Tài nguyên rừng TG và VN - Tư liệu ĐL PT - Pdf 58

Tài nguyên rừng
1. Tài nguyên rừng gồm những gì?
Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt trái đất, giữ vai trò to lớn đối với con người:
• Cung cấp nguồn gỗ, củi.
• Ðiều hoà khí hậu, tạo ra oxy.
• Ðiều hoà nước.
• Nơi cư trú động của động, thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm.
Một hecta rừng hàng năm tạo nên sinh khối khoảng 300 - 500 kg, 16 tấn oxy (rừng thông 30 tấn, rừng
trồng 3 - 10 tấn). Mỗi người một năm cần 4.000kg O2 tương ứng với lượng oxy do 1.000 - 3.000 m2 cây
xanh tạo ra trong năm. Nhiệt độ không khí rừng thường thấp hơn nhiệt độ đất trống khoảng 3 - 5oC.
Rừng bảo vệ và ngăn chặn gió bão. Hệ số dòng chảy mặt trên đất có độ che phủ 35% lớn hơn đất có độ
che phủ 75% hai lần. Lượng đất xói mòn của rừng bằng 10% lượng đất xói mòn từ vùng đất không có
rừng. Rừng là nguồn gen vô tận của con người, là nơi cư trú của các loài động thực vật quý hiếm. Vì vậy,
tỷ lệ đất có rừng che phủ của mỗi quốc gia là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường quan trọng.
Diện tích đất có rừng của một quốc gia tối ưu phải đạt 45% tổng diện tích.
Tài nguyên rừng trên trái đất ngày càng bị thu hẹp về diện tích và trữ lượng.
• Ðầu thế kỷ 20 diện tích rừng thế giới là 6 tỷ ha
• 1958 4,4 tỷ ha
• 1973 3,8 tỷ ha
• 1995 2,3 tỷ ha.
Tốc độ mất rừng hàng năm trên thế giới là 20 triệu ha, trong đó rừng nhiệt đới bị mất là lớn nhất, năm
1990 châu Phi và Mỹ La Tinh CÒN 75% DIỆN TÍCH RỪNG NHIỆT ÐỚI, CHÂU Á còn 40%. Theo dự
báo đến năm 2010 rừng nhiệt đới chỉ còn 20 - 25% ở một số nước châu Phi, châu Mỹ La Tinh và Ðông
Nam Á. RỪNG ÔN ÐỚI KHÔNG GIẢM VỀ diện tích nhưng chất lượng và trữ lượng gỗ bị suy giảm
đáng kể do ô nhiễm không khí. Theo tính toán giá trị kinh tế rừng ở châu Âu giảm 30 tỷ USD/năm.
1
BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG: SUY NGHĨ TỪ
THẢM HOẠ CHÁY RỪNG U MINH

Theo số liệu thống kê vào khoảng những năm 30 của thế kỷ 20, chỉ riêng rừng U Minh Thượng
có diện tích là 142000 ha với địa hình sông rạch chằng chịt. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ,

trương chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, "phủ xanh đất trống đồi núi
trọc" nên nhiều năm gần đây diện tích rừng ở nước ta đã tăng 1,6 triệu hecta so với năm 1995, trong đó
rừng tự nhiên tăng 1,2 triệu hecta, rừng trồng tăng 0,4 triệu hecta.
Công tác quản lí, quy hoạch tài nguyên rừng cũng có những chuyển động tích cực. Trên phạm vi cả nước
đã và đang hình thành các vùng trồng rừng tập trung nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất. Chẳng
hạn, vùng Đông bắc và Trung du Bắc bộ đã trồng 300 nghìn hecta rừng nguyên liệu công nghiệp, Bắc
Trung bộ có 70 nghìn hecta rừng thông. Ngoài ra, hơn 6 triệu hecta rừng phòng hộ và 2 triệu hecta rừng
đặc dụng được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học; có
tới 15 vườn quốc gia và hơn 50 khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng, quy hoạch và quản lí... Trong 10
2
năm qua, hàng năm giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt xấp xỉ 6 nghìn tỷ đồng, chiếm 5-7% giá trị sản lượng
nông, lâm thuỷ sản.
Mặc dù có những kết quả tích cực trong quy hoạch, sản xuất cũng như trong bảo vệ và phát triển nguồn
tài nguyên rừng, song nhìn chung chất lượng rừng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất thấp, rừng nước ta đã ít
mà trong đó có tới hơn 6 triệu hecta rừng nghèo kiệt, năng suất rừng trồng còn thấp. Đặc biệt, nguồn tài
nguyên rừng nước ta vẫn tiếp tục đứng trước những nguy cơ nghiêm trọng như bị huỷ hoại, suy thoái,
giảm sút và mất dần tính đa dạng sinh học của rừng. Hậu quả khôn lường của những vụ tàn phá rừng
trước đây và gần đây nhất là thảm họa cháy rừng U Minh (3/2002), đã khiến cho gần 8 nghìn hecta rừng
U Minh Thượng và U Minh Hạ bỗng chốc trở thành đống tro tàn, đã thực sự là những lời cảnh báo
nghiêm khắc đối với chúng ta trong "sứ mệnh" bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng nói riêng và bảo vệ
môi trường sống- chiếc nôi dung dưỡng sự sống của con người - nói chung.
Rừng U Minh bao gồm những cánh rừng tràm bạt ngàn chạy dọc theo bờ rìa Vịnh Thái Lan thuộc hai
tỉnh Kiên Giang và Cà Mau hiện nay, trong đó phần thuộc Kiên Giang được gọi là U Minh Thượng, còn
phần thuộc Cà Mau là U Minh Hạ. Rừng U Minh được xếp vào hệ sinh thái rừng ngập lợ với một hệ thực
- động vật rất phong phú, gồm hàng trăm loài quý hiếm; có nhiều loài đã được liệt vào sách đỏ có nguy
cơ tuyệt chủng, như rái cá lông mũi (Lutra Sumatrana) cực kì quý hiếm, rấỏt khó tìm thấy trên thế giới
hiện nay. Bên cạnh đó, U Minh còn nổi tiếng với những loài chim muông, thú rừng như trăn, tê tê, rắn,
rùa, lợn rừng, ong mật. Mật ong U Minh có chất lượng tuyệt vời và hương thơm đăc biệt do được đàn
ong nhào luyện, tinh chiết từ nhuỵ hoa tràm có ý nghĩa dược liệu. Dưới lòng đất U Minh còn tàng trữ
hàng tỷ mét khối than bùn được trầm tích hàng ngàn năm từ thân lá cây tràm và các loài cây khác. Sự

trồng rẫy, trồng lúa, nuôi tôm và nạn lâm tặc hoành hành. Tuy chưa có số liệu thống kê cụ thể, nhưng
theo nhiều ý kiến thì những thiệt hại của sự tàn phá rừng từ những lí do nêu trên có lẽ cũng không thua
kém là bao so với những thảm hoạ cháy rừng. Tổng diện tích rừng U Minh ( gồm U Minh Thượng và U
Minh Hạ) sau thảm họa cháy vừa qua chỉ còn lại khoảng 60 nghìn hecta - một con số nhỏ nhoi so với
diện tích hơn 200 nghìn hecta vốn có của nó 50 năm trước. Sự thay đổi này đang bào mòn, huỷ hoại hệ
sinh thái rừng ngập nước U Minh, dẫn đến những hệ luỵ khó lường đối với môi trường khu vực các tỉnh
lân cận cũng như cả nước, ảnh hưởng tiêu cực nặng nề đến sự phát triển kinh tế - xã hội trước hết là của
hai tỉnh Kiên Giang và Cà Mau. Với tốc độ huỷ hoại nhanh như gần 30 năm qua, nếu không có biện pháp
ngăn chặn hữu hiệu, thì rừng U Minh rất có thể sẽ biến mất thực sự và chỉ còn lại trong những câu
chuyện kể huyền thoại đối với các thế hệ tương lai (!)
Thảm hoạ cháy rừng U Minh vừa qua càng đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với công tác quy hoạch,
sản xuất, quản lí, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng ở nước ta hiện nay. Trước hết, cần khẩn
trương đề ra những biện pháp tăng cường sự quản lí, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan chức năng về
quản lí - bảo vệ tài nguyên rừng. Tinh thần trách nhiệm, ý thức cảnh giác cao và năng lực thực thi chức
trách của các cá nhân và cơ quan quản lí chuyên ngành là những yếu tố tối cần thiết góp phần ngăn chặn
những tai họa, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng. Sự kiện cháy rừng U Minh vừa qua bộc lộ rõ sự yếu kém
về tinh thần trách nhiệm và sự chủ quan của đội ngũ những người đảm trách nhiệm vụ bảo vệ rừng.
Nhiều tháng trước khi xảy ra vụ cháy lớn, ở rừng U Minh Thượng đã từng diễn ra các vụ cháy nhỏ. Mặt
khác, cũng không dưới một lần đã xuất hiện những lời cảnh báo của dư luận về nguy cơ cháy rừng với
quy mô lớn trong tình hình nắng nóng, hạn hán kéo dài ở nhiều địa phương ở nước ta. Tại U Minh Hạ,
trước khi xảy ra thảm hoạ cũng đã có tới 29 vụ cháy. Hơn nữa, trên thực tế, các khu rừng hiện nay đều có
sự phân công quản lí của các lâm, ngư trường và các hạt kiểm lâm, nhưng phần lớn các vụ cháy rừng từ
trước đến nay đều chưa thể xác định nguyên nhân rõ ràng và truy cứu trách nhiệm cụ thể. Những sự việc
nêu trên cho thấy những hạn chế và sự lơi lỏng trong công tác quản lí, kiểm tra, kiểm soát thường xuyên
cũng như tinh thần thiếu cảnh giác của các cá nhân và cơ quan hữu trách.
Rừng U Minh cháy lớn và khó dập tắt còn do nước ở dưới chân rừng cạn kiệt, đây một phần là hệ quả
của việc đào mương, xẻ kênh vào các khu rừng để khai thác cá đồng và lấy nước tưới rẫy, lúa. Cho nên,
khi hoả hoạn xảy ra vào thời điểm khô hạn nhất thì lửa đã bắt cháy từ phần thân trên của các loại cây vào
lớp than bùn, gây cháy ngầm rất nguy hiểm. Đối với rừng U Minh để ngăn chặn hoả hoạn, một vấn đề
đặt ra là cần nhanh chóng quy hoạch hành lang an toàn cho rừng bằng những biện pháp thích hợp, trong

tư thoả đáng và trang bị phương tiện kỹ thuật chuyên ngành hiện đại. Vấn đề có ý nghĩa mấu chốt trong
việc thực hiện Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001 - 2010 nhằm đạt được mục tiêu đề ra là
nâng độ che phủ của rừng ở nước ta lên 43%, bảo vệ tính đa dạng sinh học và tính ổn định, bền vững của
quá trình phát triển tài nguyên rừng thì nhất thiết phải đặt sự nghiệp bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng,
bảo vệ môi trường sống là bộ phận cấu thành hữu cơ không thể thiếu của chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội, của chiến lược công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Trong đó, cần chú trọng hơn nữa đến đổi
mới cơ chế chính sách nhằm chuyển mạnh một cách hiệu quả ngành lâm nghiệp theo hướng lâm nghiệp
xã hội - lâm nghiệp cộng đồng, huy động được mọi nguồn lực và lực lượng xã hội tham gia quản lý, bảo
vệ rừng vì lợi ích trực tiếp của cộng đồng. Đây là một trong những hướng đi thiết thực nhằm ngăn chặn
và đẩy lùi những thảm họa như đã từng xảy ra với rừng U Minh vừa qua./.
Tài nguyên rừng ở Việt Nam
Nằm trong vùng thuộc khu hệ rừng mưa nhiệt đới, rừng nước ta nổi tiếng về tài nguyên gỗ, nhất là đặc
sản có giá trị.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng có tình trạng chung như những nước đang phát triển khác, diện tích rừng bị
thu hẹp nhanh chóng. Theo bản đồ rừng của Maurand vào năm 1945 thì nước ta có 14,352 triệu ha rừng,
chiếm tỷ lệ 43,8% so với diện tích tự nhiên.
Theo số liệu điều tra của viện qui hoạch rừng thì đến năm 1975 còn 9,5 triệu ha rừng, chiếm 29,1% diện
tích tự nhiên, đến năm 1981 còn 7,4 triệu, chiếm 24%, đến năm 1989 có 9,3 triệu, trong đó có những
rừng mới trồng.
Diện tích rừng ở Việt Nam so với diện tích đất tự nhiên
STT Khu vực
Diện tích đất
tự nhiên (1000
ha)
Diện tích
rừng (1000
ha)
Tỷ lệ % diện tích
rừng/đất tự nhiên
(%)

trong đó có các loài thú quí hiếm của thế giới như Bò xám Cuprey, Tê Giác.
Rừng khộp nghèo để tạo thành đồng cỏ chăn nuôi. Đất rừng khộp giàu để phát triển cây công nghiệp, cây
lương thực và cây ăn trái... Ở rừng này, người ta thường áp dụng lối canh tác nông lâm kết hợp.
3. Rừng lá kim
6
Ở các vùng cao trên 1000 m ở phía Nam thích hợp với các loài thực vật lá kim (Tùng, Bách, Thông 2 lá,
Thông 3 lá) đã tạo nên những cánh rừng bạt ngàn trên cao nguyên Lâm Đồng. Tùy theo độ cao và chế độ
ẩm cụ thể mà rừng thông có thể xen lẫn với cây lá rộng của rừng Khộp hoặc của rừng thường xanh Á
nhiệt đới.
Rừng thông ở đây cung cấp gỗ xây dựng, gỗ gia dụng, làm bột giấy. Nhựa thông dùng để chế biến
colofan, dầu thông, nhiều loại hóa chất khác nhau là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao. Ở dưới tán
rừng thông hoặc xen kẻ với cây công nghiệp, cây thuốc, cây ăn trái hoặc các đồng cỏ chăn nuôi.
Ở các vùng cao trên 1500 m thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn cũng có rừng lá kim, nhưng khu vực nhỏ
hơn, thường gặp là thông, Pơmu là loại quí.
4. Rừng thường xanh lá rộng Á nhiệt đới
Thường gặp ở các vùng núi cao trên 800 m ở phía Bắc, phần lớn gồm các cây hiện diện thuộc họ Dẻ
(Fagaceae), họ Long Não (Lauraceae), họ Thạch Nam (Ericaceae)... và các cây Tre, Nứa (họ Poaceae).
thực vật phụ sinh phát triển mạnh, thường là Phong lan (Orchidaceae), ráng đuôi phụng, ráng tổ rồng
(Polypodiaceae) và các cây Thảo quả (họ Zingiberaceae). Ở vùng rừng này, người ta thường trồng những
cây thuốc như: Đỗ Trọng (họ Eucommiaceae), Quế (họ Lauraceae), Nhân sâm (họ Araliaceae)...
5. Rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới trên núi đá vôi
Thành phần thực vật trên núi đá vôi khá phong phú, chủ yếu là rừng thường xanh, cây rụng lá chiếm tỷ lệ
nhỏ. Các loài cây đặc hữu của vùng này gồm : Nghiến (họ Tilliaceae), cây Kim giao (họ Podocarpaceae),
cây Trai ly (họ Clusiaceae)... là những loại gỗ quí, thường chúng có đặc điểm chung là ưa Calci, chịu
hạn, ít chịu chua. Nhiều loài vừa có bộ rễ phát triển sâu, vừa có khả năng kiềm chế thoát nước trên mặt
lá. Nhưng cũng có những loài rễ cạn, chúng sinh trưởng nhanh trong mùa mưa ẩm và rụng lá vào mùa
khô. Nơi gần đầu nguồn do hang động đưa nước từ nơi khác đến, nên chúng ta thường gặp cây nhiệt đới
thường xanh và Tre, Trúc. Rừng này thích hợp cho các loài vật cần hang động để lẫn trốn thú dữ như:
Sơn dương, khỉ, vượn... Đây là loại rừng đặc sắc đối với con người vì nơi đây còn giữ lại nhiều nguồn
gen, quí, có giá trị cao trong nghiên cứu khoa học, rừng quốc gia Cúc Phương được thành lập theo kiểu


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status