VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ HƯƠNG TRÀ
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ DOANH
NGHIỆP KHỞI NGHIỆP, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VÀ GỢI SUY CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ HƯƠNG TRÀ
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ DOANH
NGHIỆP KHỞI NGHIỆP, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VÀ GỢI SUY CHO VIỆT NAM
Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8 34 04 12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS HỒ VIỆT HẠNH
HÀ NỘI, 2019
TẠO HIỆN NAY ........................................................................................... 21
2.1. Bối cảnh chung về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam
giai đoạn 2013 – 2019 ............................................................................... 21
2.2. Chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp,
ĐMST giai đoạn 2013-2018. .................................................................... 25
2.3. Đánh giá chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp
khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo ở Việt nam hiện nay. ................................ 32
Chương 3: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP,
ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ GỢI SUY CHO VIỆT NAM .......................... 40
3.1. Một số kinh nghiệm quốc tế về chính sách phát triển các tổ chức hỗ
trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. ..................................... 40
3.2. Bài học cho chính sách phát triển các tổ chức doanh nghiệp khởi
nghiệp, đổi mới sáng tạo của Việt Nam. ................................................... 52
3.3. Định hướng các giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển các tổ
chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo ở Việt Nam
hiện nay. .................................................................................................... 55
KẾT LUẬN .................................................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 63
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Nguyên câu
Viết tắt
DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Bảng 1.1: (Nguồn – Tự sưu tầm và phân tích).................................................. 7
Bảng 2.2: Thực trạng các tổ chức hoạt động và hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam .............................................................. 30
Bảng 2.3 Tổng hợp các biện pháp hỗ trợ startup trong các chính sách của
Việt Nam ................................................................................................... 35
Sơ đồ 1.1: (Nguồn – Internet) ......................................................................... 11
Sơ đồ 1.2: Quy trình chính sách – (Nguồn Internet)....................................... 13
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp
4.0 trên thế giới hiện nay, các nước phát triển đều tích cực đầu tư cho hoạt
động ứng dụng và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo để phát triển nền kinh tế quốc
gia, chiếm lĩnh các vị trí dẫn đầu trong các chuỗi sản xuất và cung ứng dịch
vụ toàn cầu. Tại Việt Nam, Chính phủ coi khởi nghiệp sáng tạo là một trong
những mục tiêu cấp quốc gia nhằm khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệpkhởi
nghiệp không ngừng phát triển, tăng tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Khác với khởi nghiệp thông thường, doanh nghiệp hay dự án khởi nghiệp
sáng tạo (startups) có khả năng tăng trưởng nhanh về quy mô khách hàng,
doanh thu, lợi nhuận... dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình
kinh doanh mới nên khởi nghiệp sáng tạo luôn chứa đựng các yếu tố rủi ro
cao, nhưng một khi doanh nghiệp khởi nghiệp vượt qua các khó khăn, thách
thức ban đầu sẽ đem lại các giá trị xứng đáng góp phần cho sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. Theo thống kê của tạp chí Echelon, Singapore (một
trong những tạp chí truyền thông trực tuyến lớn nhất về khởi nghiệp ở Đông
Nam Á) hiện có khoảng 3000 doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST tại Việt Nam,
sự chuyên sâu, vì vậy, đề tài này sẽ đề cập và nghiên cứu về chính sách phát
triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, ĐMST trong lĩnh vực
KH&CN đồng thời nghiên cứu thực trạng hoạt động khởi nghiệp đổi mới
sáng tạo trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về chính sách
phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo như
là một chủ thể, đối tượng nghiên cứu. Một số đề tài liên quan đến doanh
nghiệp khởi nghiệp chỉ mới đề cập đến chủ đề quỹ đầu tư mạo hiểm hay việc
ươm tạo công nghệ như:
2
- Đề tài cấp bộ năm 2015 “Nghiên cứu xây dựng chính sách khuyến
khích tư nhân thành lập hoặc liên kết với nhà nước để thành lập các quỹ đầu
tư mạo hiểm phát triển công nghệ mới, công nghệ cao”.
- Đề án “Hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội
giai đoạn 2019-2025”.(Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại quyết định số
844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016)
- Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến
năm 2025”;
- Đề án “Vườn ươm doanh nghiệp Công nghệ thông tin đổi mới sáng
tạo Hà Nội” (Quyết định số 6156/QĐ-UBND ngày 07/11/2016).
Ngoài ra còn có những bài viết nghiên cứu về khởi nghiệp trên các tạp
chí doanh nghiệp, khoa học và công nghệ Việt nam, ví dụ như: “Cần có chiến
lược phát triển giáo dục và đào tạo khởi nghiệp cấp quốc gia –Trần Thị Thu
Hà – trích số 3 năm 2019” hay “Mô hình ươm tạo ảo hỗ trợ doanh nghiệp
khởi nghiệp tại các làng nghề truyển thống của tác giả Vũ Thị Xen trích số 7
năm 2019” …v.v..
nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học,…);
- Các quỹ đầu tư, nhà đầu tư trong nước và quốc tế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi đối tượng:
+ Khách thể chính: Cơ chế, chính sách của nước ta nhằm hỗ trợ, hoàn
thiện và phát triển các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, ĐMST
KHCN trong khuôn khổ các cơ chế chính sách chung của nhà nước;
+ Khách thể phụ: Các chính sách phát triển tổ chức hỗ trợ và các doanh
nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trên thế giới.
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu khảo sát ở bộ KH&CN, một
số bộ, ngành liên quan, một số tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi
mới sáng tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội và tại một số quốc gia cụ thể.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các chính sách của nhà
nước từ năm 2013 đến nay.
4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và một số thành tựu của khoa học chính sách công,
khoa học quản lý, khoa học tâm lý, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, pháp luật…
5.2. Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, qui nạp, diễn
dịch, đánh giá.v.v…
5.3. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: khảo sát, phỏng vấn sâu, thực
nghiệm v.v…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận liên quan đến bản chất, đặc điểm của
các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo;
- Làm rõ quy trình chính sách của nhà nước trong việc phát triển các tổ
- Doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo: Khởi nghiệp (tiếng
Anh là: startup hoặc start-up) là thuật ngữ chỉ về những công ty đang trong
giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung (Startup company), nó thường được
dùng với nghĩa hẹp chỉ các công ty công nghệ trong giai đoạn lập nghiệp.
Doanh nghiệp khởi nghiệp là một tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản
phẩm và dịch vụ đột phá, sáng tạo trong những điều kiện kinh doanh chưa
chắc chắn.
- Cơ sở ươm tạo (Incubator):Là các cơ sở cung cấp các điều kiện thuận
lợi về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực và dịch vụ cần thiết phục vụ việc ươm tạo
công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao (Theo Luật công nghệ
cao số 21/2008/QH12).
- Tổ chức thúc đẩy kinh doanh (Accelerator): là các tổ chức cung cấp
các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua đào tạo, cấp vốn
mồi và tổ chức các sự kiện kêu gọi đầu tư. Một chương trình hỗ trợ của các tổ
chức này thường kéo dài từ 3 – 4 tháng, tổ chức thúc đẩy sẽ sở hữu một phần
cổ phần của doanh nghiệp khởi nghiệp sau khi cấp vốn mồi.
6
- Đầu tư mạo hiểm (Venture Capital): Ở Việt Nam, khái niệm đầu tư
mạo hiểm được chính thức định nghĩa trong Luật Công nghệ cao, năm 2008:
“đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao là đầu tư cho nghiên cứu phát
triển công nghệ cao, hình thành và phát triển doanh nghiệp ứng dụng, sản xuất
sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, được thực hiện bằng hình thức
góp vốn và tư vấn cho tổ chức, cá nhân nhận đầu tư”.
- Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital Fund): Thực hiện đầu tư vào
hoạt động đổi mới công nghệ của một doanh nghiệp hoặc đầu tư để lập ra một
doanh nghiệp mới, mà đặc trưng cơ bản của nó là còn thiếu độ tin cậy về kết
quả kinh doanh, chưa tỏ rõ khả năng sinh lợi của mình, những nơi mà các thể
việc làm toàn thời gian.
-Steve coi thành công là một nhà nghiệp.
hàng địa phương thịnh vượng.
-Karen hy vọng sẽ phục vụ nhiều
-Steve đổi mới thành phần độc khách hàng trong các thị trường
đáo của lớp vỏ pizza và công toàn cầu.
thức nấu ăn của mình, nhưng -Ngược lại, các tấm năng lượng
pizza của anh cũng chỉ được mặt trời mỏng như tờ giấy của
công nhận là một chiếc bánh nhóm Karen sẽ làm thay đổi cách
thức hoạt động của những người
pizza.
-Steve chủ yếu làm việc một tham gia trong lĩnh vực này.
mình trong một doanh nghiệp cá -Karen có một đội ngũ sáng lập
viên và sẽ sớm có một hội đồng
thể.
Mặc dù việc mở nhà hàng chắc quản trị và các nhà đầu tư.
chắn có những rủi ro nhất định, Việc kinh doanh của Karen rất
tuy nhiên Steve sẽ có cơ hội mạo hiểm và có khả năng (giống
thành công khiêm tốn nếu anh như rất nhiều công ty khởi nghiệp
thực hiện tốt công việc của mình. công nghệ cao) cô sẽ thất bại,
Nếu thành công, anh có thể sẽ không tạo ra việc làm nào cả. Mặt
tạo ra một số ít việc làm - chủ khác, nếu thành công, cô sẽ tạo ra
yếu cho nhân viên phục vụ và hàng chục đến hàng trăm việc làm
nghĩa rất đơn giản mà Bill Aulet
“Phần thưởng” cho các thành của
Viện
Công
nghệ
viên sáng lập doanh nghiệp loại Massachusetts tiếp nhận từ Giáo
này là sự tự do cá nhân và dòng sư Ed Roberts cũng của Viện này,
tiền từ việc kinh doanh. Về cơ đó là: Đổi mới sáng tạo = Sáng
bản, loại hình doanh nghiệp này chế × Thương mại hóa
không cần kêu gọi nhiều vốn.
Khi rót thêm tiền vào doanh
nghiệp thì nhanh chóng có được
kết quả là tăng thêm doanh thu
và tạo ra công ăn việc làm. Như
vậy, doanh nghiệp có thể được
9
phát triển tại địa phương và công
việc mà họ tạo ra hầu hết là các
việc không thể vươn ra toàn cầu.
DNNVV thường là các doanh
nghiệp dịch vụ hoặc nhà bán lẻ
các sản phẩm của công ty khác.
tổ chức có một hình thái, cơ cấu, nguồn vốn riêng, cụ thể như sau:
- Các quỹ phi lợi nhuận là một hình thức pháp nhân độc lập, có con
dấu, tài khoản riêng; cung cấp khoản tiền tài trợ hoặc các hỗ trợ cho các tổ
chức, cá nhân khác, quỹ có thể được điều hành bởi một tổ chức, cơ quan,
doanh nghiệp như một dạng quỹ cộng đồng hoặc dưới hình thức quỹ cá nhân,
thường được tài trợ bởi một cá nhân hoặc gia đình. Một số quỹ phi lợi nhuận
10
trên thế giới đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo như CFF (Cystic
Fibrosis Foundation – Mỹ), Bill & Melinda Gates foundation (quỹ từ thiện
lớn nhất thế giới) hay Michael J. fox foundation
- Các mô hình ươm tạo: là các nhà cung cấp các dịch vụ nhằm hỗ trợ,
đẩy nhanh quá trình phát triển của một doanh nghiệp khởi nghiệp. Hiện chính
phủ đang đẩy mạnh triển khai dự án xây dựng chính sách đổi mới và phát
triển các cơ sở ươm tạo (BIPP).
Đặc điểm về cơ cấu của các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp trong bộ máy
nhà nước theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ về trợ giúp phát
triển doanh nghiệp:
Sơ đồ 1.1: (Nguồn – Internet)
11
1.2. Những vấn đề cơ bản và quy trình về chính sách phát triển các
tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.
Khái niệm về chính sách công:
“Chính sách công là những định hướng mục tiêu và biện pháp hành
nhau từ khi lựa chọn được vấn đề chính sách công đến khi kết quả của chính
sách được đánh giá. Một quy trình chính sách có thể quy về 3 giai đoạn cơ
bản là: hoạch định chính sách, thực thi chính sách, đánh giá chính sách và đan
xen trong đó là quá trình phân tích chính sách tại từng giai đoạn.
Hoạch định
chính sách
Thực thi
chính sách
Đánh giá
chính sách
Sơ đồ 1.2: Quy trình chính sách – (Nguồn Internet)
Các giai đoạn này có liên hệ chặt chẽ với nhau theo nguyên tắc: giai
đoạn trước là nền tảng cho giai đoạn tiếp theo và kết quả của giai đoạn trước
là thông tin cần và đủ cho giai đoạn tiếp theo. Về thực chất, khó có thể mô tả
tiến trình chính sách một cách đơn giản và rõ ràng, vì vừa có tính liên tục, vừa
có tính biến động. Thực tế cho thấy rất khó xác định một chính sách nào đó
hoàn toàn ổn định trong một thời gian dài vì chính sách thay đổi thường
xuyên và cần được điểu chỉnh, bổ sung theo hướng ngày càng hoàn thiện.
a. Hoạch định chính sách
Hoạch định chính sách: Là toàn bộ quá trình nghiên cứu, xây dựng và
ban hành đầy đủ một chính sách. Đây được coi là một loại quyết định quản lý
đặc biệt cho cả một giai đoạn tồn tại phát triển của xã hội nhằm đạt mục tiêu
quản lý.
Hoạch định chính sách có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với một
chính sách: Mở đường cho cả tiến trình chính sách; Khởi xướng được những
13
14
công, phối hợp thực hiện chính sách công; Duy trì chính sách công; Điều
chỉnh chính sách công; Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
công; Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm.
Những yêu cầu cơ bản đối với tổ chức thực thi chính sách: Thực hiện
mục tiêu: Bảo đảm tính hệ thống; Các cơ quan nhà nước phải bảo đảm tính
pháp lý, khoa học và hợp lý trong tổ chức thực hiện chính sách công; Yêu cầu
bảo đảm lợi ích thật sự cho các đối tượng thụ hưởng.
Sau khi xây dựng và ban hành chính sách phát triển các tổ chức hỗ trợ
doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, quá trình chuyển hóa những
quyết định này thành hành động thực tế chính là bước thực thi chính sách
trong quy trình. Tại đây, chính sách được cụ thể hóa bằng các kế hoạch,
chương trình triển khai cụ thể qua các thông tư, văn bản điều hành và bắt đầu
có hiệu lực thi hành tại thời điểm ban hành chính sách. Các tổ chức nắm vai
trò thực thi và đối tượng thực thi sẽ phân công, phối hợp việc thực hiện, cụ
thể ở đây là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Khoc học & Công nghệ
cùng các ban ngành có liên quan chịu trách nhiệm thi hành. Bên cạnh đó, đối
tượng chính sách (các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng
tạo) sẽ chịu tác động trực tiếp từ chính sách. Chính sách được triển khai thí
điểm tại địa phương hay một nhóm doanh nghiệp, tổ chức trong giai đoạn đầu
nhằm đưa ra được những đánh giá cơ bản về mức độ phù hợp, tính hiệu quả
của chính sách và tiếp tục được duy trì, mở rộng phạm vi triển khai nhằm thu
được nhưng kết quả, nhận định ban đầu về hiệu quả chính sách. Cũng trong
bước thực thi chính sách, việc phân tích, đánh giá chính sách được đan xen
trong suốt quá trình, khi nhận thấy được những vấn đề còn tồn tại trong quá
trình triển khai, đơn vị, ban ngành chịu trách nhiệm hoạch định, triển khai sẽ
rút ra được những hạn chế, thiếu xót của chính sách, từ đó tổng hợp, làm nền
tảng cho việc đánh giá tổng thể, chỉnh sửa, bổ sung sau quá trình thực hiện.
chính sách cụ thể ở đây là tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới
sáng tạo và những hạn chế, tồn tại của chính sách trong quá trình thực hiện.
16
Kết quả đánh giá này là cơ sở để các tổ chức, cá nhân trực tiếp thực
hiện, triển khai các quy trình chính sách có nền tảng để xem xét, chỉnh sửa, bổ
sung trong thời gian tiếp theo để chính sách ngày một hoàn thiện hơn.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chính phát triển tổ chức hỗ trợ
doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.
- Môi trường thể chế, pháp luật: Hệ thống pháp luật tạo nên những
khuôn khổ pháp lý quy định và điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội, vì vậy
các chính sách phát triển tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới
sáng tạo khi ban hành phải căn cứ vào hệ thống pháp luật hiện hành, không
được trái với quy định pháp luật hiện hành, bên cạnh đó, chính sách cũng là
một nguồn tạo ra những thể chế pháp luật mới.
- Điều kiện kinh tế chính trị, văn hóa xã hội nơi chính sách được xây
dựng: Tại Việt Nam, các chính sách tồn tại với môi trường phong phú, đa
dạng bao gồm môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tự nhiên. Các
môi trường này lại biến động không đều nhau trong từng thời kỳ phát triển,
chúng đan xen vào nhau, tác động phức tạp đến sự tồn tại của chính sách. Vì
thế, căn cứ vào môi trường tồn tại trong thực tế và tương lai để xây dựng
những chính sách phù hợp trong từng giai đoạn phát triển.
- Năng lực thực tế của các cơ quan hoạch định chính sách: Kết quả của
chính sách phát triển tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng
tạo phụ thuộc rất nhiều vào năng lực hoạch định, tổ chức, điều hành của hệ
thống các cơ quan công quyền cũng như khả năng huy động và sử dụng các
nguồn lực công để phục vụ cho công tác hoạch định, tổ chức, điều hành chính
sách của các cơ quan này. Năng lực hoạch định chính sách của đội ngũ cán bộ
- Nguồn lực chính sách: Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực thi
chính sách là yếu tố ngày càng có vị trí quan trọng để cùng với yếu tố nhân sự
và các yếu tố khác thực hiện thắng lợi chính sách. Để xây dựng và thực thi
được chính sách phát triển tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới
18