GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN THẾ CHẤP ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH PHÚ THỌ - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VIỆT DŨNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN THẾ CHẤP
ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VIỆT DŨNG

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN THẾ CHẤP
ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TẠI TỈNH PHÚ THỌ

Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH HẢO

Hà Nội - 2019


chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ .....30
2.3. Thực trạng giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền
vay Ngân hàng tại Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ. ....................................34
2.4. Kết luận chung rút ra từ thực trạng giải quyết tranh chấp về tài sản thế
chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ. ...........44
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN THẾ CHẤP ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY
NGÂN HÀNG ...........................................................................................................50
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp về tài
sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án ................................50
3.2. Giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi pháp luật về giải quyết
tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án ........54
KẾT LUẬN ...............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................80


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Việt Nam, trước nhu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triền kinh
tế, việc tạo lập, vận hành một thị trường tài chính tiền tệ lành mạnh thông qua
hệ thống Ngân hàng, hiệu quả là một nhu cầu tất yếu. Ngày nay, các Ngân
hàng ở Việt Nam có nhiều loại hình hoạt động với những tên gọi khác nhau.
Đến cuối năm 2018, hệ thống các Ngân hàng, tổ chức tín dụng trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ đang có tổng cộng 20 (chi nhánh Cấp 1) và 39 quỹ tín dụng
nhân dân.
Những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có bước phát triển, đáng ghi
nhận. Hệ thống Ngân hàng và hoạt động tín dụng có những bước phát triển đột
phá, góp phần quan trọng trong nền kinh tể của nước ta. Mặc dù vậy, gần đây,
trong hoạt động của mình, Ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn. Những năm
gần đây, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường nên đời sống xã hội cũng

nghĩa thực tế. Trước thực tế này tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giải quyết tranh
chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng từ thực tiễn xét xử
của Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn thạc sỹ là đáp ứng
yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn công tác giải quyết tranh chấp về tài sản thế
chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân
ở tỉnh Phú Thọ cũng như hoạt động của các Ngân hàng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án trong việc giải
quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng ngày
được cải cách cho phù hợp với thực tiễn. Cùng với đó là việc giải quyết tranh
chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng đã từng bước được
xây dựng cả về cơ sở pháp lý và tổng kết thực tiễn áp dụng. Với hệ thống các
văn bản pháp luật về hợp đồng dân sự nói chung, hợp đồng tín dụng Ngân
hàng nói riêng đã không ngừng được bổ sung, hoàn thiện. Việc làm này đã
giúp cho việc đảm bảo tiền vay của các ngân hàng từng bước có hiệu quả cao

2


hơn, đáp ứng yêu cầu thực tế.
Nhằm hạn chế sự gia tăng của tình trạng các khoản nợ không trả được,
Quốc hội đã ban hành riêng một Nghị quyết về xử lý, thu hồi nợ theo Nghị
quyết số 42/2017/NQ14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ
xấu của các Tổ chức tín dụng;
Đồng thời với đó là việc Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết
số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 Hướng dẫn áp dụng một số quy định
của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của
khoản nợ tại Tòa án nhân dân.
Liên quan đến việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về giải quyết
tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay cho Ngân hàng, đã có

hàng thương mại: Những bất cập và hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn
Kiên Bích Tuyền – giảng viên Đại học Ngân hàng TP. HCM, nghiên cứu sinh
tại Đại học Luật TP. HCM (đăng trong tạp chí Tòa án nhân dân số 18/2018).
- Bài viết: “Thế chấp tài sản – biện pháp bảo đảm thông dụng và một số
vấn đề cần lưu ý” của tác giả Tưởng Duy Lượng – Nguyên Phó Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao (đăng trong tạp chí Tòa án nhân dân số 05/2019).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, pháp luật về giải quyết tranh
chấp về tài sản thế chấp, thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để
đảm bảo tiền Ngân hàng tại Tòa án từ thực tiễn của Tòa án nhân dân ở tỉnh
Phú Thọ; từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả trong việc giải quyết lĩnh vực này.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề cơ bản nhất về tranh chấp về tài sản thế
chấp và giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân
hàng bằng phương thức Tòa án;
Thứ hai, đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những ưu
điểm, hạn chế trong thực hiện giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo

4


đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân ở
tỉnh Phú Thọ;
Thứ ba, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và
đảm bảo thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo
đảm tiền vay Ngân hàng tại Tòa án.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1.Đối tượng nghiên cứu

chấp qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ. Từ đó đề xuất
những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực thi pháp
luật về giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân
hàng bằng phương thức Tòa án.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể vận dụng làm kinh nghiệm cho các
địa phương khác, tổng kết kinh nghiệm xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân.
Đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy,
học tập trong các cơ sở đào tạo luật và các cơ sở đào tạo chức danh tư pháp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ
lục, nội dung của Luận văn được kết cấu theo truyền thống gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp về tài sản
thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng bằng phương thức Tòa án.
Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm
tiền vay Ngân hàng qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Phú Thọ.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi
pháp luật về giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay
Ngân hàng tại Tòa án.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỀ TÀI SẢN THẾ CHẤP ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG
BẰNG PHƯƠNG THỨC TÒA ÁN
1.1. Khái niệm, đặc điểm tranh chấp về tài sản thế chấp bảo đảm
tiền vay Ngân hàng
1.1.1. Khái niệm.
Tranh chấp phát sinh từ tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng

chức, cá nhân ngoài xã hội mà không phải là Ngân hàng.
Về phía bên cho vay là Ngân hàng, bên cạnh vai trò là chủ thể cung
ứng vốn cho nền kinh tế thì Ngân hàng còn đóng vai trò là người đi vay của
các chủ thể khác để cho vay lại. Để đạt được lợi nhuận cao thì các Ngân hàng
thường kí kết các HĐTD có giá trị lớn dựa trên định giá tài sản đảm bảo tại
thời điểm cho vay. Do bên vay vốn dùng khoản vay này phần lớn để đầu tư
cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nếu bên vay không tuân thủ các cam
kết trong hợp đồng, không trả nợ cho các Ngân hàng sẽ làm ảnh hưởng xấu
đến hoạt động của Ngân hàng đó. Thực tế không hiếm các trường hợp các
Ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả do “nợ xấu’. Một khi
khách hàng vay không thể thanh toán được nợ, tranh chấp xảy ra thì Ngân
hàng sẽ là chủ thể bị thiệt hại lớn vì nguồn vốn bị ứ đọng, phải thực hiện các
biện pháp khắc phục, mục đích lợi nhuận ban đầu không còn hoặc bị gián
đoạn. Đặc biệt, nếu tranh chấp HĐTD phải khởi kiện tại Tòa án thì càng gây
khó khăn cho Ngân hàng khi muốn thu hồi vốn. Bởi khi đã bị khởi kiện tại
Tòa án thì thường là người đi vay không còn có khả năng trả nợ cho Ngân
hàng. Mặt khác, khi tranh chấp HĐTD xảy ra thì Ngân hàng sẽ mất lòng tin
với khách hàng vay vốn, các HĐTD tiếp theo sẽ khó mà thực hiện, kể cả khi
bên đi vay chứng minh lại được khả năng tài chính của mình. Do đó, có thể
nói tranh chấp HĐTD là loại tranh chấp có giá trị thiệt hại lớn, không chỉ ảnh

8


hưởng đến bên cho vay mà còn cả đối với bên đi vay. Thậm chí nếu tranh
chấp xảy ra nhiều thì ảnh hưởng đó không chỉ ảnh hưởng đến một Ngân hàng
mà có thể ảnh hưởng dây chuyền đến các Ngân hàng khác trong nền kinh tế.
- Thứ hai, tranh chấp HĐTD Ngân hàng được giải quyết dựa trên
nguyên tắc tự do thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật của các bên tham gia
tranh chấp.

Nguyên tắc tự do thỏa thuận khi giải quyết tranh chấp giữa các bên
cũng được Bộ Luật tố tụng dân sự thể hiện ở chế định hòa giải. Theo đó, hòa
giải là trách nhiệm của cơ quan tài phán khi có tranh chấp xảy ra và khi đó
các bên có thể thỏa thuận về việc giải quyết vụ án. Ngay cả trước khi diễn ra
hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bên cũng vẫn có quyền thỏa thuận
về việc giải quyết tranh chấp miễn sao thỏa thuận đó phù hợp với các quy
định của pháp luật.
- Thứ ba, tranh chấp HĐTD luôn có sự tham gia của một bên là Ngân
hàng và phần lớn các tranh chấp HĐTD thì nguyên đơn là tổ chức tín dụng
cho vay, bị đơn là bên đi vay.
Với đặc thù của hoạt động tín dụng là sự cung ứng nguồn vốn đến
những tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn trên cơ sở huy động của các tổ
chức, cá nhân có thừa nguồn vốn trong xã hội nên Ngân hàng luôn đóng vai
trò trung gian trong mối quan hệ này. Sự tham gia của Ngân hàng là một dấu
hiệu đặc trưng nhằm phân biệt giữa tranh chấp HĐTD và tranh chấp hợp đồng
vay tài sản thông thường giữa các tổ chức, cá nhân khác mà không phải là
Ngân hàng Ngân hàng
Đồng thời, về mặt lý thuyết, khi tham gia ký kết HĐTD, các Ngân hàng
và khách hàng có địa vị ngang bằng nhau tham gia thỏa thuận. Nhưng với tư
cách là chủ thể có nguồn vốn dồi dào, việc áp đặt các điều kiện cho vay đối
với khách hàng là điều không hiếm xảy ra. Hơn nữa, khi tham gia kí kết hợp
đồng thì hợp đồng thường do bên cho vay là các Ngân hàng soạn thảo với đội
ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn về mặt pháp lý nhất định. Trong khi đó,
chủ thể đi vay là khách hàng thường là các tổ chức, cá nhân, trình độ chuyên

10


môn về mặt pháp lý của họ còn thấp và nhiều khi không được chú trọng đúng
mức. Và như vậy là hợp đồng được kí kết với các điều khoản chặt chẽ nhằm

Ngân hàng nhưng không phải là cơ bản nên ít xảy ra hơn so với tranh chấp về
nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi hay tranh chấp về lãi suất, về bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ.
- Thứ năm, tranh chấp HĐTD Ngân hàng thường là tiền đề làm phát
sinh và gắn liền với một quan hệ hợp đồng khác: hợp đồng bảo đảm tiền vay
thông qua hình thức cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
Các Ngân hàng khi tham gia vào HĐTD đều có mục đích lợi nhuận từ
việc cho vay đó vì bản chất của Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền
tệ. Để giảm thiểu rủi ro trong trường hợp bên vay không trả được nợ, thông
thường Ngân hàng chỉ đồng ý cho bên đi vay được vay vốn khi họ có cầm cố,
thế chấp bằng tài sản hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba. Các biện pháp bảo
đảm này đóng vai trò là phương pháp dự phòng của Ngân hàng khi rủi ro xảy
ra. Khi đó, để đảm bảo cho nghĩa vụ được đảm bảo trong HĐTD thì các bên
kí kết hợp đồng bảo đảm cho khoản vay. Tùy trường hợp mà đó có thể là hợp
đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp hay là dưới hình thức chứng thư bảo lãnh
của bên thứ ba. Những điều khoản về quyền và nghĩa vụ trong các hợp đồng
bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn là để bảo đảm cho việc vay vốn, xuất phát từ
hợp đồng tín dụng đã được kí kết và mục đích cuối cùng là bảo đảm cho việc
trả nợ của bên đi vay.
Như vậy, không có trường hợp nào, hợp đồng bảo đảm lại tách rời ra
khỏi HĐTD với tư cách là một hợp đồng độc lập mà giữa chúng luôn có mối
quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau. Có thể ví mối quan hệ này như là mối
quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ. Sự vô hiệu loại hợp đồng này
có ảnh hưởng đến loại hợp đồng kia tùy trường hợp. “Trong trường hợp hợp
đồng có nghĩa vụ được bảo đảm vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng
thì giao dịch bảo đảm chấm dứt, nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp
đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác”. Ngược lại, “giao dịch bảo đảm vô hiệu

12


13


các phương thức giải quyết khác nhau, bản thân mỗi phương thức lại có
những đặc trưng riêng, được thực hiện bằng các quy tắc, hình thức và thủ tục
của nó. Chính vì vậy, mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có những ưu
điểm và hạn chế của mình.
Để lựa chọn được phương thức giải quyết phù với với mục tiêu đạt
được, bản chất tranh chấp, mối quan hệ làm ăn giữa các bên, thời gian và chi
phí dành cho việc giải quyết tranh chấp đòi hỏi các bên phải hiểu rõ bản chất
và cân nhắc các ưu điểm, nhược điểm của từng phương thức. Tuy nhiên, dù là
phương thức giải quyết tranh chấp nào cũng phải đảm bảo quyền bình đẳng,
quyền tự định đoạt của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp theo quy
định của pháp luật.
1.2.2. Đặc điểm giải quyết tranh chấp về tài sản thế chấp để bảo đảm
tiền vay Ngân hàng bằng phương thức tòa án.
Trên thế giới, tùy thuộc vào quan điểm, tư tưởng của các nhà lập pháp
của từng quốc gia mà luật pháp mỗi nước có những quy định khác nhau về
vấn đề giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD Ngân hàng. Mặc dù vậy, hầu
hết các quốc gia đều thừa nhận các hình thức giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại nói chung và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD
Ngân hàng nói riêng bao gồm: thương lượng; hòa giải; trọng tài thương mại
và toà án.
Thực tế cho thấy, mỗi hình thức giải quyết tranh chấp nói trên đều có
những lợi thế và đồng thời cũng thể hiện những điểm hạn chế nhất định. Tùy
thuộc vào tính chất của tranh chấp, mức độ phức tạp của tranh chấp, khả năng
và điều kiện cụ thể của các bên mà các chủ thể tranh chấp có thể lựa chọn
hình thức này hay hình thức khác, hoặc sử dụng phối hợp nhiều hình thức
khác nhau nhằm giải quyết tranh chấp đạt hiệu quả cao nhất.

án sẽ thấp hơn so với trọng tài.
- Trình tự tố tụng nghiêm ngặt, chặt chẽ theo quy định của pháp luật.
- Nguyên tắc xét xử công khai có tính răn đe đối với cá nhân, tổ chức vi
phạm pháp luật.

15


- Các Tòa án, đại diện cho chủ quyền quốc gia, có điều kiện tốt hơn các
trọng tài viên trong việc tiến hành điều tra, có quyền cưỡng chế, triệu tập bên thứ
ba đến Tòa.
- Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án có nhiều cấp xét xử cũng có cái hay
là khả năng sửa sai nếu bản án của một cấp xét xử có sai sót. Ngược lại, một khi
trọng tài đã ra phán quyết, cho dù có sai sót đi chăng nữa cũng chịu vì phán
quyết đó có giá trị chung thẩm và có hiệu lực thi hành ngay.
- Các bên không phải trả thù lao cho thẩm phán, ngoài ra chi phí hành
chính rất hợp lý.
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, hình thức giải quyết tranh chấp thông
qua Tòa án còn có những hạn chế như:
- Hạn chế của phương thức này là thủ tục tại Tòa án thường thiếu linh
hoạt, trình tự tố tụng kéo dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh
doanh một cách bình thường của các bên chủ thể tranh chấp.
- Bên cạnh đó, nguyên tắc xét xử công khai được xem là tiến bộ, mang
tính răn đe nhưng lại là cản trở đối với doanh nhân và doanh nghiệp khi những bí
mật kinh doanh bị tiết lộ. Dù tranh chấp xuất phát từ bên cho vay hay từ bên vay
thì việc bị công khai sai phạm là điều mà các bên chủ thể hoàn toàn không mong
muốn.
- Phán quyết của Tòa án có thể bị kháng cáo dẫn đến vụ tranh chấp bị kéo
dài. Quá trình tố tụng có thể bị trì hoãn và kéo dài, có thể phải qua nhiều cấp xét
xử, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, kinh doanh.

Việc thụ lý vụ án là việc Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của chủ thể
khởi kiện và ghi sổ thụ lý vụ án của Tòa án.
Do vậy, thụ lý vụ án là hành vi tố tụng đầu tiên của Tòa án trong quá
trình giải quyết vụ án dân sự nói chung cũng như vụ án liên quan đến tài sản
thế chấp bảo đảm tiền vay Ngân hàng. Thụ lý vụ án là cơ sở để xác định tư
cách tham gia tố tụng của các đương sự. Việc Tòa án thụ lý kịp thời vụ án sẽ

17


tránh kéo dài hành vi trây ỳ, trốn tránh việc trả nợ, bảo vệ kịp thời, tối đa
những lợi ích hợp pháp của Ngân hàng và những người liên quan.
1.3.2. Tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ
Theo quy định tại Điều 91 và Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 thì trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự đặc biệt là vụ án về
giải quyết tranh chấp tài sản thế chấp để bảo đảm tiền vay Ngân hàng thì
Ngân hàng, tổ chức tín dụng có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ
cho Tòa án, nếu Ngân hàng, tổ chức tín dụng không giao nộp hoặc giao nộp
không đầy đủ tài liệu, chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng
minh. Tuy nhiên, do trình độ hiểu biết pháp luật và dân trí của xã hội chúng ta
vẫn còn nhiều hạn chế nên nhiều đương sự chưa nắm bắt được các quy định
của pháp luật về nghĩa vụ chứng minh hoặc vì nhiều lý do khách quan họ
không thể tự mình thu thập chứng cứ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. Do vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 thì Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau
đây để thu thập tài liệu, chứng cứ sau đây:
“a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm
chứng;
c) Trưng cầu giám định;

điều kiện lấy lại tài sản đã thế chấp.
Khi tiến hành hòa giải Tòa án phải tuân thủ theo các nguyên tắc tiến hành
hòa giải, trình tự theo quy định tại Điều 205, Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015. Thông qua việc tiếp cận, công khai chứng cứ, các đương sự thực hiện
quyền của mình trong đó có việc tranh tụng. Tiếp cận, công khai chứng cứ và
hòa giải trong vụ án dân sự là một thủ tục bắt buộc. Khi Tòa án tiến hành hòa
giải, đương sự có quyền và nghĩa vụ tham gia phiên hòa giải để trình bày ý kiến
của mình về những nội dung tranh chấp liên quan đến tài sản thế chấp và đề xuất
những vấn đề cần hòa giải. Sau khi đương sự đã trình bày xong ý kiến của mình

19


thì Thẩm phán sẽ xác định lại những vấn đề các bên đã thống nhất, vấn đề chưa
thống nhất thì yêu cầu đương sự trình bày bổ sung, sau đó Thẩm phán kết luận
cuối cùng. Việc hòa giải phải lập biên bản, có chữ ký của các bên.
Sau khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn
bộ vụ án thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành, biên bản này phải gửi ngay
cho các đương sự tham gia hòa giải. Các đương sự có quyền thay đổi ý kiến
về vấn đề thỏa thuận trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải
thành, hết thời hạn 7 ngày nếu không có đương sự nào thay đổi ý kiến về việc
thỏa thuận thì Thẩm phán sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự. Nội dung hòa giải chỉ có giá trị pháp lý đối với những đương sự có
mặt tại phiên hòa giải. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có
hiệu lực pháp luật ngay không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm. Nếu việc hòa giải không thành, Thẩm phán sẽ ra quyết định đưa vụ án
ra xét xử.
1.3.4. Xét xử tại phiên tòa
Nếu Tòa án hòa giải không thành, các đương sự không thỏa thuận được
với nhau về những vấn đề đang tranh chấp về việc trả tiền vay Ngân hàng thì

Theo quy định tại Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì sau
khi đã hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung yêu cầu, chủ tọa phiên tòa sẽ
hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án không,
nếu họ tự nguyện thỏa thuận và sự thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của
pháp luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra công nhận sự
thỏa thuận đó. Trường hợp nếu các đương sự không thỏa thuận được và vẫn
giữ nguyên yêu cầu thì Hội đồng xét xử bắt đầu xét xử bằng việc yêu cầu
đương sự trình bày ý kiến của mình theo thứ tự bắt đầu từ nguyên đơn, tiếp
đến là bị đơn, cuối cùng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nếu các
đương sự có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp sẽ trình bày thay đương sự (phiên tòa sơ thẩm).
Thứ tự hỏi tại phiên tòa sơ thẩm như sau:

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status