Phơng pháp dạy và học chùm ca dao về tình cảm gia đình trong Trờng THCS
mục lục
Phần mở đầu
1
Phần nội dung
5
Chơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
Chơng II. Khái niệm, đặc trực thể loại của ca dao, Nội dung của chùm ca
dao về tình cảm gia đình
7
I. Khái niệm ca dao 7
II. Đặc trng thể loại 8
1. Đề tài 8
2. Chức năng thể loại 8
3. Đặc điểm diễn xớng 9
4. Một vài đặc trng NT của ca dao 11
III. Nội dung của chùm ca dao về tình cảm gia đình 13
Chơng III. Quá trình thực hiện những giải pháp mới . Bài học kinh nghiệm 22
Phần kết luận
28
Tài liệu tham khảo
30
Phơng pháp dạy và học chùm ca dao về tình cảm
gia đình trong trờng Trung học cơ sở (THCS)
Ngời thực hiện: Đào Dung Oanh Lớp chuyên tu Đại học Ngữ Văn
1
Phơng pháp dạy và học chùm ca dao về tình cảm gia đình trong Trờng THCS
Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài.
1. Lý do khách quan.
Môn Ngữ văn có một vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung
biết huy động vốn kiến thức của giáo viên và học sinh, ngời giáo viên biết tìm
tòi một phơng pháp giảng dạy thoả đáng thì học sinh sẽ càng yêu thích môn học
Ngời thực hiện: Đào Dung Oanh Lớp chuyên tu Đại học Ngữ Văn
2
Phơng pháp dạy và học chùm ca dao về tình cảm gia đình trong Trờng THCS
Ngữ văn. Hơn nữa ca dao là thể loại trữ tình đặc sắc mang rõ nét bản sắc văn
học Việt Nam, lời lẽ giản dị không cầu kì, dễ thuộc dễ nhớ, các hình ảnh so
sánh, ẩn dụ và lối viết thể thơ dân tộc(6-8) đã khiến nhiều học sinh yêu thích
học tập phần văn học này.
Song thực tế giảng dạy, một số giờ học chùm ca dao về tình cảm gia đình
cha thực sự thu hút sự quan tâm hứng khởi của học sinh. Có lẽ việc phân tích, h-
ớng dẫn đọc hiểu của ngừơi thầy còn sơ sài, việc cảm nhận của học sinh còn
chung chung nên cha nắm bắt đợc cái hồn, ngụ ý sâu xa trong mỗi từ, mỗi câu
chữ của thể thơ lục bát - thể thơ dân tộc truyền thống, thực sự học sinh cha học
tập đợc nhiều cách nói năng ý nhị duyên dáng để vận dụng trong giao tiếp hằng
ngày, tức khả năng ứng dụng cha cao. Tóm lại là cha khai thác đợc cái hay cái
đẹp mà mỗi bài ca dao đem lại, cha thực sự bồi dỡng đợc những tình cảm tốt đẹp
cho các em.
Xuất phát từ những lí do trên, với cơng vị là một giáo viên giảng dạy bộ
môn ngữ văn trong nhà trờng phổ thông, tôi nhận thấy cần tích cực đổi mới để
có một phơng pháp giảng dạy thích hợp phát huy hiệu quả tối đa việc dạy phần
ca dao về tình cảm gia đình. Đây là một vấn đề có tầm quan trọng và thiết thực.
Do vậy tôi nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần để mỗi giáo viên và bản thân tự
bồi dỡng chuyên môn để giảng dạy tốt hơn nữa phần ca dao về tình cảm gia
đình.
II. Tình hình nghiên cứu.
Vấn đề nội dung, phơng pháp dạy và học ca dao trong chơng trình THCS
không phải là vấn đề mới. Trớc đây trong cải cách giáo dục THCS (1986) sau đó
là thời kỳ chỉnh lý (1995) và chơng trình thay sách giáo khoa THCS (2002) việc
nghiên cứu nội dung, phơng pháp dạy và học ca dao, trong đó có chùm ca dao
tế trong giảng dạy môn Ngữ văn đợc đúc rút thành kinh nghiệm. Thông qua đề
tài này mong muốn phần nào, hoặc là sự gợi ý, tham khảo đối với mỗi giáo viên
giảng dạy môn Ngữ văn của trờng THCS.
b. Nhiệm vụ cụ thể.
Đề tài đa ra phơng pháp giảng dạy ca dao mà ngời viết đã từng vận dụng
trong giảng dạy, đúc rút thành kinh nghiệm. Đề tài có nhiệm vụ tập trung thành
vấn đề "phơng pháp dạy và học chùm ca dao về tình cảm gia đình trong trờng
THCS". Đa ra phơng pháp tiếp cận những bài ca dao này đạt hiệu quả tối u nhất,
để mỗi giáo viên học sinh tiếp thu một cách nhanh chóng hiểu kỹ mỗi bài ca
dao, có khả năng vận dụng trong thực tiễn giao tiếp và có khả năng học tập các
phần Văn học khác.
IV. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
1. Đối tợng nghiên cứu.
Đối tợng là học sinh lớp 7 bậc THCS. Tìm hiểu phơng pháp tiếp cận của
học sinh đối với phần VHDG, đặc biệt là chùm ca dao về tình cảm gia đình để
từ đó tạo dựng phơng pháp giảng dạy phù hợp. Đề tài này đã từng thực hiện trên
đối tợng học sinh lớp 7 trờng THCS Thọ Sơn - Việt Trì.
2. Phạm vi nghiên cứu.
Ngời thực hiện: Đào Dung Oanh Lớp chuyên tu Đại học Ngữ Văn
4
Phơng pháp dạy và học chùm ca dao về tình cảm gia đình trong Trờng THCS
Trong các nhà trờng THCS, đối với các giờ giảng văn phần ca dao về tình
cảm gia đình.
V. Phơng pháp nghiên cứu.
Đề tài này kết hợp các phơng pháp quan sát khách quan (dự giờ thăm
lớp), phơng pháp thực nghiệm giảng dạy, phơng pháp điều tra cơ bản, phơng
pháp nghiên cứu tài liệu, phơng pháp nghiên cứu phân tích so sánh.
VI. Kết cấu chuyên luận.
Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chơng 2: Khái niệm, đặc trng thể loại của ca dao và nội dung của chùm
phần ca dao về tình cảm gia đình, về khả năng vận dụng trong cuộc sống, trong
giao tiếp hàng ngày và về phơng pháp giảng dạy của giáo viênKết quả thu đợc
nh sau:
Nội dung câu hỏi
Trả lời
Có Không
Em có yêu thích các bài ca dao không? 70 hs (93%) 5 hs (7%)
Em thích học các bài ca dao về tình cảm gia đình không? 64 hs (85%) 11 hs (15%)
Em có thờng xuyên vận dụng lời ăn tiếng nói của ca dao? 26 hs (34,7%) 49 hs (65,3%)
Phơng pháp giảng dạy hiện nay em thấy có hợp lí không? 55 hs (73,4%) 20 hs (26,6%)
Qua kiểm tra phần ca dao về tình cảm gia đình ở 75 học sinh thu đợc kết
quả cụ thể nh sau: Số bài giỏi 19 bài ( 25,3%), số bài khá 31bài ( 41,4%)
Với câu hỏi khám phá, đặt tình huống:"Em thích thầy cô bổ sung thêm
những gì trong giảng dạy?". Với câu hỏi này, tôi đã nhận đợc một số đề xuất
khá thú vị và có ý nghĩa thiết thực nh:
- Các thầy cô nên hát minh họa (nếu bài ca dao có tiếng đệm, tiếng láy).
- Đợc đi thực tế nghe, xem hát các làn điệu dân ca.
- Nhà trờng tổ chức câu lạc bộ dân ca để các em đợc thể hiện.
Ngời thực hiện: Đào Dung Oanh Lớp chuyên tu Đại học Ngữ Văn
6
Phơng pháp dạy và học chùm ca dao về tình cảm gia đình trong Trờng THCS
Tựu chung lại: Từ thực tế trên cho thấy đa số học sinh đều yêu thích phần
văn học này. Đó là một thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài. Nhng bên cạnh đó
còn cho thấy, mặc dù đã tích cực đổi mới phơng pháp giảng dạy nhng khi dạy
phần ca dao về tình cảm gia đình, giáo viên cần bổ xung thêm một số nội dung
để thực sự làm nổi bật đặc trng của của ca dao, từ đó làm nổi bật chủ thể trữ tình
ở mỗi lời ca, mỗi bài ca.
Nh vậy, nguyên nhân chính là ngời giáo viên cha thực sự đặt ca dao đúng
mảnh đất của nó, cha làm cho ca dao ở đúng vị trí phô bày, diễn xớng mà vẫn bị
gò bó trong câu chữ thuyết trình của ngời giáo viên nên tự thân ca dao cha ăn
đợc thực hiện trong giảng dạy môn Ngữ văn THCS. Theo tôi, để giảng dạy tốt
phần Văn học này ngời giáo viên cần chú trọng thực hiện các bớc theo quy trình
sau thì giờ dạy sẽ có hiệu quả:
- Chuẩn bị về t liệu, thiết bị, về kiến thức.
- Giảng dạy trên lớp (là bớc quan trọng).
- Luyện tập và hớng dẫn về nhà.
Chơng II. Khái niệm, đặc trng thể loại của ca dao
và nội dung của chùm ca dao về tình cảm gia đình.
I. Khái niệm ca dao.
Có rất nhiều các thuật ngữ khác nhau để chỉ cùng một đối tợng các câu
hát dân gian là: phong dao, ca dao, dân ca, thơ ca dân gian, bài hát dân gian.
"Phong dao", "ca dao" là những thuật ngữ Hán Việt. Nếu định nghĩa theo
từ nguyên thì "ca" là bài hát có chơng khúc hoặc có âm nhạc kèm theo, còn
"dao" là bài hát ngắn không có chơng khúc. Nh vậy, xét về bản chất thì ca dao
và dân ca hầu nh không có ranh giới rõ rệt. Song, sau này trên thực tế, thuật ngữ
"ca dao" có nội dung hẹp hơn thuật ngữ "dân ca". Trớc đây, khi su tầm các câu
hát và bài hát dân gian các nho sĩ trí thức chỉ chú ý đến phần lời thơ của những
sáng tác ấy, chỉ tuyển chọn những bài hay nhất và có ý nghĩa khái quát nhất về
mặt phản ánh đời sống, tình cảm, đạo đức, phong tục. Nh vậy "ca dao" thờng đ-
ợc hiểu là lời của bài hát dân gian, khi tách lời ca ra khỏi điệu hát, để phân biệt
"ca dao" và "dân ca" về mặt diễn xớng. Một bài ca dao để đọc không cần tiếng
đệm, luyến láy nhạc điệu thì là ca dao; còn một bài ca dao đợc dùng để hát, có
thêm tiếng nhạc đệm, đa hơi thì nó sẽ thành dân ca.
II. Đặc trng thể loại.
1. Đề tài.
Thơ ca trữ tình dân gian đợc sáng tác, nuôi dỡng, lu truyền bởi tập thể
nhân dân lao động. Nhân vật trữ tình trong thơ ca dân gian là những con ngời
bình dị, những ngời dân lao động nh: ngời nông dân, ngời làm nghề chài lới, ng-
ời tiều phu, ngời lính, ngời tiểu thơng Chính qua con mắt, suy nghĩ và trái tim
của họ, cuộc sống đợc phản ánh một cách chân thật và đa dạng. Những suy nghĩ
t tởng, tình cảm và cảm xúc mà chúng tạo ra đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Đôbrôliubốp đã nhận xét: "Thể loại tự sự có u thế rất lớn trong việc kể về những
điều xảy ra trong cuộc sống. Một phơng thức khác có khả năng đặc biệt trong
việc biểu đạt những sự kiện và truyền đạt tình cảm, cảm xúc mà những sự kiện
này tác động vào tâm hồn con ngời. Phơng thức này gọi là thơ ca trữ tình".
Những điều nói về thơ ca trữ tình truyền thống đợc mở rộng sang thơ ca
trữ tình dân gian. Cũng cần nhấn mạnh rằng tất cả những t tởng, tình cảm đợc
biểu đạt trong bài hát trữ tình dân gian không trìu tợng mà bằng phơng thức
nghệ thuật cụ thể nổi lên nhận thức, tâm trạng của từng con ngời riêng biệt ở các
nhân vật trữ tình cụ thể. Mỗi ngời, từng nơi, từng lúc, từng hoàn cảnh đều soi đ-
ợc, tìm thấy ở ca dao một phần hồn mình trong đó.
3. Đặc điểm về diễn xớng.
Xét về hình thức diễn xớng ca dao cso hai hìhn thức cơ bản là hát cuộc và
hát lẻ:
Ngời thực hiện: Đào Dung Oanh Lớp chuyên tu Đại học Ngữ Văn
9
Phơng pháp dạy và học chùm ca dao về tình cảm gia đình trong Trờng THCS
a. Hát cuộc (hát lề lối, thủ tục)
Đây là hình thức hát tập thể đợc diễn ra quy mô với hình thứuc đối ca
nam nữ (có thể một tốp nam một tốp nữ hoặc hai phờng hai họ) thờng đợc tuân
thủ theo ba chặng:
*Hát chào, mời đố hỏi:
Đây là chặng hát mang tính chất của lời chào hỏi làm quen trong buổi
gặp gỡ ban đầu của đôi bên nam nữ, cho nên dờng nh nó mang tính chất trang
trọng, xã giao. Họ làm quen, mời trầu, mời nớc, thử tài, ra điều kiện
- Hỏi chàng quê quán nơi nao
Sao mà chàng biết vờn đào có hoa.
- Anh là khách lạ đờng xa
Biết đây có khách đào hoa tới tìm.
- Em đố anh biết sông nào sâu nhất?
- Ngời về em những khóc thầm
Hai hàng nớc mắt dầm dầm nh ma.
-Ngời về em có rặn rằng
Đâu hơn ngời lấy, đâu bằng đợi em.
-Ngời về để áo lại đây
Đêm khuya em đắp gió tây lạnh lùng.
Hình thức hát theo lề lối này rất phổ biến trên khắp mọi miền đất nớc từ
Bắc chí Nam: hát ghẹo Vĩnh Phúc, hát quan họ bắc Ninh, hát trống quân Thanh
Hoá, hát ví phờng vải Nghệ Tĩnh, hát giã gạo Quảng Nam, hát đối đáp Gò Công,
Nam Bộdiễn ra trong lao động nghề nghiệp, đặc biệt trong các lễ hội mùa
xuân. Trong lời bạt cho cuốn sách Dân ca miền Nam Trung Bộ, Nhà thơ Xuân
Diệu có kể về thời thơ ấu của mình từng đợc chứng kiến hình thức sinh hoạt văn
nghệ này ở mảnh đất Quảng Nam quê ông: Cứ bảy, tám ngời phụ nữ giã gạo thì
có khoảng sáu, bảy ngời nam giới đến giã gạo giúp và hát đối đáp. Họ vừa giã
gạo vừa hát trong đêm trăng theo hình thức hát cuộc, cũng chào hỏi, đối đáp thử
tài, cũng hát thơng rồi hát chia tay. Họ hát say sa thâu đêm suốt sáng. Có nhiều
khi gạo đã giã xong rồi mà lời hát đối còn cha muốn dứt, họ lại đổ trấu vào giã
tiếp và hát tiếp. Trong những cuộc hát này cũng có nhiều đôi nên vợ nên chồng,
lại cũng có ngời thua cuộc mà cay cú cắt tóc tuyên bố "giải nghệ" thề không đi
hát nữa.
b. Hát lẻ (hát ví vặt, hát ví lẻ)
Đây là hình thức hát tự do không cần tuân thủ lề lối, quy cách nh hát
cuộc. Ngời hát có thể hát theo ngẫu hứng khi đang lao động, đang nghỉ ngơi, ví
dụ một tốp cô gái thợ cấy đang làm việc dới cánh đồng chợt thấy một chàng trai
đi qua, các cô gái tinh nghịch cất lên tiếng hò trêu ghẹo:
Hỡi anh đi đờng cái quan
Dừng chân đứng lại em than vài lời
Đi đâu vội mấy anh ơi
Việc quan đã có chị tôi ở nhà.
Hôm qua em mất quần thâm
* Kết cấu đối đáp:
+ Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng đợc chăng
+ Đan sàng thiếp cũng xin vâng
Tre vừa đủ lá nên chăng hỡi chàng
* Xen kẽ câu trần thuật và đối đáp.
Sáng ngày em đi hái dâu
Thấy hai anh ấy ngồi câu thạch bàn
Hai anh đứng dậy hỏi han
Hỏi rằng: Cô ấy vội vàng đi đâu?
Tha rằng em đi hái dâu
Hai anh đứng dậy mở trầu ra ăn
Tha rằng: Bác mẹ em răn
Làm thân con gái chớ ăn trầu ngời
* Kết cấu song trùng tức là lặp lại một câu hoặc vài ba từ trong câu:
Diều hầu không tranh tổ chim nhạn
Ngời thực hiện: Đào Dung Oanh Lớp chuyên tu Đại học Ngữ Văn
12