VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS.TRẦN ĐÌNH THIÊN
HÀ NỘI, năm 2019
điều kiện hội nhập quốc tế giai đoạn 2014 – 2018................................................ 32
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động du lịch
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong điều kiện hội nhập quốc tế giai đoạn
2014 – 2018................................................................................................................................ 44
2.3. Đánh giá chung về quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động
du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong điều kiện hội nhập quốc tế
giai đoạn 2014 – 2018.......................................................................................................... 54
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI
NHẬP QUỐC TẾ.......................................................................................................................... 59
3.1. Bối cảnh phát triển mới và các yêu cầu khách quan đặt ra cho sự phát
triển và quản lý nhà nước đối với du lịch Ninh Bình trong giai đoạn tới..59
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế đối với
hoạt động du lịch trong điều kiện hội nhập quốc tế.............................................. 65
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 78
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch đang ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đấu của nền kinh tế
- xã hội (KT-XH), là cầu nối tình hữu nghị, là phương tiện giữ gìn hòa bình và
hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc. Ở nhiều quốc gia, du lịch là một trong những
ngành kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, đem lại
những lợi ích phát triển KT-XH to lớn.
Hoạt động du lịch (HĐDL) tăng cả bề rộng lẫn chiều sâu. Có thể nói rằng
không có ngành kinh tế đi tắt đón đầu đuổi kịp trình độ phát triển của các nước
Các loại hình du lịch này đều có thể thu hút khách đến thăm quan vui chơi giải trí
và lưu trú dài ngày ở Ninh Bình. Với tiềm năng sẵn có về mặt cảnh quan tự nhiên,
di tích văn hóa lịch sử nổi tiếng, là thế mạnh để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn. Dưới góc độ quản lý nhà nước về du lịch và là người quản lý nhà nước,
mục tiêu quản lý nguồn lực công, đầu tư sao đạt hiệu quả cao nhất cho lợi ích
người dân. Thế nhưng, thực tế lại cho thấy, du lịch Ninh Bình chưa có sự bứt phá
đáng kể so với tiềm năng vốn có, người dân chưa thực sự được hưởng lợi nhiều từ
ngành công nghiệp không khói mang tính chủ lực của tỉnh. Điều này phần nào
được lý giải bởi sự quản lý nhà nước còn lúng túng, thực hiện công tác xúc tiến,
quảng bá du lịch chưa thực sự nổi bật, các cơ sở du lịch chưa được kiểm tra, giám
sát dẫn đến chất lượng và uy tín giảm sút. Đối với khách du lịch, tình trạng “chặt,
chém” diễn ra tại nhiều nơi, ảnh hưởng lớn đến tâm lý khách đi du lịch. Nhận thức
vai trò quản lý nhà nước về du lịch, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Ninh Bình cần
nâng cao hơn nữa tầm quan trọng của mình. Chú trọng tuyên truyền đi đôi với xây
dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đáp ứng yêu cầu cấp bách nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh để tồn tại và phát triển, tận dụng mọi tiềm năng sẵn có đưa du lịch Ninh
Bình tương xứng với vị trí là trung tâm du lịch quan trọng và nổi tiếng cả nước. Để
đạt được điều này, cần phải có sự nỗ lực rất lớn của hệ thống chính trị, và chính từ
những người dân quê hương Ninh Bình. Đã có nhiều nghiên cứu, đánh giá của các
chuyên gia, nghiên cứu khoa học về lĩnh vực phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình, tuy nhiên đề tài: "Quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động du
lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong điều kiện hội nhập quốc tế", mong muốn
đóng góp phần nhỏ công sức của mình để phát triển ngành du lịch ở tầm vĩ mô, tạo
ra cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân trên chính mảnh đất Cố đô giàu
truyền thống nhân văn.
2
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3
- Trịnh Đăng Thanh (2004) "Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt
động du lịch ở Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh.
- Nhóm tác giả Phạm Văn Thương, Từ Quang Tuyến, Vũ Ngọc Hiếu..(2010)
“Tìm hiểu tiềm năng, thực trạng hoạt động và đề xuất giải pháp phát triển du lịch
sinh thái ở Vườn Quốc Gia Cát Bà - Thành phố Hải Phòng” Khóa luận tốt nghiệp Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên Môi trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
Và một số công trình khoa học và bài viết khác, các công trình nêu trên là
nguồn tư liệu quý để đề tài tham khảo, kế thừa. Nhìn chung, các công trình đã
nghiên cứu về du lịch, quản lý nhà nước về du lịch có rất nhiều nội dung và đi
vào từng lĩnh vực cụ thể của ngành du lịch nhưng chủ yếu tập trung vào ngành
nghề kinh doanh du lịch và phát triển ngành du lịch để trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn của quốc gia hoặc địa phương. Đề tài: "Quản lý nhà nước về kinh tế đối
với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong điều kiện hội nhập quốc tế"
là một đề tài nâng cao, đồng thời nghiên cứu này có ý nghĩa thiết thực cho công tác
QLNN về kinh tế đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong bối
cảnh hội nhập quốc tế nói riêng và cho địa phương cấp tỉnh nói chung nhằm phát
triển ngành du lịch theo đúng hướng và đạt được mục tiêu đề ra.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế đối
với hoạt động du lịch của Ninh Bình trong điều kiện hội nhập quốc tế, đề xuất
được phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh tế đối với
hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong điều kiện hội nhập quốc tế
nhằm thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh phát triển nhanh và bền vững, đáp ứng yêu
thập thông tin, thống kê, phân tích và tổng hợp, nguồn số liệu được phân tích và
tổng hợp từ các nguồn tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình, từ niên giám
thống kê và trên internet. Làm nổi bật những vấn đề liên quan đến chủ trương,
đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với phát triển du lịch.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về du lịch và quản lý du lịch. Đánh giá tiềm năng, thực trạng du lịch, quản lý du lịch tỉnh Ninh Bình và đề ra giải
pháp phát triển ngành du lịch ở tầm vĩ mô, tạo ra cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho
người dân Ninh Bình.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt
động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn từ 2014 - 2019, làm rõ những
điểm tích cực, hạn chế và nguyên nhân.
Luận văn “Quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động du lịch trên địa
bàn tỉnh Ninh Bình trong điều kiện hội nhập quốc tế” sẽ có những đóng góp nhất
định cho việc nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý nhà nước và nâng cao chất
lượng quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động du lịch tại các địa phương
nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
Luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt
động du lịch trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động du
lịch trong điều kiện hội nhập quốc tế
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh
tế đối với hoạt động du lịch trong điều kiện hội nhập quốc tế.
1.1.1.2.1 Hoạt động du lịch
7
Theo Luật Du lịch 2005: “Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch,
tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan tổ chức, cá nhân
có lien quan đến du lịch”.
Hoạt động du lịch ở đây được tiếp cận bao gồm các dịch vụ trực tiếp và gián
tiếp cho du lịch. Các chủ thể tham gia hoạt động du lịch: khách du lịch, tổ chức cá
nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan tổ chức, cá nhân có liên
quan đến du lịch sẽ có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, không thể
tách rời nhau và là những yếu tố ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển du lịch của
một quốc gia, một vùng, một địa phương.
Hoạt động du lịch giúp phục hồi và tang cường sức khỏe cho nhân daanm có
tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người.
Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng nhân dân có điều kiện tiếp xúc
với những thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc. Làm lành mạnh
nền văn hóa địa phương, đổi mới truyền thống, bảo vệ vùng sinh thái. Từ đó hấp thụ
những yếu tố văn minh của nhân loại nhằm nâng cao dân trí, tăng thêm lòng yêu
nước, tinh thần đoàn kết, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong nhân
dân… Điều này quyết định sự phát triển cân đối về nhân cách của mỗi các nhân
trong toàn xã hội.
Hoạt động du lịch làm tăng khả năng lao động, trở thành nhân tố quan trọng
để đẩy mạnh sản xuất xã hội và nâng cao hiệu quả của nó, góp phần giải quyết vấn
đề lao động và việc làm, có nghĩa là làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Các hoạt động du
lịch là cơ sở quan trọng kích thích sự phát triển kinh tế, là nguồn thu ngoại tệ lớn
cho đất nước.
Hoạt động du lịch đóng vai trò như một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh
giao lưu quốc tế, giúp cho nhân dân các nước hiểu biết thê, về đất nước, c người,
xuất siêu đạt 7,7 tỷ USD (cao nhất từ trước tới nay). Điều này cho thấy, nền kinh tế
Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc, có độ mở và hội nhập cao. Kết quả đó có sự
góp phần quan trọng của mở cửa và hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế
Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Có thể nói, hội nhập quốc tế là một yếu tố quan
trọng thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển.
Bên cạnh những thành công nêu trên, nền kinh tế nước ta đang đứng trước
nhiều khó khăn thách thức. Mặc dù tăng trưởng kinh tế cao, bình quân 6,3%, nhưng
vẫn thấp hơn mục tiêu đề ra của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 20112020, ở mức 7-8%. Tỷ lệ lao động và vốn góp phần tạo nên tăng trưởng kinh tế vẫn
còn ở mức cao (8,4% và 53,3% năm 2018), yếu tố TFP đóng góp vào tăng trưởng
9
kinh tế còn hạn chế, mới ở mức 38,3% năm 2018. Đặc biệt, yếu tố thể chế chưa
được cải thiện, nhiều thói quen và cách quản lý cũ vẫn hiện diện trong các văn bản
pháp luật, cơ chế, chính sách ... Theo WEF năm 2018 (GCI 4.0) thì chất lượng thể
chế Việt Nam xếp hạng 94/140 nước trên thế giới. Do đó, cần phải đổi mới mạnh
mẽ hơn nữa thể chế nhằm tạo cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam phát triển.
Hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra nhiều thời cơ
cho các nước phát triển nhanh và bền vững, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức nếu
không nắm bắt kịp xu thế này. Hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0 là
một xu thế tất yếu để mang lại phồn vinh và giàu mạnh cho những nước nắm bắt
được thời cơ, đổi mới mạnh mẽ mọi mặt của nền kinh tế. Một trong những khâu đột
phá là đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế để theo kịp với hội nhập quốc tế sâu
rộng và Cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển và lan rộng nhanh chóng.
Hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang làm thay đổi
mọi vấn đề, từ tư duy, nhận thức, tầm nhìn, phương thức và hình thức đến cơ chế,
chính sách, giải pháp trong quản lý nhà nước về kinh tế. Hội nhập quốc tế làm cho
các quốc gia có nhiều cơ hội để mở rộng và tiếp cận dễ dàng với các quốc gia khác
không chỉ trong quản lý kinh tế mà còn trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế,
tiễn, cũng như thực hiện chính sách sẽ được thực hiện tốt hơn và chính xác hơn,
nhanh chóng hơn. Hội nhập quốc tế gắn liền với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0
làm thay đổi nhanh chóng, có tính đột phá mọi sự quản lý về kinh tế đỏi hỏi các
chính phủ phải có giải pháp, phương thức và hình thức quản lý kinh tế phù hợp.
Công tác tuyên tuyền, giáo dục và phổ biến chủ trương, đường lối, cơ chế,
chính sách và giải pháp quản lý kinh tế của nhà nước và sự phản hồi của nhân dân,
của các tổ chức chính trị - xã hội... về tính đúng đắn, phù hợp của chính sách và giải
pháp quản lý của nhà nước về kinh tế dễ dàng hơn khi vận dụng thành quả của Cách
mạng công nghiệp 4.0, của mạng xã hội, của hệ thống thông tin rộng khắp và của
hội nhập quốc tế. Nhờ có Cách mạng công nghiệp 4.0, với các công cụ hiện đại,
việc đưa quản lý nhà nước về kinh tế thay đổi từ đường lối, định hướng đến cơ chế,
chính sách, giải pháp cụ thể vì có căn cứ hơn, khoa học hơn, sâu sắc hơn với tầm
nhìn dài hơn, xa hơn, đầy đủ hơn và xác đáng hơn.
Hội nhập quốc tế cho phép các quốc gia tham chiếu, học hỏi nhau mô hình
phát triển. Bên cạnh đó, nhờ có Cách mạng công nghiệp 4.0 mà việc hoạch định
chính sách tốt hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn; đồng thời dễ phát hiện và định
lượng được những rào cản có thể xuất hiện và có biện pháp để xử lý, giải quyết và
11
loại bỏ các rào cản này, bảo đảm cho hoạch định chính sách kinh tế đạt được như
mong đợi.
Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế giúp cho các quốc gia có tầm nhìn về kinh tế
xa hơn, có hiểu biết không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà cả trên toàn thế giới.
Cách mạng công nghiệp 4.0 làm cho các quốc gia khi đưa ra tầm nhìn chiến lược về
kinh tế thuận lợi hơn và có cơ sở khoa học hơn, cũng như tạo điều kiện để quá trình
hoạch định chính sách kinh tế có thể thực hiện nhanh hơn, tốt hơn và khoa học hơn.
Hơn nữa, việc hoạch định chính sách kinh tế có thể rút ngắn khoảng cách, thời gian,
rút ngắn một số bước mà chất lượng chính sách có thể cao hơn, tốt hơn. Đặc biệt,
từng bước thay đổi từ chỗ nhiều công nhân, lương thấp, thu nhập thấp đến chỗ ít
công nhân, thay vào đó là robot và các thiết bị điều khiển từ xa, lương cao, thu nhập
cao. Như vậy, đến một ngày nào đó, nền kinh tế hầu như không dùng tiền mặt trong
thanh toán mua, bán, trao đổi hàng hóa mà hoàn toàn sử dụng thẻ tín dụng, qua hệ
thống ngân hàng. Doanh thu, lợi nhuận, nộp thuế, các chi phí... của các doanh
nghiệp, các chủ thể sản xuất kinh doanh sẽ được minh bạch, được kiểm soát. Nguồn
thu nhập, tổng tài sản của người dân cũng được thông tin đầy đủ cho nhà nước mỗi
khi nhà nước cần. Như vậy, trong điều kiện hội nhập quốc tế và Cách mạng công
nghiệp 4.0, nhà nước cần bất kỳ thông tin nào về hoạt động kinh tế của các nhà sản
xuất kinh doanh, về thị trường và về người dân đều có thể tiếp cận được.
Như vậy, với điều kiện hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp
4.0, quản lý nhà nước về kinh tế sẽ được thực hiện hiệu quả và tốt hơn vai trò của
mình về khắc phục khuyết tật thị trường, hỗ trợ thị trường, định hướng XHCN, định
hướng và thực hiện hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, thực hiện
nhà nước kiến tạo, phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp... Hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng và Cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển mạnh mẽ thì bộ máy
hành chính nhà nước phải được hiện đại hóa, thực hiện trên nền tảng công nghệ cao,
công khai minh bạch. Nhiều khâu của quản lý nhà nước được tự động hóa, được kết
nối và được xử lý online. Thủ tục, giấy tờ sẽ dần bị loại bỏ thay vào đó là lưu trữ
trên mạng, điện toán đám mây, trong big data. Chữ ký điện tử có thể từng bước
được thay thế chữ kỹ trên giấy để rút ngắn thời gian và điều kiện cho người dân.
Nhiều hội họp bị kéo dài và tốn kém sẽ được thay bằng các diễn đàn trao đổi trên
mạng, trên thư điện tử. Kết nối trực tuyến sẽ trở thành hoạt động thông thường của
người dân và các cơ quan nhà nước.
13
Nhờ có hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0 mà tất cả tài nguyên,
tài sản quốc gia được hệ thống hóa, thống kê và quản lý trên hệ thống big data như:
14
khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động du lịch trong điều kiện hội nhập quốc tế
Từ khái niệm đã phân tích ở mục 1.1.1 của Luận văn, tác giả có thể rút ra
một số đặc điểm chủ yếu của các hoạt động du lịch như sau:
Thứ nhất: Hoạt động du lịch mang đầy đủ tính chất của một ngành dịch vụ.
Hiện nay, Việt Nam với nền sản xuất xã hội cùng với khoa học - kỹ thuật -
công nghệ phát triển với tốc độ rất cao, điều đó đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình
làm gia tăng nhu cầu phục vụ sản xuất, phân công lao động xã hội, cũng như
cuộc sống văn minh của con người. Từ đó, hoạt động du lịch trở thành một
ngành kinh tế độc lập. Ở các nước phát triển và đang phát triển, trong thu nhập
quốc dân tỷ trọng du lịch ngày càng tăng lên. Du lịch là một ngành dịch vụ. Sản
phẩm du lịch và quá trình sản xuất của nó vừa mang những đặc điểm chung của
dịch vụ vừa mang những đặc điểm riêng của dịch vụ du lịch.
Thứ hai: Hoạt động du lịch là loại hình dịch vụ nhằm thỏa mãn những
nhu cầu tinh thần và vật chất cho khách du lịch trong thời gian đi du lịch.
Hoạt động du lịch khác với hoạt động của các ngành dịch vụ khác ở chỗ:
Hoạt động du lịch chỉ thỏa mãn nhu cầu cho những đối tượng là khách du lịch
chứ hoạt động du lịch không thỏa mãn nhu cầu cho tất cả mọi đối tượng người
dân. Hoạt động du lịch là nhằm thỏa mãn nhu cầu hàng hóa đặc thù riêng của
khách du lịch trong thời gian lưu trú bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ
về nghỉ ngơi, đi lại, ăn, ở, tham quan, vui chơi giải trí, lịch sử, tập quán, thông tin
về văn hóa và các nhu cầu khác. Như vậy, dịch vụ du lịch là loại hình dịch vụ đời
sống nhằm thỏa mãn các nhu cầu cao cấp của con người, làm cho con người sống
ngày càng phong phú hơn. Thực tế cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới hiện nay,
khi bình quân thu nhập của người dân đã tăng lên không chỉ còn là đủ ăn, đủ mặc
thì nhu cầu được du lịch trở thành không thể thiếu, vì ngoài việc thỏa mãn những
nghị giữa các dân tộc. Ngược lại, chiến tranh sẽ ngăn cản hoạt động về du lịch,
tạo nên những tình trạng mất an ninh, phá hoại các công trình du lịch, làm tổn
hại rất lớn đến toàn bộ môi trường tự nhiên. Hòa bình lại là đòn bẩy, giúp đẩy
mạnh những hoạt động du lịch. Du lịch sẽ có tác dụng trở lại việc cùng tồn tại
hòa bình. Thông qua những hoạt động du lịch quốc tế, con người thể hiện
16
nguyện vọng của mình chính là được sống, lao động trong môi trường hòa bình
và hữu nghị. Không chỉ có chiến tranh mà cả những biến động chính trị - xã hội
với mức độ nhất định cũng sẽ làm cho hoạt động du lịch nơi đó bị giảm sút một
cách đột ngột, đặc biệt muốn khôi phục lại cần phải có rất nhiều thời gian. Ví dụ,
những vụ khủng bố như: ngày 11/9 tại Hoa Kỳ hay cuộc khủng bố tại Bali Indonêxia hoặc sự kiện ‘‘đảo chính’’ ở đất nước Thái Lan... những vụ việc trên
đã làm cho ngành du lịch của các quốc gia này khó khăn, thậm chí có thể rất
nhiều năm mới phục hồi. Không những vậy, tình trạng dịch bệnh, ô nhiễm môi
trường... cũng là những yếu tố vô cùng quan trọng tác động đến khách du lịch.
1.1.3. Ý nghĩa của hoạt động du lịch trong điều kiện hội nhập quốc tế
1.1.3.1. Ý nghĩa về kinh tế
Hoạt động du lịch phát triển sẽ kéo theo việc tăng nguồn thu ngân sách
cho các địa phương có hoạt động du lịch, cụ thể là tăng ngân sách từ các khoản
trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộc sự quản lý trực tiếp của các
địa phương và còn từ những khoản thuế phải nộp của các tổ chức kinh doanh du
lịch trên địa bàn.
Hoạt động du lịch thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác.
Trước hết hoạt động kinh doanh du lịch còn đòi hỏi những hỗ trợ, nỗ lực của
nhiều ngành, yêu cầu về sự hỗ trợ liên ngành, là cơ sở cho các ngành khác phát
triển. Đối với những hoạt động sản xuất xã hội, du lịch còn giúp mở ra thị trường
nhằm tiêu thụ hàng hóa. Mặt khác, du lịch phát triển sẽ tạo ra những điều kiện
khác để khách du lịch tìm hiểu được thị trường, thậm chín ký kết hợp đồng về
Về phương diện kinh tế: du lịch còn là phương tiện giúp tuyên truyền,
quảng cáo rất hữu hiệu cho hàng hóa nội địa ra nước ngoài thông qua những
khách du du lịch. Khách hàng được làm quen tại chỗ với các mặt hàng công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp... Một số sản phẩm làm cho du khách hài lòng, về
nước, du khách tuyên truyền cho bạn bè, người thân... và nhiều khi bắt đầu tìm
kiếm các mặt hàng đó ở nước mình và nếu không thấy, khách có thể yêu cầu các
cơ quan ngoại thương nhập các mặt hàng đó.
Về phương diện xã hội: hoạt động du lịch giúp tuyên truyền, quảng cáo rất
có ích về các thành tựu kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội, giới thiệu đặc trưng
riêng về con người, phong tục, tập quán... nơi họ đã đến.
Thông qua hoạt động du lịch con người được thay đổi môi trường, có ấn
tượng và cảm xúc mới, thỏa mãn được trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp
ứng lòng ham hiểu biết, do đó góp phần hình thành phương hướng đúng đắn trong
18
mơ ước sáng tạo, trong kế hoạch cho tương lai của con người - khách du lịch. Trong
thời gian đi du lịch, khách thường dùng những dịch vụ, hàng hóa và
thường xuyên tiếp xúc với những dân cư địa phương. Thông qua những cuộc tiếp
xúc đó, văn hóa của cả du khách và cả người bản xứ được trao đổi và nâng cao hơn .
Hoạt động du lịch còn giúp phong phú hơn khả năng thẩm mỹ của con người khi
được tham quan những kho tàng mỹ thuật của một địa phương, một đất nước.
Hoạt động du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn và
nâng cao truyền thống của dân tộc. Thông qua các chuyến du lịch du khách trong
nước còn có điều kiện làm quen với những cảnh đẹp, với lịch sử và văn hóa dân
tộc, qua đó thêm yêu đất nước mình.
Việc phát triển hoạt động du lịch còn có ý nghĩa to lớn với hoạt động khai
thác, bảo tồn những di sản văn hóa của dân tộc, thúc đẩy sự phát triển của những
nữa của Nhà nước để ngành du lịch phát triển.
Tóm lại, hoạt động du lịch trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cần
phải có sự quản lý của Nhà nước bởi vì:
Do còn có những khuyết tật và hạn chế của quá trình hội nhập gây nên.
Bên cạnh đó, Nhà nước còn đóng vai trò chủ đạo trong điều tiết sự phát triển của
nền kinh tế, thể hiện ở quá trình định hướng phát triển kinh tế - xã hội nói chung,
cũng như đối với ngành du lịch nói riêng trong từng thời kỳ. Nhà nước còn có
vai trò to lớn trong việc điều tiết, can thiệp vào các quan hệ du lịch nhằm đảm
bảo sự ổn định và phát triển bền vững của ngành.
Quản lý nhà nước về hoạt động du lịch tạo sự thống nhất về tổ chức và
phối hợp những hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt
động du lịch. Bên cạnh đó, sự quản lý thống nhất của Nhà nước về kinh tế đối
với hoạt động du lịch mới giúp cho hoạt động khai thác những thế mạnh của mỗi
vùng,mỗi địa phương đạt kết quả tốt, phát huy được những lợi thế của quốc gia
trong phát triển du lịch quốc tế.
Hiện nay, ngành du lịch còn là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam. Nó
liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác. Do vậy, cần có sự quản lý của
Nhà nước về kinh tế đối với hoạt động du lịch để điều hòa quan hệ giữa ngành
du lịch với các ngành, các lĩnh vực khác có liên quan.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra cách hiểu khái quát về
20