TRẦN THỊ HUYỀN
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HUYỀN
NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
BIỆN PHÁP TẠM GIAM THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
KHÓA II/2017
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HUYỀN
BIỆN PHÁP TẠM GIAM THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.380.104
3.
BPTG
: Biện pháp tạm giam
4.
CQĐT
: Cơ quan điều tra
5.
CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng
6.
HĐXX
: Hội đồng xét xử
7.
KSV
: Kiểm sát viên
8.
DANH MỤC BẢNG BIỂU PHỤ LỤC
Bảng 2.1. Thống kê tình hình phạm pháp hình sự trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành
phố Hồ Chí Minh (Giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018);
Bảng 2.2. Thống kê số bị can, bị cáo bị bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quyết
định của cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh (Giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018);
Bảng 2.3. Thống kê kết quả điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự cấp huyện trên địa
bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Giai đoạn từ năm 2014 đến
năm 2018);
Bảng 2.4. Thống kê các trường hợp Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức không phê
chuẩn lệnh tạm giam, lệnh bắt tạm giam (Giai đoạn từ năm 2014 đến năm
2018);
Bảng 2.5. Thống kê các trường hợp người bị tạm giam được thay thế bằng biện pháp
ngăn chặn khác hoặc được trả tự do trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh (Giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018);
Bảng 2.6. Tổng hợp tình hình thi hành các Lệnh, quyết định về biện pháp tạm giam
của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh (Giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018);
Bảng 2.7. Thống kê kiến nghị của VKSND quận Thủ Đức với các cơ quan có thẩm
quyền trên địa bàn trong việc tạm giam thông qua công tác kiểm sát tạm
giữ, tạm giam (Giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018).
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM ..... 6
1.1. Những vấn đề lý luận về biện pháp tạm giam ...................................................... 6
1.2. Quy định về biện pháp tạm giam theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện
những bước chuyển mạnh mẽ cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, thu hút lượng lớn dân
nhập cư đến sinh sống và làm việc. Mặt trái của sự phát triển đó là tình hình tội phạm
trên địa bàn này trong thời gian qua có diễn biến rất phức tạp. Mặc dù số vụ phạm tội
tăng giảm hàng năm không đều nhưng tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm
ngày càng cao, tạo áp lực đáng kể cho CQĐT, VKS, TA quận Thủ Đức trong việc
điều tra, khám phá, xử lý tội phạm và người phạm tội đảm bảo nhanh chóng, khách
quan, chính xác.
Thực tiễn công tác TTHS ở địa phương này cho thấy, tạm giam là BPNC được
các cơ quan THTT áp dụng một cách thường xuyên trong quá trình giải quyết phần
lớn VAHS xảy ra ở địa phương. Bên cạnh những giá trị tích cực của việc áp dụng
pháp luật về BPTG một cách đúng đắn, vẫn có lúc, có nơi còn xảy ra tình trạng áp
dụng BPTG không đảm bảo về căn cứ, đối tượng, thẩm quyền, thời hạn theo quy định
pháp luật. Điều đó không chỉ gây ra tác động tiêu cực cho bản thân, gia đình người
bị tạm giam, mà còn làm giảm sút uy tín của các cơ quan THTT, gây suy giảm lòng
tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, không phù hợp với định hướng xây dựng
Nhà nước pháp quyền, thực hiện đề cao, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, đáp
1
ứng các chuẩn mực quốc tế, giữ vững ổn định chính trị, xã hội của nước ta hiện nay.
Vì thế, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp tạm giam theo pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh”,
nhằm góp phần đảm bảo việc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết VAHS,
tăng cường bảo đảm quyền con người trong TTHS cũng như hiệu quả đấu tranh
phòng, chống tội phạm từ thực tiễn ở quận Thủ Đức, TP.HCM trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
BPNC trong TTHS nói chung và BPTG nói riêng là vấn đề được nghiên cứu
trong nhiều công trình khoa học ở các góc độ, mức độ khác nhau, tiêu biểu như một
số công trình sau:
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Đồi mới công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm từ thực tiễn áp dụng ở địa bàn này. Quy định pháp luật
và việc áp dụng pháp luật về BPTG ở các giai đoạn tố tụng khác như điều tra, truy tố
không được nghiên cứu, làm rõ.
+ Luận văn thạc sĩ “Biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị can trong tố
tụng hình sự Việt Nam” của Đào Nguyễn Hồng Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội,
năm 2018. Luận văn này nghiên cứu về những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn áp
dụng BPTG được áp dụng với những đối tượng là bị can. Quy định pháp luật và việc
áp dụng pháp luật về BPTG đối với các đối tượng khác như bị cáo, người bị yêu cầu
dẫn độ không được nghiên cứu, làm rõ.
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết khoa học liên quan đến BPTG được đăng trên
Tạp chí Kiểm sát; Tạp chí Tòa án… như: “Biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” của Hoàng Tám Phi, đăng trên tạp chí
Kiểm sát, Số 7/2018, tr.46 -49; “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm
giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và một số kiến nghị” của tác giả
Nguyễn Văn Đổng, đăng trên Tạp chí Tòa án số 2/2019, tr.28-33…
Qua nghiên cứu những công trình, bài viết khoa học trên, tác giả nhận thấy
chưa có công trình nào nghiên cứu về đề tài “Biện pháp tạm giam theo pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh”. Do đó,
đề tài Luận văn này không bị trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào khác đã
được công bố.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn hướng đến mục đích là thống nhất nhận thức
về một số vấn đề lý luận và nghiên cứu các quy định pháp luật TTHS Việt Nam hiện
hành về BPTG, làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật TTHS về tạm giam và đưa ra các
giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả ADPL về BPTG trong pháp luật TTHS
Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, Luận văn tập trung thực
+ Phương pháp thống kê được sử dụng nhằm thống kê số lượng bị can, bị cáo
bị áp dụng BPTG và các số liệu khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
+ Phương pháp tổng kết thực tiễn được sử dụng nhằm làm rõ thực trạng áp
dụng, đánh giá những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế, vướng mắc và
nguyên nhân trong quá trình áp dụng BPTG trên địa bàn thuộc phạm vi nghiên cứu
để đưa ra các giải pháp phù hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của Luận văn này góp phần hoàn thiện
lý luận về BPTG trong TTHS.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể giúp cơ quan, cá
nhân có thẩm quyền tham khảo để vận dụng vào việc xây dựng, áp dụng pháp luật
TTHS về BPTG cũng như cân nhắc, thực hiện những giải pháp được đề cập trong
Luận văn để góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng BPTG. Ngoài ra, Luận văn này có
thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu về BPTG.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội
dung Luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam hiện hành về biện pháp tạm giam;
Chương 2. Tình hình, đặc điểm có liên quan và thực trạng áp dụng pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp tạm giam trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành
phố Hồ Chí Minh;
Chương 3. Nhu cầu và giải pháp nhằm bảo đảm việc áp dụng pháp luật tố tụng
hình sự về biện pháp tạm giam từ thực tiễn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM
- Quan điểm (3) cho rằng: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự mà theo đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong những trường hợp
nhất định có thể tước tự do đối với bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn tội phạm hoặc đảm
bảo việc điều tra, truy tố, xét xử” [4, tr.92];
- Quan điểm (4) cho rằng: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
do người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng hạn
chế tự do cá nhân với mức độ nghiêm khắc nhất trong thời hạn tương đối dài đối với
bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án được tiến hành thuận lợi” [41, tr.112].
Phân tích các khái niệm nêu trên có thể thấy rằng: Nội dung diễn đạt các khái
niệm có sự khác nhau do cách thức tiếp cận của nhà nghiên cứu, cụ thể như sau:
Khái niệm (1) được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các quy định pháp luật TTHS tại
thời điểm nghiên cứu về thẩm quyền, căn cứ áp dụng. Khái niệm (2, 3, 4) được xây
dựng trên cơ sở xác định rõ chủ thể có thẩm quyền, đối tượng bị áp dụng, hệ quả của
việc áp dụng BPTG đối với người bị áp dụng và mục đích của việc áp dụng BPTG.
Việc xây dựng khái niệm với các nội dung xác định bản chất của BPTG là BPNC
trong TTHS, hình thức biểu trưng và mục đích áp dụng BPTG là phù hợp. Tuy nhiên,
việc liệt kê các cơ quan có thẩm quyền áp dụng và căn cứ áp dụng BPTG theo quy
định pháp luật TTHS tại thời điểm người nghiên cứu tiếp cận sẽ không bảo đảm được
tính chính xác của khái niệm về BPTG trong trường hợp quy định pháp luật TTHS
thay đổi. Do đó, theo tác giả, để đảm bảo tính khoa học, ổn định của khái niệm, việc
xây dựng khái niệm cần dựa trên các đặc điểm thuộc về bản chất của BPTG đó là:
Một là, BPTG là một BPNC được quy định cụ thể trong pháp luật TTHS.
Trong đó, căn cứ, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn áp dụng cũng như căn cứ, thẩm quyền,
thủ tục thay thế, hủy bỏ BPTG được quy định trong các quy phạm pháp luật tố tụng
hình sự cụ thể.
Hai là, đối tượng bị áp dụng BPTG là người bị buộc tội. Đó là những người
7
XHCN, thể hiện sự kiên quyết của Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Hai là, quy định pháp luật về BPTG là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo
đảm sự tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi
nhận, bảo đảm rằng không một người nào bị tạm giam trái pháp luật. Trong trường
hợp bị tạm giam trái pháp luật, người bị tạm giam có quyền khiếu nại, yêu cầu bồi
thường thiệt hại. BPTG còn bảo đảm cho mọi cá nhân, công dân được tôn trọng, bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, tránh được sự tấn công, xâm hại từ phía các đối
tượng nhất định, bảo đảm cho mọi công dân được yên tâm sinh sống, học tập, làm
việc tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Ba là, BPTG bảo đảm cho sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của
cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết VAHS, góp phần tạo điều kiện
thuận lợi cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, bảo đảm
tính chính xác, khách quan của hoạt động TTHS. Ngoài ra, tạm giam còn đảm bảo
cho việc thi hành các bản án hình sự đã được tuyên và ngăn ngừa các đối tượng tiếp
tục phạm tội.
1.1.3. Căn cứ quy định biện pháp tạm giam trong pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam
Việc quy định một cách đúng đắn về BPTG nói riêng và các BPNC nói chung
là đảm bảo quan trọng cho việc thực hiện tốt nhiệm vụ của luật TTHS, đó là: Phát
hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn
chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo
dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Do đó, khi quy định về BPTG và các BPNC khác, đòi hỏi nhà lập pháp phải dựa trên
các căn cứ sau đây:
- Căn cứ Hiến pháp: Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
năm 1946 và các Hiến pháp tiếp theo (1969, 1980, 1992 và 2013) đã quy định những
nói chung và quy định về BPNC trong đó có BPTG nói riêng luôn có xu hướng tồn
tại và thay đổi cùng với các quy định của pháp luật hình sự. Ví dụ: Sự ra đời của
BLTTHS 1988 gắn liền với BLHS 1985, BLTTHS 2003 gắn với BLHS 1999 và hiện
10
nay BLTTHS hiện hành gắn với BLHS 2015. Trong đó, quy định về trình tự, thủ tục
của việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử VAHS nói chung và các BPNC nói riêng, kể
cả BPTG, cần phải được quy định phù hợp với các quy định của BLHS tương ứng để
đảm bảo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo
vệ chế độ XHCN, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa
đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật,
chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng
và chống tội phạm.
- Căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS: Các nguyên tắc cơ bản của
BLTTHS là kim chỉ nam cho việc quy định và thực hiện các boạt động TTHS. Chính
vì vậy, trong việc quy định các BPNC nói chung và BPTG nói riêng luôn căn cứ vào
các nguyên tắc cơ bản như: Nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN; tôn trọng và bảo
vệ quyền cơ bản của công dân; bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài
sản của công dân, suy đoán vô tội…
- Căn cứ vào chủ trương, đường lối của Đảng về đấu tranh phòng, chống tội
phạm từng thời kỳ cách mạng: Có thể nói rằng, trong bất kỳ chế độ xã hội nào, nếu
còn có các hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan
hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ thì các biện pháp trừng phạt, ngăn ngừa tất yếu
được áp dụng. Trong đó, BPTG được sử dụng như công cụ của việc ngăn ngừa, phòng
và chống các hành vi nguy hiểm đó. Ở nước ta, việc quy định và sử dụng các BPNC
trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau cũng được vận dụng khác nhau căn cứ vào chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách Nhà nước trong từng thời kỳ. Ví dụ: Nếu như
trước đây, khi đất nước đang còn phải dốc sức chống thù trong giặc ngoài thì Đảng
ta chủ trường cần phải áp dụng những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất đối với
đã xây dựng BLTTHS hiện hành với những nhiều điểm mới so với BLTTHS năm
2003, trong đó có các quy định về BPNC nói chung và BPTG nói riêng.
- Căn cứ vào thực tiễn tiến hành tố tụng hình sự: Thực tiễn tiến hành TTHS
cho thấy rằng: Các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự chỉ đảm
bảo khi người bị buộc tội hợp tác với cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, đa số người
12
bị buộc tội thường có tâm lý lo sợ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, lo sợ gánh chịu
hình phạt nghiêm khắc, đặc biệt là những bị can, bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng,
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, xâm phạm an ninh quốc gia... Với
tâm lý đó, họ sẽ thực hiện những hành vi như: Bỏ trốn, tiêu hủy đồ vật, tài liệu liên
quan đến vụ án... Những hành vi đó gây khó khăn đáng kể cho các cơ quan có thẩm
quyền trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người đó như:
Không thể triệu tập được bị can, bị cáo; không thu được đầy đủ chứng cứ làm rõ hành
vi phạm tội... Theo đó, trong những trường hợp cần thiết, việc áp dụng BPNC nghiêm
khắc cách ly người đó ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm đảm bảo
cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự sẽ đảm bảo cho việc điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự cũng như không kịp thời ngăn chặn tội phạm.
BPNC này phải được quy định một cách cụ thể về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục, thời
hạn áp dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật về TTHS. Đây chính là một trong
những căn cứ cho việc quy định về BPTG trong pháp luật TTHS Việt Nam.
- Căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm: Thực tiễn đấu tranh
phòng chống tội phạm còn cho thấy với xu hướng diễn biến phức tạp của tình hình
tội phạm, tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng tăng, phương thức phạm tội tinh
vi, táo bạo hơn, nhiều thủ đoạn nhằm cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án… Bên cạnh đó, chủ động hội nhập quốc tế ngày nay đang trở thành nhu cầu
nội tại của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam với việc tham gia nhiều
tổ chức quốc tế và trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế trong lĩnh vực đấu
tranh phòng, chống tội phạm cùng với sự hợp tác với các quốc gia thông qua việc ký
TTHS.
Nguyên tắc kiên quyết xử lý tội phạm trong quá trình áp dụng BPTG còn thể
hiện ở việc: Đối với những đối tượng xét thấy cần thiết và có đủ căn cứ áp dụng
BPTG phải kiên quyết áp dụng để, đảm bảo thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án. Điều này thể hiện ở chỗ BPTG có thể được quyết định áp dụng đối
với bị can, bị cao phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng mà không cần
thêm căn cứ nào khác. Đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng thì cần
căn nhắc đến những yếu tố khác về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội và nhân thân bị can, bị cáo có đảm bảo cho việc giải quyết VAHS hay không để
14
quyết định áp dụng hay không áp dụng BPTG. Khi xét thấy không còn cần thiết phải
áp dụng BPTG thì cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp
này bằng BPNC khác.
- Nguyên tắc pháp chế XHCN: Pháp chế XHCN là nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của Bộ máy Nhà nước XHCN. Đây chính là nguyên tắc Hiến định, là đòi hỏi
hoạt động của quản lý xã hội của Nhà nước nói chung và hoạt động TTHS nói riêng.
Trong hoạt động TTHS, nguyên tắc pháp chế XHCN được thể hiện ở Điều 2 của
BLTTHS: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.” Như vậy, theo
quy định của BLTTHS thì hoạt động điều tra, truy tố, xét xử chủ yếu do các cơ quan
THTT hình sự và người THTT hình sự quy định, đồng thời có sự tham gia của một
số cơ quan tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến VAHS. Các hoạt động nêu trên
phải thực hiện theo đúng quy định của BLTTHS thì mới đảm bảo việc phát hiện kịp
thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội. Như vậy, với vai trò là BPNC trong TTHS, việc áp dụng BPTG cũng
phải tuân theo nguyên tắc này, cụ thể như sau:
Một là, áp dụng BPTG khi cần thiết và có căn cứ áp dụng.
Việc áp dụng các BPTG ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do của con người,
không còn cần thiết thì cần phải hủy bỏ hoặc áp dụng bằng BPTG khác có tính chất,
mức độ ít nghiêm khắc hơn, ví dụ như thay đổi từ BPTG sang các BPNC khác như
cấm đi khỏi nơi cư trú, hoặc bảo lĩnh, đặt tiền hoặc hoặc tài sản để bảo đảm...
Nguyên tắc nhân đạo còn thể hiện ở chỗ không áp dụng BPTG đối với một số
đối tượng đặc biệt trừ trường hợp Luật cho phép, ví dụ các đối tượng quy định tại
khoản 4 Điều 119 BLTTHS hiện hành như: “bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc
đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà
nơi cư trú rõ ràng…”.
Ngoài ra, đối với các đối tượng là người chưa thành niên phạm tội thì Luật
cũng có những quy định riêng biệt về căn cứ, thủ tục và thời hạn tạm giam nhằm bảo
đảm tối đa quyền của nhóm đối tượng có đặc điểm tâm lý, thể chất đặc biệt này.
Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định rằng: Các nguyên tắc áp dụng
BPTG chính là những tư tưởng chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng pháp
16
luật về BPTG trong TTHS. Đây là những nguyên tắc được xây dựng xuất phát từ
quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội, đảm bảo cho các cơ quan có thẩm quyền thực hiện tốt nhiệm vụ trong
đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
con người, của công dân trong TTHS.
1.2. Quy định về biện pháp tạm giam theo pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam hiện hành
BLTTHS hiện hành là văn bản luật quy định về BPTG một cách hệ thống và
đầy đủ nhất về đối tượng áp dụng, căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng, hủy
bỏ, thay thế BPTG, thời hạn tạm giam. Ngoài ra, nhằm thống nhất thực hiện một số
quy định của Bộ luật này về BPTG trong đơn ngành và liên ngành các cơ quan Trung
ương đã ban hành các Thông tư, Thông tư liên tịch, Nghị quyết, Quyết định theo thẩm
quyền về các nội dung liên quan đến BPTG trên cơ sở những quy định của BLTTHS
hiện hành như: Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày
những trường hợp này, người có thẩm quyền có thể quyết định áp dụng BPTG ngay
mà không cần có thêm căn cứ nào khác.
- Theo quy định tại Khoản 2 Điều 119 BLTTHS hiện hành, BPTG có thể áp
dụng với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự
quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong
các trường hợp: Đã bị áp dụng BPNC khác nhưng vi phạm; Không có nơi cư trú rõ
ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định
truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm
tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung
cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán
tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người
tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
- Theo quy định tại Khoản 3 Điều 119 BLTTHS hiện hành, BPTG có thể áp
dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình
phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định
truy nã.
18
- Theo quy định tại Khoản 4 Điều 119 BLTTHS hiện hành, BPTG không áp
dụng đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi,
là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không
tạm giam mà áp dụng BPNC khác, trừ các trường hợp: Bỏ trốn và bị bắt theo quyết
định truy nã; Tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người
khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài
liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù
người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những
người này; Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định
nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia. Quy định