Luận văn thạc sỹ - Hoàn thiện nghiệp vụ huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt nam – Chi nhánh Hải Dương - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

VŨ NGỌC DIỆP

HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ
HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

VŨ NGỌC DIỆP – C00589

HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ
HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HẢI DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60340102

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THANH HUYỀN


HÀ NỘI - 2017



cứu khó tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm
đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Vũ Ngọc Diệp


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16

Ngân hàng Nhà nước
Tổ chức tín dụng
Ngân sách Nhà nước
Thị trường tài chính
Ngân hàng thương mại cổ phần
Vốn huy động
Chi nhánh
Quản ly vốn tập trung
Hội sở chính
Lợi nhuận
Hoạt động kinh doanh
Chủ sở hữu
Tài sản
Nguồn vốn
Tổ chức kinh tế
Định chế tài chính
Dân cư
Tiết kiệm dự thưởng


DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với bất kỳ
doanh nghiệp nào trong đó nhu cầu về vốn là nhu cầu tiên quyết để duy trì và phát
triển sản xuất, nó phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh
doanh, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi các doanh nghiệp đều mong muốn
đầu tư mở rộng sản xuất, đa dạng hóa dịch vụ nhằm tăng khả năng cạnh tranh.

Đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện nghiệp vụ huy động vốn tại
BIDV Hải Dương.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và
thực tiễn có liên quan đến nghiệp vụ huy động vốn
* Phạm vi nghiên cứu: Nghiệp vụ huy động vốn tại BIDV Hải Dương
giai đoạn 2013-2016, trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp để hoàn thiện
nghiệp vụ huy động vốn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, các phương pháp nghiên cứu sau đây được sử dụng:
Phương pháp thu thập thông tin số liệu.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích tổng hợp theo thời gian;
Phân tích tổng hợp theo nhóm vấn đề, nhóm đối tượng.
Phương pháp so sánh.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng về nghiệp vụ huy động vốn tại ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – CN Hải Dương giai đoạn 2013- 2016.
Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện nghiệp vụ huy động vốn tại
ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – CN Hải Dương.

2


CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN

trữ. Sau đó, số tiền này sẽ được ngân hàng sử dụng để có lãi, một phần lãi này
dùng để trả cho khách hàng đã gửi số tiền trên. Khi đó khách hàng gửi tiền
vào ngân hàng vì mục đích sinh lời.
Về khả năng, NHTM có kho tàng chắc chắn, an toàn, hệ thống bảo
vệ khá nghiêm ngặt, các điều kiện về bảo mật rất tốt, điều kiện về môi
trường luôn luôn đảm bảo. Mặt khác thông qua tác nghiệp của nhân viên
ngân hàng, các quy định, quy trình gửi rút tiền, các ngân hàng luôn sẵn
sàng đáp ứng kịp thời các yêu cầu chi trả cũng như đảm bảo các khoản tiền
gửi của khách hàng.
Về nhu cầu, bản thân ngân hàng là những trung gian tài chính, kiếm lời
từ những khoản tiền “tạm thời nhàn rỗi” của người này đem tài trợ cho nhu
cầu của người kia với mức lãi suất cao hơn, hoặc đầu tư vào những dự án đem
lại mức lợi nhuận cao hơn. Chính vì vậy ngân hàng phải huy động vốn hay
nhận tiền gửi từ khách hàng.
Nhận tiền gửi là hoạt động tạo điều kiện cho những hoạt động khác của
ngân hàng và theo suốt quá trình tồn tại và phát triển của mỗi NHTM. Nền kinh
tế càng phát triển thì nhu cầu gửi tiền sẽ càng gia tăng, thông qua hoạt động
nhận tiền gửi ngân hàng tập hợp được một số tiền tạm thời chưa sử dụng của
các chủ sở hữu để rồi sử dụng lượng tiền đó đem tài trợ lại cho nền kinh tế.
1.1.2.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn
Nghiệp vụ cho vay và nghiệp vụ đầu tư là hai nghiệp vụ sử dụng vốn
quan trọng nhất quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM.
Cho vay (hay còn gọi là tín dụng ngân hàng) là một quan hệ giao dịch
giữa ngân hàng chuyển giao tiền cho các chủ thể khác được sử dụng trong
một thời gian nhất định và bên nhận tiền phải cam kết hoàn trả theo thời hạn
thỏa thuận.
Đây là hoạt động giữ vị trí đặc biệt quan trọng, có tính chất quyết định
đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng vì hoạt động này tạo ra cho NHTM
khoản thu nhập chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của NHTM.
Thông qua hoạt động tín dụng các NHTM đã và đang thực hiện chức

dân, các tổ chức để cho những cá nhân tổ chức khác vay vốn đầu tư vào kinh
doanh, tiêu dùng.
- Vai trò thanh toán: Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho
5


việc mua hàng hóa và dịch vụ (như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung
cấp mạng lưới thanh toán điện tử liên ngân hàng).
- Vai trò bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất
khả năng thanh toán.
- Vai trò đại lý: đại diện những người cho vay để quản lý và bảo vệ tài sản,
phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán.
- Vai trò thực hiện chính sách: qua các NHTM, Nhà nước có thể điều
tiết nền kinh tế bằng các chính sách đưa ra áp đặt cho NHTM như chính sách
tiền tệ, chính sách tài khoá...
1. 2. NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNGMẠI
1.2.1.Khái niệm vốn của Ngân hàng thương mại
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập thông qua việc
huy động, đi vay để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh
khác. Thực chất vốn của NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời
nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh doanh, phân phối, tiêu dùng, mà người
chủ sở hữu gửi vào ngân hàng với các mục đích khác nhau, họ chỉ có quyền
sở hữu còn quyền sử dụng vốn tiền tệ họ chuyển nhượng cho ngân hàng, để
rồi ngân hàng phải trả cho họ một khoản thu nhập. Như vậy ngân hàng đã
thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối vốn dưới hình thức tiền tệ, làm
tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động
kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định đến việc
tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.2.2. Vai trò của vốn đối với hoạt độngcủa Ngân hàng thương mại
Vốn đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng có vai trò hết

ảnh hưởng rất lớn thậm chí giữ vai trò quyết định tới sự thâm nhập của Ngân
hàng thương mại vào thị trường này.
Vốn quyết định năng lực thanh toán của ngân hàng, đảm bảo uy tín của
ngân hàng trên thương trường từ đó quyết định năng lực cạnh tranh của ngân
hàng đó.Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường các ngân hàng phải
giữ được chữ tín, mà uy tín của ngân hàng thể hiện bằng khả năng chi trả của
ngân hàng khi đáo hạn. Vốn khả dụng càng cao thì khả năng thanh toán càng
cao vì khả năng thanh toán tỷ lệ thuận với nguồn vốn của ngân hàng nói chung
và vốn khả dụng nói riêng, nguồn vốn lớn sẽ giúp ngân hàng mở rộng quy mô
7


hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao uy tín và vị thế trên thị trường.
Tiềm năng vốn lớn là điều kiện đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ
tín dụng đối với các thành phần kinh tế, xét cả về quy mô khối lượng tín dụng
cũng như chủ động về khối lượng tiền, thời hạn cho vay, lãi suất có thể thấp
hơn các ngân hàng khác, từ đó ngân hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng,
doanh số kinh doanh tăng, đây là điều kiện làm tăng lợi nhuận của ngân hàng,
dẫn đến làm tăng vốn tự có, tăng quy mô hoạt động vật chất kỹ thuật của ngân hàng.
Vốn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng có đủ khả năng tài chính vươn tới
kinh doanh đa năng. Với xu hướng ngân hàng đa năng như hiện nay, hoạt
động ngân hàng không chỉ đơn giản như hoạt động của ngân hàng truyền
thống, mà còn vươn tới nhiều lĩnh vực khác như mở rộng các hình thức liên
doanh liên kết, hoạt động thuê mua, bảo lãnh, mua bán nợ, kinh doanh trên thị
trường chứng khoán,… Hình thức kinh doanh đa năng giúp ngân hàng phân
tán được rủi ro, tạo thêm vốn, cơ hội thuận lợi cho ngân hàng, nâng cao khả
năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
Tóm lại, vốn đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và
đối với từng ngân hàng thương mại nói riêng chính vì vậy huy động vốn luôn
là hoạt động được ưu tiên hàng đầu. Nguồn vốn không chỉ giúp ngân hàng

trong tương lai của dân cư cũng đóng góp một tỷ lệ không nhỏ, lãi suất mà
ngân hàng phải trả cũng rất cao.
Ở nước ta, vốn huy động trong thời hạn dưới 01 năm được gọi là vốn
ngắn hạn, từ 01 năm đến dưới 05 năm gọi là vốn trung hạn và từ 05 năm trở
lên được gọi là vốn dài hạn. Mặc dù NHTM có thể sử dụng một phần vốn
ngắn hạn để cho vay đối với các kỳ hạn dài hơn nhưng điều này dễ đẩy ngân
hàng đến tình trạng mất khả năng thanh toán. Do vậy, các món cho vay của
NHTM nên được tài trợ từ các nguồn vốn huy động có kỳ hạn tương ứng hoặc
dài hơn một chút. Cách làm này làm giảm rủi ro thanh khoản đối với ngân hàng.
1.2.3.2. Theo đối tượng huy động vốn
Phân theo đối tượng huy động, huy động vốn có thể được chia ra thành
bốn nhóm như sau:
- Dân cư: Đây là hình thức ngân hàng huy động nguồn từ các khoản
tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn
để mở rộng đầu tư, kinh doanh. Nguồn huy động từ dân cư thường khá ổn
9


định. Song có đặc điểm thường là những khoản nhỏ lẻ, nằm phân tán trong
dân cư do vậy chi phí cho nguồn huy động này thường chiếm tỷ trọng cao
nhất trong tổng chi phí huy động của các NHTM đồng thời để huy động được
nguồn này thì các NHTM cũng, cần phải nắm bắt được tâm lý, cũng như tập
quán của đối tượng này.
- Các tổ chức kinh tế (doanh nghiệp và các tổ chức xã hội): Để tiết kiệm
thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết
đều có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh nghiệp khi bán được hàng đều gửi
tiền vào ngân hàng và thanh toán chuyển khoản hoặc rút ra khi cần. Chu kỳ
thanh toán chuyển tiền hay rút tiền của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội
không giống nhau. Vì vậy, ngân hàng luôn có trong tay một khoản tiền lớn có thể
sử dụng một cách tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, độ lớn khoản tiền này phụ

Ở Việt Nam hiện nay, đô la Mỹ và đồng Euro là những đồng ngoại tệ
chủ yếu được NHTM có tổ chức huy động và nó đã trở thành một nguồn vốn
quan trọng, chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động
của NHTM.
1.2.3.4.Theo đặc điểm bản chất của vốn
a,Vốn chủ sở hữu của NHTM: Về khía cạnh kinh tế, vốn chủ sở hữu là
vốn riêng có của NHTM do các chủ sở hữu đóng góp và các quỹ của ngân
hàng được hình thành trong quá trình kinh doanh thể hiện dưới dạng lợi nhuận
để lại. Nguồn vốn này có tính ổn định cao, NHTM không phải hoàn lại, nó có
vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các hoạt động mở rộng quy mô của
mình như liên doanh, liên kết, mở rộng mạng lưới,…Vốn thuộc sở hữu của
Ngân hàng bao gồm nhiều loại khác nhau:
- Vốn tự có ban đầu: Vốn này được hình thành từ ban đầu khi mới
thành lập ngân hàng. Vốn này là một trong những điều kiện pháp lý bắt buộc
khi thành lập ngân hàng, do các chủ sở hữu đóng góp.
- Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Trong quá trình hoạt
động ngân hàng có thể gia tăng vốn của chủ sở hữu theo nhiều phương thức
khác nhau tùy thuộc từng điều kiện cụ thể.
Trong điều kiện thu nhập ròng của ngân hàng lớn các ngân hàng có xu
hướng chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu còn được bổ sung từ việc phát hành thêm cổ phần, góp
11


thêm nếu là ngân hàng cổ phần hoặc được cấp thêm từ NSNN nếu là ngân
hàng quốc doanh để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết
bị, công nghệ hoặc để đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn chủ sở hữu do Nhà nước
quy định.
Đây không phải là nguồn thường xuyên song nó giúp ngân hàng có
được lượng vốn chủ sở hữu khi cần thiết.

Để huy động được nguồn tiền gửi thanh toán ngân hàng cần phải
khuyến khích các cá nhân và tổ chức kinh tế mở tài khoản thanh toán đồng
thời cũng cần phải nâng cấp các tiện ích và dịch vụ do ngân hàng cung cấp
kèm theo như: dịch vụ thẻ, dịch vụ thanh toán,…
- Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận giữa ngân hàng
và khách hàng về thời hạn gửi tiền trong khoảng thời gian này ngân hàng có
quyền chủ động sử dụng số tiền đó, khi khách hàng muốn rút tiền trước thời
hạn cần phải báo trước và phải được sự chấp thuận của ngân hàng. Tiền gửi
có kỳ hạn là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong dân cư hay trong quá
trình hoạt động kinh doanh do các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội tạo ra từ các quỹ như quỹ khấu hao, quỹ đầu tư, từ các nguồn thu nhập của
doanh nghiệp,… khi họ biết trước được thời điểm sử dụng tiền, họ gửi những
khoản tiền này vào ngân hàng nhằm mục đích thu lợi và an toàn. Ngân hàng
thường phải trả lãi cao cho khoản tiền gửi có kỳ hạn, nên chi phí huy động
thường cao nhưng bù lại nguồn vốn này lại có tính ổn định, Ngân hàng có thể
yên tâm sử dụng mà không sợ bị rủi ro về khả năng chi trả. Trong dân cư,
mục đích của người gửi tiền có kỳ hạn (gửi tiết kiệm) là nhằm hưởng lãi suất
vì vậy lãi suất là yếu tố được người gửi quan tâm nhất, lãi suất huy động tỷ lệ
thuận với thời gian gửi tiền sẽ khuyến khích khách hàng gửi tiền với thời hạn
gửi dài hơn.
Lãi suất chi trả cho người gửi tiết kiệm bao giờ cũng là cao nhất chính
vì vậy chi phí huy động nguồn vốn này là lớn nhất. Để huy động được nguồn
vốn này, ngân hàng cần chú ý tới nhu cầu tiết kiệm từ dân cư, lượng tiền gửi
phụ thuộc vào thu nhập của dân cư, vào xu hướng tiết kiệm, các đặc tính về
dân số - xã hội, tình hình kinh tế xã hội. Muốn huy động nguồn tiền gửi tiết
kiệm ngân hàng cần phải chú ý đến các yếu tố thuộc về khách hàng này và
điều chỉnh lãi suất huy động cho phù hợp.
13



14


các loại tiền gửi khác. Hiện nay, ở Việt Nam có một số giấy tờ có giá có thể
được mua bán trên thị trường, trong khi đó ở các nước có thị trường tài chính
phát triển thì việc mua bán các công cụ nợ diễn ra khá phổ biến và sôi động.
Hiện nay, nhu cầu vốn trung và dài hạn còn rất lớn chính vì vậy việc phát
hành giấy tờ có giá kỳ hạn dài đóng vai trò quan trọng trong việc tạo và gia
tăng nguồn vốn trung và dài hạn cho ngân hàng. Huy động vốn bằng việc phát
hành giấy tờ có giá thường có lãi suất hấp dẫn hơn các loại tiền gửi có cùng
kỳ hạn nên chi phí huy động nguồn vốn này cao tuy nhiên nó lại có tính ổn
định và tính “lỏng” vì có thể đưa ra mua bán trên thị trường vốn.
d,Vay nợ trên TTTC
Tiền gửi là nguồn tiền do khách hàng chủ động mang đến cho ngân
hàng, ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để kinh doanh. Tuy nhiên
không phải lúc nào nguồn tiền gửi cũng đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh của
ngân hàng, chính vì vậy khi nhu cầu cho vay vượt quá khả năng hiện có của
ngân hàng, ngân hàng có thể đi vay để đáp ứng. NHTM có thể đi vay từ nhiều
nguồn khác nhau:
- Vay từ ngân hàng trung ương: NHTM có thể vay từ ngân hàng trung
ương qua các hình thức như chiết khấu, tái chiết khấu, hình thức vay này
thông qua thị trường mở. Ngân hàng thương mại thường nắm giữ một lượng
giấy tờ có giá, khi cần tiền mặt, ngân hàng thương mại đưa lượng giấy tờ này
cầm cố tại ngân hàng trung ương, thông qua lãi suất chiết khấu mà ngân hàng
trung ương có thể điều chỉnh được cung tiền tệ cũng như cơ cấu nguồn vốn
của NHTM.
NHTM còn có thể vay từ các nguồn ngắn hạn như vay để bù đắp dự trữ
thiếu hụt, nâng cao khả năng thanh toán, nâng cao khả năng thanh khoản. Các
khoản vay này thường là trong thời gian rất ngắn. Trong những trường hợp
đặc biệt NHTM vẫn có thể vay ngân hàng trung ương để cho vay lại nền kinh

hệ thanh toán rộng rãi với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới nên
nghiệp vụ này tiến hành cũng khá thuận lợi. Lãi suất vay được áp dụng theo
lãi suất trên thị trường tiền tệ thế giới. Tuy nhiên, khi vay thì các NHTM Việt
Nam phải chấp hành một hạn mức tín dụng do nước ngoài quy định, hạn mức
này phải do Chính phủ hoặc NHNN Việt Nam bảo lãnh, theo Nghị định
134/CP thì mức bảo lãnh vay vốn nước ngoài cho một tổ chức tín dụng không
16


quá 6 lần vốn tự có của tổ chức đó, nhưng hạn mức trên phải trừ đi số nợ
trước chưa trả đến thời điểm vay mới. Như vậy, muốn tận dụng được hạn mức
tín dụng nước ngoài các NHTM Việt Nam phải thực hiện tốt khâu hoàn trả.
Các khoản vay nước ngoài của các NHTM Việt Nam đều do Ngân hàng Nhà
nước trực tiếp kiểm soát và quản lý. Vì vậy, các hồ sơ vay vốn đều phải qua
Ngân hàng Nhà nước xét duyệt, các NHTM có quyền chủ động tìm kiếm các
nguồn vay từ nước ngoài, qua đó góp phần quan trọng trong việc tài trợ các
hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Tỷ trọng của nguồn tiền vay trong tổng nguồn vốn thường thấp hơn
nguồn tiền gửi, đồng thời các khoản đi vay thường là có thời hạn và quy mô
xác định trước nên tạo thành nguồn ổn định cho ngân hàng. Khác với nhận
tiền gửi, ngân hàng không nhất thiết phải đi vay thường xuyên: ngân hàng chỉ
vay lúc cần thiết; ngân hàng hoàn toàn chủ động quyết định khối lượng vay
phù hợp với nhu cầu sử dụng, nguồn vay có thể không phải chịu dự trữ bắt
buộc và bảo hiểm tiền gửi. Tuy nhiên do rủi ro lớn hơn nên lãi suất trả cho
tiền vay thường lớn hơn lãi suất trả cho tiền gửi với cùng kì hạn. Các khoản
vay Ngân hàng Nhà nước và vay ngân hàng khác tuy lãi suất thấp song
thường có thời hạn ngắn, chỉ nhằm đảm bảo thanh toán tức thời khi nhu cầu
thanh toán của khách hàng tăng cao. Vay Ngân hàng Nhà nước phụ thuộc rất
lớn vào chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Việc vay mượn các ngân hàng
khác trên cùng địa bàn cũng gặp khó khăn khi nhiều ngân hàng đang thiếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status