VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN ĐÌNH THANH
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN
THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN ĐÌNH THANH
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC
TIỄN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.NGUYỄN THỊ THƯƠNG HUYỀN
HÀ NỘI, NĂM 2019
Tác giả
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIA TĂNG
VÀ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG....................................... 7
1.1. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng ................................................ 7
1.2. Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật thuế giá trị gia tă ng .. 11
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật thuế giá trị gia tăng .... 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA
BÀN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH ............................ 29
2.1. Tổng quan về Chi cục Thuế thị xã Quảng Yên và các doanh
nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng yên, tỉnh Quảng Ninh .................... 29
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng đối
với doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh .. 35
2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật thuế GTGT trên địa bàn thị
xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh ............................................................... 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH ....... 60
3.1. Định hướng, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá trị
gia tăng ........................................................................................................ 60
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý thuế GTGT tại Chi cục thuế
Quảng yên-Quảng Ninh .................................................................... 67
KTQM
Khai thuế qua mạng
NNT
Người nộp thuế
NQD
Ngoài quốc doanh
NSNN
Ngân sách nhà nước
NTĐT
Nộp thuế điện tử
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Tên hình
Trang
Bảng 2.1: Kết quả thu NSNN đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh - theo sắc thuế .................................................. 37
Một quốc gia phát triển có nền tài chính mạnh và bền vững thì nguồn thu
NSNN phải chủ yếu từ thuế và thuế cũng phải là công cụ quản lý Nhà nước quan
trọng của Nhà nước đó. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta
đã thực hiện cải cách thuế bước hai. Điểm nổi bật của cuộc cải cách này là thay thế
Luật thuế doanh thu bằng Luật thuế giá trị gia tăng được thông qua tại kỳ họp thứ
11 Quốc hội khoá IX, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Sự ra đời của Luật
thuế giá trị gia tăng được xem là một bước ngoặc có tính đột phá trong công tác
quản lý thu thuế và đã thể hiện được sự mạnh dạn, đường lối đúng đắn của Đảng và
Nhà nước trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước.
Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng VI, năm 1986, trong những năm
qua hệ thống chính sách thuế của nước ta đã được cải cách một cách căn bản. Bắt
đầu từ năm 1990, cải cách thuế giai đoạn I được thực hiện với nội dung cơ bản là
ban hành một hệ thống chính sách thuế áp dụng thống nhất trong cả nước đối với
mọi thành phần kinh tế. Từ năm 1997, cải cách thuế giai đoạn II được đánh dấu
bằng việc ban hành thuế Giá trị gia tăng (GTGT), thuế Thu nhập doanh nghiệp
(TNDN) và các luật thuế liên quan khác nhằm làm cho hệ thống chính sách thuế
phù hợp với kinh tế thị trường đã và đang hình thành ở nước ta.
Những năm gần đây, số lượng các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại tỉnh Quảng Ninh đăng ký thành lập tăng nhanh đã tạo số thu về thuế
ngày càng lớn. Tuy nhiên, đây cũng là bộ phận người nộp thuế có sự hiểu biết và ý
thức chấp hành pháp luật về thuế chưa cao gây thất thu về thuế, đó là, doanh nghiệp
lợi dụng chính sách thông thoáng của Nhà nước trong việc thành lập doanh nghiệp
và tự in, đặt in hóa đơn, một bộ phận người nộp thuế, thành lập các công ty “ma” để
mua, bán hóa đơn GTGT, khai khấu trừ khống thuế GTGT đầu vào, hoàn thuế và
người tiêu dùng là cá nhân chưa có ý thức lấy hóa đơn khi mua hàng, doanh nghiệp
chưa tự giác lập hóa đơn khi cung ứng hàng hóa, dịch vụ bên cạnh đó nhiều doanh
nghiệp không khai, nộp thuế theo quy định. Tình trạng thất thu thuế, trốn thuế, nợ
đọng thuế còn phổ biến, ảnh hưởng lớn đến việc phát huy tác dụng của công cụ thuế
trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế và nhất là ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch thu
1
kinh tế quốc dân, “Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự
tuân thủ thuế của doanh nghiệp”. Đóng góp chủ yếu của đề tài là đã hệ thống những
công trình nghiên cứu về sự tuân thủ thuế và Quản lý thuế của Nhà nước đối với
2
doanh nghiệp của các tác giả nước ngoài và trong nước. Đề tài đã làm rõ bản chất
mới của quản lý thuế cần được thể hiện đầy đủ trong các chiến lược quản lý sự nộp
thuế của từng nhóm người nộp thuế ở từng cấp độ tuân thủ thuế khác nhau.
- Lê Thị Hồng Lũy (2012) đề tài Luận văn thạc sỹ, “Tăng cường kiểm soát
thuế giá trị gia tăng tại cục thuế tỉnh Bình Định”. Luận văn đã làm rõ việc kiểm
soát thuế giá trị gia tăng ở các khâu trong quá trình thu thuế giá trị gia tăng nhưng
các giải pháp đưa ra chủ yếu bám theo các quy trình quản lý thuế, chưa có những
giải pháp mang tính thực tế. Đối với nhóm giải pháp hoàn thiện công tác bộ máy,
đẩy mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, công tác thanh tra, kiểm tra
và phân tích các chỉ tiêu đánh giá, mặc dù tác giả đã có ý tưởng hoàn thiện về trình
độ cán bộ công chức thuế và công tác phân tích đánh giá các chỉ tiêu kê khai, tuy
nhiên tác giả chưa đề xuất được các giải pháp về bố trí sắp xếp lại các Phòng, Đội
cho phù hợp với thực tế hiện nay và các chỉ tiêu phân tích chỉ mang nặng tính lý
thuyết.
- Nguyễn Thành Công (2014) đề tài Luận văn thạc sỹ “Nâng cao chất lượng
quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh”. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về công tác quản lý thuế đối với thuế giá trị
gia tăng. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế giá trị gia tăng tại
Quảng Ninh giai đoạn 2011-2013, chỉ ra được những tồn tại trong công tác quản lý
thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Từ đó
tác giả đã đề xuất các giải pháp khả thi, nhằm tăng cường quản lý thuế giá trị gia
tăng góp phần tăng nguồn thu ngân sách của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới.
- Trương Thị Tiểu Quỳnh (2018), đề tài luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật
thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng và pháp luật thuế giá trị
gia tăng đối với doanh nghiệp;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh
nghiệp qua thực tiễn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và tăng cường công
tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng
Yên, tỉnh Quảng Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thuế GTGT và pháp luật thuế GTGT đối với các
doanh nghiệp.
4
- Phạm vi nghiên cứu: Áp dụng pháp thuế GTGT và công tác quản lý thuế
GTGT của Chi cục Thuế thị xã Quảng Yên đối với các doanh nghiệp trên địa bàn
thị xã Quảng Yên từ năm 2015 đến 2018.
5. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài cũng như đối tượng phạm vi
nghiên cứu, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, luận giải : Được sử dụng chủ
yếu ở chương 1 để hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về thuế Giá trị
gia tăng và pháp luật thuế GTGT;
- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tài liệu được sử dụng trong luận
văn được thu thập tại các cơ quan như Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Thuế thị
xã Quảng Yên và các báo cáo của cơ quan thuế trong 4 năm từ năm 2015 đến hết
năm 2018. Các tài liệu này liên quan đến số lượng các doanh nghiệp; số thu ngân
sách....
- Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được tổng
hợp và xử lý bằng phần mềm Excel. Đối với những thông tin là số liệu định lượng
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIA TĂNG
VÀ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée
(viết tắc là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT), được dịch ra
tiếng Việt là thuế giá trị gia tăng. Hiện nay, thuế giá trị gia tăng đã được áp dụng
rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và đã có khoảng 156 quốc gia áp dụng loại thuế
này.
Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ
phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Giá trị gia tăng là khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ khi qua mỗi giai
đoạn của quá trình sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ. Phần giá trị tăng thêm ở mỗi
giai đoạn bao gồm: tiền lương, tiền công, lợi nhuận, lợi tức cổ phần, tiền lãi vay ngân
hàng phải trả và các khoản chi phí phát sinh. Nói cách khác, GTGT là phần chênh lệch
giữa giá đầu ra với giá đầu vào do đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình thực hiện sản
xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Thuế GTGT có những đặc điểm cơ bản sau:
- Thuế GTGT là một loại thuế gián thu. Tính gián thu của thuế GTGT được
biểu hiện ở việc người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau.
Người mua hàng hóa, dịch vụ là người phải trả thuế GTGT thông qua giá mua hàng
hóa, dịch vụ. Người bán hàng hóa, dịch vụ thực hiện nộp khoản thuế GTGT “đã
được người mua trả” vào ngân sách nhà nước.
- Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn. Thuế GTGT đánh vào
tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh, từ sản xuất, lưu thông đến
tiêu dùng, nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Tổng số
thuế GTGT thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán
cho người tiêu dùng cuối cùng.
- Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao. Tính trung lập biểu hiện ở hai
khía cạnh:
các vai trò đó thành ba vai trò cơ bản như sau:
Thứ nhất, thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước.
Thuế GTGT là công cụ tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu cho
ngân sách nhà nước. Thuế GTGT tập trung thu ngay từ khâu đầu (sản xuất hoặc
8
nhập khẩu) nên đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, hạn chế thất thu. Thuế
GTGT được tính và thu vào từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh
doanh nên làm tăng nguồn thu và đảm bảo huy động kịp thời cho ngân sách nhà
nước. Việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua hàng đã
thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hoá đơn, ghi đúng doanh thu với
giá trị thực của hoạt động mua bán, góp phần khắc phục được tình trạng thông đồng
giữa người mua và người bán để trốn lậu thuế, giảm thất thu cho ngân sách nhà
nước. Ở Việt Nam, tỷ lệ thuế GTGT trong tổng số thu ngân sách nhà nước hàng
năm (trừ dầu thô) chiếm khoảng 26%.
Thứ hai, thuế GTGT là công cụ điều tiết vĩ mô và vi mô nền kinh tế.
- Thuế GTGT điều tiết sản xuất và tiêu dùng. Luật thuế GTGT quy định đánh
thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hay thấp vào các mặt hàng
cụ thể, thông qua đó tác động và làm thay đổi mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị
trường, tác động tới việc lựa chọn những hàng hoá, dịch vụ để sản xuất, kinh doanh
và tiêu dùng, góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
- Thuế GTGT khuyến khích hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất. Trong hoạt
động đầu tư tài sản cố định, toàn bộ số thuế GTGT mà doanh nghiệp phải trả khi
mua sắm tài sản cố định sẽ được Nhà nước cho khấu trừ hoặc hoàn lại. Còn khi
nhập khẩu máy móc thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây
chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần
nhập khẩu để tạo tài sản cố định cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng không
phải nộp thuế GTGT. Đồng thời việc thuế GTGT không đánh vào vốn đầu tư đã
làm cho giá thành các công trình đầu tư trong nước giảm rất nhiều. Do đó, thuế
- Thuế GTGT thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán, kế toán,
phát triển quan hệ thanh toán. Việc doanh nghiệp được phép khấu trừ thuế GTGT của
hàng hoá, dịch vụ mua vào cùng với việc thực hiện hoàn thuế GTGT của Nhà nước
đã khuyến khích các doanh nghiệp tự giác ghi chép, quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng
từ, thúc đẩy việc hoàn thiện công tác hạch toán, kế toán tại đơn vị. Ngoài ra, việc thuế
GTGT đòi hỏi những doanh nghiệp có hàng hoá xuất khẩu phải thanh toán qua ngân
hàng thì mới được hoàn thuế đã thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện thanh toán qua
hệ thống ngân hàng, góp phần phát triển hệ thống thanh toán.
Thứ ba, thuế GTGT là công cụ kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh
của các thành phần kinh tế.
Vai trò này hình thành ngay trong quá trình tổ chức thực hiện Luật thuế
GTGT trong thực tế. Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của
10
chính sách thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi
biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề
và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức
chi tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có. Từ công tác thu thuế mà cơ
quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi
biện pháp tháo gỡ. Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật
được nhiều kiến thức quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm
soát sau này. Như vậy, qua công tác quản lý thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm
soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản
lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
1.2. Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật thuế giá trị gia tăng
1.2.1. Khái niệm pháp luật thuế giá trị gia tăng
Theo lý luận Nhà nước và pháp luật: Pháp luật được hiểu là hệ thống những
qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và
đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các
- Nhóm các quy phạm pháp luật quy định việc tính thuế GTGT như căn cứ
tính thuế, phương pháp tính thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế.
Xuất phát từ đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình nộp thuế GTGT là quan hệ bất bình đẳng, vì vậy, phương pháp điều chỉnh của
pháp luật thuế GTGT là phương pháp mệnh lệnh – quyền uy. Theo phương pháp
này các chủ thể tham gia quan hệ thuế GTGT có tư cách pháp lý không bình đẳng.
Một bên trong mối quan hệ (các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có quyền đơn
phương ra các quyết định thực hiện các quyền và nghĩa vu theo quy định của pháp
luật mà không cần sự thỏa thuận của các chủ thể có nghĩa vụ thuế GTGT.
1.2.2. Những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật thuế giá trị gia tăng
Pháp luật thuế GTGT gồm các quy định xác định nghĩa vụ thuế GTGT và các
quy định về tổ chức thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT.
1.2.2.1. Xác định nghĩa vụ thuế GTGT
Để xác định được nghĩa vụ thuế GTGT, pháp luật quy định các nội dung sau::
* Đối tượng chịu thuế GTGT:
Phạm vi đối tượng chịu thuế GTGT rất rộng, bao gồm tất cả các hàng hóa,
dịch vụ được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu phục vụ cho tiêu dùng trong
nước. Hoạt động tiêu dùng trong nước có thể là tiêu dùng cho hoạt động sản xuất
12
kinh doanh, tiêu dùng cho các hoạt động không sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng
cá nhân.
Theo quy định tại Điều 3 Luật thuế GTGT Việt nam thì đối tượng chịu thuế
GTGT là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam,
trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT.
* Đối tượng không chịu thuế GTGT:
Các đối tượng không chịu thuế GTGT được quy định tại Điều 5 Luật thuế
GTGT, Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT và các văn
đối tượng không cư trú tại Việt Nam.
- Tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT
bán tài sản.
- Tổ chức, cá nhân chuyển nhượng dự án đầu tư để sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT cho doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán
sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản chưa chế biến thành các sản phẩm
khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh
doanh thương mại.
- Tài sản cố định đang sử dụng, đã thực hiện trích khấu hao khi điều chuyển
theo giá trị ghi trên sổ sách kế toán giữa cơ sở kinh doanh và các đơn vị thành viên
do một cơ sở kinh doanh sở hữu 100% vốn hoặc giữa các đơn vị thành viên do
một cơ sở kinh doanh sở hữu 100% vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT
- Các trường hợp khác: góp vốn bằng tài sản để thành lập doanh nghiệp; điều
chuyển tài sản giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc trong doanh nghiệp, điều
chuyển tài sản khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh
nghiệp; thu đòi người thứ 3 của hoạt động bảo hiểm; các khoản thu hộ không liên
quan đến bán hàng hóa, dịch vụ; doanh thu hàng hóa, dịch vụ nhận bán đại lý và
doanh thu hoa hồng tự hoạt động đại lý bán đúng giá; doanh thu hàng hoá, dịch vụ
và doanh thu hoa hồng đại lý được hưởng từ hoạt động đại lý bán hàng hoá, dịch vụ
thuộc diện không chịu thuế GTGT...
* Người nộp thuế GTGT:
Theo quy định tại Điều 4 Luật thuế GTGT thì người nộp thuế GTGT là tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và tổ chức, cá
nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT.
* Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng
14
15
phải nộp là phương pháp khấu trừ thuế GTGT và phương pháp tính trực tiếp trên
GTGT (Điều 9 Luật thuế giá trị gia tăng).
- Phương pháp khấu trừ thuế: áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện
đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán,
hoá đơn, chứng từ. Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế bằng
số thuế GTGT đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ (Điều 10 Luật thuế
giá trị gia tăng).
Số thuế GTGT
phải nộp
=
Số thuế GTGT
đầu ra
-
Số thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ
(1.1)
- Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT: áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp
tác xã có doanh thu hàng năm dưới một tỷ đồng, mới thành lập (trừ trường hợp đăng
ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ), cá nhân, hộ kinh doanh, tổ chức, cá
nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật Đầu tư và các tổ chức khác không
16
mại, tổ chức tín dụng. Cơ quan quản lý thuế, Kho bạc nhà nước sử dụng mã số thuế
trong quản lý thuế và thu thuế vào NSNN.
Đăng ký thuế là nội dung đầu tiên của quy trình quản lý thuế. Thông qua
hoạt động này, cơ quan thuế sẽ nắm bắt được những thông tin ban đầu của đối
tượng nộp thuế và từ đó tiến hành hoạt động quản lý cụ thể.
Trong quá trình hoạt động, khi có thay đổi thông tin đăng ký thuế thì người
nộp thuế phải thông báo thay đổi thông tin và thực hiện các thủ tục liên quan về
thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp và cơ quan đăng ký kinh doanh (đối với
doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh nghiệp) để làm thủ tục cập nhật thay đổi
thông tin.
Khi phát sinh trường hợp chấm dứt hiệu lực mã số thuế, tổ chức, cá nhân
hoặc người đại diện theo pháp luật của người nộp thuế có trách nhiệm thông báo với
cơ quan quản lý trực tiếp để thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế và công
khai việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
* Khai thuế, tính thuế
Khai thuế, tính thuế là việc NNT tự kê khai và tự xác định số thuế phải nộp
phát sinh trong kỳ tính thuế theo quy định của Luật thuế và các văn bản hướng dẫn
thi hành. NNT chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu trong hồ sơ khai
thuế. Việc quản lý khai thuế, tính thuế của cơ quan thuế gồm:
- Quản lý tình trạng kê khai của NNT:
+ Quản lý NNT phải nộp hồ sơ khai thuế (HSKT): Hàng tháng trước thời hạn
nộp HSKT của NNT, bộ phận Kê khai và kế toán thuế (KK&KTT) thực hiện tra
cứu, rà soát, cập nhật Danh sách theo dõi NNT phải nộp HSKT để xác định số
lượng HSKT phải nộp và theo dõi, đôn đốc tình trạng kê khai của NNT.
+ Quản lý NNT thay đổi về kê khai thuế đối với NNT chuyển đổi phương
pháp tính thuế GTGT (theo đề nghị của NNT hoặc do cơ quan thuế quyết định): Bộ
phận KK&KTT, căn cứ kết quả kiểm tra của bộ phận Kiểm tra thuế về các điều kiện