: nhà, đất thuộc sở hữu
nhà nước; kết cấu hạ tầng giao thông; đất đai và tài nguyên thiên nhiên; tài sản tịch
thu và tài sản xác lập sở hữu nhà nước… Hầu hết các cơ chế, chính sách do Cục
Quản lý Công sản tham mưu, trình cấp có thẩm quyền ban hành trong giai đoạn này
đều xoay quanh “tiết kiệm, hiệu quả và khai thác nguồn lực”.
Tài sản công trước khi luật quản lý và sử dụng tài sản công ra đời gọi là tài
sản Nhà nước trong công tác quản lý và sử dụng tài sản nhà nước vẫn còn tồn tại
nhiều bất cập, hạn chế.
Quy trình đầu tư, mua sắm, xử lý tài sản nhà nước bị phân tán do nhiều cơ
quan, đơn vị cùng làm, tính chuyên nghiệp chưa cao, còn nặng về hành chính, bao
cấp; vai trò điều tiết của các cơ quan quản lý tài sản công hạn chế nên còn tình trạng
nơi thừa, nơi thiếu tài sản, việc sử dụng tài sản sai công năng, sai mục đích gây lãng
phí, thất thoát vẫn diễn ra; chưa tách bạch giữa nhiệm vụ quản lý về tài sản nhà
nước và cung cấp dịch vụ công trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
Việc quản lý, sử dụng một số loại tài sản nhà nước chưa được quan tâm đúng
mức, chậm đổi mới, chưa đồng bộ với cơ chế quản lý tài chính, chưa đáp ứng được
1
2
sóc sức khoẻ nhân dân. Một số thiết bị, dụng cụ quản lý như máy vi tính, thiết bị tin
học và các phần mềm quản lý không trực tiếp tham gia vào khám, chữa bệnh mà nó
tham gia vào tạo lập và quản lý hồ sơ bệnh nhân, thanh toán y tế và các hoạt động
khác. Vì vậy, để nâng cao chất lượng KCB, các cơ sở y tế quản lý tốt tài sản công từ
đầu tư mua sắm, nâng cấp, sửa chữa và sử dụng có hiệu quả tài sản công.
Những năm gần đây, tài sản công tại Trung tâm Y tế huyện Nam Giang được
hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: nguồn Ngân sách Nhà nước, quỹ BHYT, viện
trợ từ Dự án RAI - 2E, dự án VNHIP, viện trợ ODA, dự án phòng chống HIV/AIDS,
từ đề án Xã hội hoá y tế. Vì vậy, rất dễ chồng chéo trùng lặp cùng một loại tài sản
được tài trợ bởi nhiều tổ chức khác nhau dẫn đến quản lý và sử dụng không hiệu
quả, sai mục đích, cũ kỹ, lạc hậu và nghiêm trọng hơn có thể thất thoát tài sản, bỏ
ngoài sổ sách không theo dõi.
Nam Giang là huyện miền núi vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn của tỉnh
Quảng Nam. Người dân nơi đây đa phần là người dân tộc thiểu số đời sống kinh tế
thấp, phương tiện đi lại khó khăn nên rất khó tiếp cận được với các dịch vụ y tế tiên
tiến, hiện đại. Song song với việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ
y tế, quản lý tài sản công có hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng khám chữa
bệnh tại Trung tâm y tế huyện Nam Giang, củng cố niềm tin trong nhân dân, từ đó
thu dung người bệnh đến khám và chữa bệnh. Góp phần giảm quá tải cho các bệnh
viện tuyến trên mà người dân không phải đi lại khó khăn, tốn kém vẫn có thể hưởng
các dịch vụ y tế kỹ thuật cao ngay tại địa phương mình điều này có ý nghĩa rất lớn
đối với huyện miền núi như Nam Giang.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Quản lý tài sản công tại
Trung Tâm Y tế huyện Nam Giang”
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quản lý tài sản công trong các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và trong
tài sản công của bệnh viện. Luận văn cũng đã tham khảo kinh nghiệm quản lý tài
sản công của một số bệnh viện đúc kết bài học kinh nghiệm áp dụng cho thực tế
Bệnh viện Việt Đức. Đề tài đánh giá, phân tích thực trạng quản lý tài sản công của
Bệnh viện Việt Đức. Trên cơ sở những tồn tại và nguyên nhân của tồn yại trong
quản lý tài sản công của Bệnh viện Việt Đức, luận văn đã đề xuất một số giải pháp
4
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý tài sản công của Bệnh viện Việt Đức
trong thời gian đến.
Như vậy, đề tài nghiên cứu về quản lý tài sản công trong các cơ sở y tế công
lập không phải là mới nhưng nghiên cứu về quản lý tài sản công tại một trung tâm y
tế huyện như huyện Nam Giang thì hoàn toàn mới và thật sự rất cần thiết đối với
một huyện miền núi, đặc biệt khó khăn. Các công trình nghiên cứu trước đây chủ
yếu thực hiện ở các bệnh viện tuyến tỉnh nên quy mô lớn, nguồn tài sản lớn, đa dạng
và hiện đại hơn so với các bệnh viện tuyến huyện. Hiện tại, cũng chưa có một công
trình nghiên cứu nào về quản lý tài sản công tại Trung tâm Y tế huyện Nam Giang.
Do vậy, công trình nghiên cứu của tác giả là hoàn toàn không trùng lắp với các công
trình khác đã công bố và có ý nghĩa thiết thực góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ
khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn huyện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý tài sản công tại Trung tâm
Y tế huyện Nam Giang đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài sản
công tại Trung tâm Y tế huyện Nam Giang trong thời gian đến.
Nhiệm vụ cụ thể:
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài sản công .
- Phân tích, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình quản
lý tài sản công tại Trung tâm Y tế huyện Nam Giang;
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, những mặt làm được và những tồn tại, hạn
dẫn và được đưa vào trong danh mục tài liệu tham khảo.
Luận văn còn thu thập thông tin thứ cấp thông qua mạng internet, thu thập
thông tin từ thư viện của trường, các trường Đại học khối kinh tế,các sách, báo
chuyên ngành quản lý kinh tế, các trang thông tin điện tử của các cơ quan Nhà
nước, các báo cáo của các cơ quan Nhà nước, các luận án, luận văn,… có nội dung
liên quan đến đề tài.
Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin
Các thông tin thứ cấp thu thập được sắp xếp cho từng yêu cầu về nội dung
nghiên cứu và phân thành các nhóm sau đó được tổng hợp, xử lý dựa trên các tiêu
chí phân tổ như: Phân theo khoa, theo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phân theo
chủng loại tài sản… Phần mềm được sử dụng để xử lý các số liệu được thu thập chủ
yếu là Excel.
6
Phương pháp phân tích thông tin
Phương pháp thống kê so sánh
Phương pháp thống kê so sánh sẽ được sử dụng trong nghiên cứu nhằm chỉ
ra sự khác biệt trong đánh giá tình hình quản lý tài sản công giữa những nhóm đối
tượng được nghiên cứu, cũng như so sánh những kết quả đạt được của công tác
quản lý tài sản công thực tế so với kế hoạch, năm sau so với năm trước của trung
tâm trong thời gian qua. Phân tích so sánh sự khác biệt trong đánh giá các vấn đề có
liên quan, những vấn đề bất cập trong quản lý tài sản công đang diễn ra ở Trung tâm
Y tế huyện Nam Giang. Từ đó đưa ra kết luận có căn cứ khoa học cho các giải pháp
đồng thời đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài sản
công tại trung tâm.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Phân tích, đánh giá những vấn đề lý luận về công tác quản
cho Nhà nước và các tài sản khác do pháp luật quy định”, tuy nhiên tài sản Nhà
nước trong thực tiễn có phạm vi rất rộng, đồng thời khái niệm này chưa tách bạch
được nhiệm vụ quản lý về tài sản nhà nước và cung cấp dịch vụ công trong quản lý,
sử dụng tài sản nhà nước, vì vậy Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 đã
thay khái niệm “Tài sản nhà nước”bằng khái niệm “Tài sản công”. Theo quy định
tại khoản 1 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 về giải thích từ ngữ
“Tài sản cônglà tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và
thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp
dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết
cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền
sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước,
các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và
các loại tài nguyên khác.”
Như vậy việc đưa ra khái niệm TSC cụ thể để nhằm phân biệt với các loại tài
sản khác tạo điều kiện thuận lợi cho việc Quản lý, sử dụng TSC trong thực tiễn.
1.1.2. Đặc điểm của tài sản công
Tài sản công rất đa dạng, phong phú về chủng loại, mỗi loại tài sản có đặc
8
điểm, tính chất, công dụng riêng song chúng đều có những đặc điểm chung sau:
Thứ nhất: TSC được đầu tư xây dựng, mua sắm bằng tiền của NSNN, có
nguồn từ NSNN hoặc từ các nguồn vốn đầu tư khác (trừ một số tài sản đặc biệt như:
đất đai, tài sản được xác lập sở hữu Nhà nước được chuyển giao).
Bên cạnh đó là những tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ, viện trợ
không hoàn lại của các tổ chức trong và ngoài nước. Đối với tài sản này, NSNN
không trực tiếp đầu tư xây dựng và mua sắm mà chỉ giao tài sản cho các cơ quan sử
dụng. Đối với các tài sản này trước khi giao cho các bệnh viện sử dụng, đều phải
xác lập quyền sở hữu thuộc về Nhà nước. Khi các tài sản này được xác lập quyền sở
hữu thuuộc về Nhà nước, thì giá trị của các tài sản đều được ghi thu vào nguồn
của cơ quan nhà nước được thụ hưởng, Nhà nước không sử dụng các chính sách
khuyến khích trích khấu hao TSCĐ để thúc đẩy các cơ quan bảo vệ TSC như đối
với các tổ chức kinh tế sử dụng tài sản vào sản xuất kinh doanh. Nhà nước chỉ có
thể buộc các cơ quan này nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng TSC tiết kiệm và
hiệu quả bằng các biện pháp hành chính như quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng
TSC, cùng với biện pháp quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu về duy trì, bảo dưỡng,
sửa chữa TSC để buộc các cơ quan đơn vị sử dụng tài sản hiệu quả hơn (Nguyễn
Thị Bất và Nguyễn Văn Xa, 2009).
Tuy nhiên, Nhà nước phải quản lý chặt chẽ giá trị và giá trị còn lại của tài sản
để phục vụ cho công tác quản lý tài sản thông qua việc ban hành các quy định chế
độ tính hao mòn TSCĐ trong khu vực hành chính sự nghiệp.
1.1.3. Khái niệm quản lý tài sản công
Quản lý thực chất là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý
nhằm đạt được mục tiêu của nhà quản lý đề ra. Quản lý là dạng hoạt động xã hội bắt
nguồn từ hoạt động làm việc nhóm có tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công,
phân nhiệm và hợp tác làm một công việc để đạt được mục tiêu chung của tập thể.
Ở nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích, có hướng điích của con người.
Ọuán lý là hoạt động do một hay nhiều người cùng hợp tác, phối hợp thực hiện
nhằm đạt được một mục tiêu nào đó một cách có hiệu quả.
Như vậy, quản lý là sự vận dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để tác
động lên nguồn lực nhằm thực hiện các tiến trình để giải quyết các vấn đề.
10
Sơ đồ 1.1. Hệ thống quản lý
Từ sự phân tích ở trên, có thể cho rằng quản lý tài sản công nói chunglà sự tác
động có tổ chức, có hướng đích của các chủ thể quản lý (cán bộ quản lý) đối với tài
sản công đó để có thể sử dụng, khai thác tài sản công một các hiệu quả nhất nhằm
đời nhằm thay thế Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008.
TSC là một bộ phận quan trọng trong tổng nguồn của cải của mỗi quốc gia.
“Quản lý và khai thác TSC tốt sẽ góp phần chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng,
phát huy nguồn lực nhằm tái tạo tài sản và phát triển kinh tế - xã hội, giảm thiểu rủi
ro tài khóa, đặc biệt trong bối cảnh tình hình tài khóa gặp nhiều khó khăn, quá trình
chuyển đổi mục đích và quyền sử dụng tài sản đang diễn ra nhanh chóng”
Đảm bảo tiết kiệm và khai thác hiệu quả nguồn TSC của Nhà nước.
Đảm bảo tài sản công được sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức
chế độ mà Nhà nước quy định.
Đáp ứng yêu cầu công việc của cơ quan hành chính Nhà nước gắn với yêu
cầu hiện đại hóa và tái yêu cầu trang bị TSC đi liền với hiện đại hóa đất nước.
1.1.5 Chỉ tiêu đánh giá về quản lý tài sản công:
* Nhóm chỉ tiêu định lượng
Tổng vốn đầu tư cho tài sản công của mỗi đơn vị trong từng thời kỳ và mức
độ tăng trưởng vốn đầu tư cho tài sản công của đơn vị.
Tổng vốn đầu tư cho tài sản công của mỗi đơn vị trong từng thời kỳ là chỉ
tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số vốn được đơn vị đó sử dụng đầu tư cho mua sắm,
cải tạo, nâng cấp các tài sản công trong một khoảng thời gian nhất định. Quy mô
vốn đầu tư càng lớn chứng tỏ đơn vị càng chú trọng tới đầu tư tài sản công nhằm
nâng cao năng lực hoạt động cho mình.
12
Mức độ tăng trưởng vốn đầu tư cho tài sản công là chỉ tiêu tương đối phản
ánh tốc độ biến động của vốn đầu tư cho tài sản công qua các thời kỳ nhất định.
Mức độ tăng
trưởng vốn đầu tư =
cho tài sản công
Mức độ tăng trưởng dương cho thấy tài sản công của đơn vị ngày càng
Mức độ hao mòn tài sản công của đơn vị tại một thời điểm. Đây là chỉ tiêu
tương đối phản ánh tài sản công của đơn vị còn mới hay đã cũ, số vốn đã thu hồi
bao nhiêu % so với số vốn đầu tư bỏ ra ban đầu.
Tỷ lệ hao mòn tài sản
công của đơn vị
Tỷ lệ hao mòn càng cao càng chứng tỏ tài sản công của các đơn vị đã cũ, ít
được quan tâm đầu tư đổi mới nên năng lực hoạt động cũng vì thế sụt giảm theo.
Số lượng tài sản công bị hư hỏng, không thể khắc phục: là chỉ tiêu tuyệt đối
phản ánh số lượng tài sản công không còn sử dụng được do hư hỏng, hết thời gian
sử dụng. Các tài sản này cần nhanh chóng sửa chữa, khắc phục, nếu không thể khắc
phục được cần nhanh chóng thanh lý, nhượng bán để có nguồn tài chính đổi mới tài
sản công.
Công suất khai thác, sử dụng tài sản công: là chỉ tiêu tương đối phản ánh
mức độ khai thác, đưa tài sản công vào sử dụng. Nếu công suất đạt mức càng gần
100% tho thấy các tài sản công được khai thác tối đa cho hoạt động của các tổ chức
hành chính sự nghiệp. Tài sản công không bị lãng phí, hiệu quả hoạt động được
nâng cao.
Nếu công suất khai thác ở mức thấp, chứng tỏ tài sản công ít được đưa vào
vận hành, sử dụng gây ra hiện tượng lãng phí.
Nếu công suất khai thác quá cao, trên 100% thì cho thấy tài sản công đang
hoạt động trên công suất, dẫn tới việc tài sản nhanh chóng bị hư hỏng, quy mô tài
sản công không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của đơn vị.
Mức độ hiệu quả kinh tế, xã hội khi vận hành, sử dụng tài sản công như
nguồn thu, khả năng cung ứng dịch vụ công,… phụ thuộc vào từng loại tài sản.
Đối với tài sản công của các bệnh viện, mức độ hiệu quả kinh tế, xã hội
thường được đo lường bởi số thu viện phí hay số lượt người khám chữa bệnh,…
* Nhóm tiêu chí định tính
Nhóm chỉ tiêu định tính có thể sử dụng để đánh giá quản lý tài sản công như:
Mức độ chấp hành quy định pháp lý của Nhà nước và quy định quản lý của đơn vị.
14
Thông tư số 67/2018/TT-BTC ngày 06/8/2018 của Bộ Tài Chính hướng dẫn
việc quản lý, vận hành, trao đổi và khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu Quốc gia
về TSC.
15
Công văn số 2850/BTC-QLCS ngày 14/3/2018 của Phòng quản lý công sản
Bộ tài chính V/v: Hướng dẫn mua sắm tài sản công từ nguồn NSNN năm 2018..
Ðể khai thác, quản lý, sử dụng TSC hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí, góp
phần tăng thu, giảm chi cho NSNN, ngoài việc thực hiện nghiêm Luật Quản lý, sử
dụng TSC còn phải tuân thủ các văn bản pháp luật liên quan như Luật Ðất đai, Luật
Ðấu thầu, Luật Thực hành, tiết kiệm, chống lãng phí…
1.2.2. Quản lý đầu tư, mua sắm tài sản công
Đối với TSC việc quyết định chủ trương đầu tư mua sắm tài sản phải căn cứ
vào tiêu chuẩn định mức, sử dụng tài sản, chế độ quản lý tài sản, phù hợp vớikhả
năng và nhu cầu thực tế cần đầu tư, xây dựng, mua sắm tài sản của từng đơn vị.
Trong dự toán ngân sách hàng năm cần xác định nhu cầu vốn cho đầu tư mua sắm
tài sản . Sau khi có phê duyệt chủ trương đầu tư, mua sắm tài sản, việc thực hiện
đầu tư, mua sắm tài sản phải được thực hiện theo quy định Pháp luật về đầu tư và
xây dựng, quy định về mua sắm TSC.
Đầu tư mua sắm TSC có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu sử
dụng TSC ở các Bệnh viện. Cần quan tâm hơn nữa đến việc tăng cường đầu tư mua
sắm TSC bằng cách tạo nhiều điều kiện về kinh phí, huy động mọi nguồn vốn. Quản
lý khâu lập kế hoạch mua sắm là nội dung đầu tiên của quản lý đầu tư TSC, theo đó
phải xác định được các căn cứ lập kế hoạch mua sắm TSC, các thủ tục và phương
pháp lập kế hoạch mua sắm và lên kế hoạch mua sắm TSC hàng năm cho Trung
tâm. Kế hoạch đầu tư, mua sắm tài sản công phải lập theo thứ tự ưu tiên những tài
sản nào có nhu cầu sử dụng nhất xác thực với tiình hình thực tế tại đơn vị.
Quản lý mua sắm theo nguồn vốn hình thành: Quản lý đầu tư TSC đòi hỏi
cần nắm rõ nguồn vốn hình thành nên tài sản đó. Các nguồn vốn đầu tư cho việc
công thức:
Giá
trị ghi
Nguyên giá =
trên TSCĐ do
hóa
mua sắm
đơn
• Nguyên giá của tài sản cố định hình thành từ đầu tư xây dựng là giá trị quyết
17
toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về đầu tư
xây dựng hiện hành.
-
Trường hợp tài sản đã đưa vào sử dụng (do đã hoàn thành việc đầu tư xây
dựng) nhưng chưa có quyết toán được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
thì cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện ghi sổ và hạch toán kế toán tài sản cố định kể
từ ngày có Biên bản nghiệm thu đưa vào sử dụng. Nguyên giá ghi sổ hạch toán là
nguyên giá tạm tính. Nguyên giá tạm tính trong trường hợp này được lựa chọn theo
thứ tự ưu tiên sau:
+ Giá trị đề nghị quyết toán;
+ Giá trị xác định theo Biên bản nghiệm thu;
+ Giá trị dự toán Dự án đã được phê duyệt.
Khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán, đơn vị thực hiện điều