PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong mỗi Quốc gia, mỗi thời kỳ, mỗi điều kiện tự nhiên - kinh tế -
xã hội cụ thể đều có một chiến lược cụ thể đảm bảo an ninh lương thực khác
nhau, nhưng mục đích cuối cùng là đảm bảo đủ nhu cầu lương thực tối thiểu
cho mọi thành viên trong xã hội. Việt Nam đi lên từ cây lúa nước, từ một nền
nông nghiệp lạc hậu, cho đến nay, lao động nông nghiệp chiếm khoảng 75%,
nguồn thu nhập chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, Đảng và
Nhà nước ta luôn chú trọng việc sản xuất lương thực, coi đây là nhiệm vụ
hàng đầu cho vấn đề an ninh lương thực Quốc gia.
Trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước ngày nay, diện tích sản xuất lúa
phải nhường chỗ cho các công trình xây dựng, cho phát triển công nghiệp,
cho quá trình đô thị hoá diễn ra ồ ạt, thì vấn đề về đảm bảo lương thực càng
đặt lên vai người nông dân một trọng trách hết sức lớn lao.
Xã Quảng Phước là một xã vùng ven phá của huyện Quảng Điền và là
trung tâm KT-VH-XH của huyện Quảng Điền. Trong nhiều năm qua sản
xuất nông nghiệp đã đạt được những tiến bộ đáng kể, trong đó cây lúa đóng
vai trò chủ đạo. Với lợi thế, địa hình bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, xã đã áp
dụng nhiều biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất, đã mạnh dạn đưa các giống
lúa mới có năng suất cao. Nhờ vậy mà những năm qua sản lượng lúa được
ổn định trong khi diện tích canh tác giảm. Bên cạnh đó vẫn còn không ít hộ
nông dân sản xuất kém hiệu quả, mất mùa do chăm sóc bón phân, phun thuốc
không đúng kỹ thuật, năng suất không cao do sử dụng giống lúa sẵn có từ vụ
thu hoạch trước, giống không thuần. Trước thực trạng đó, để nghiên cứu một
cách toàn diện các biện pháp kỹ thuật, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
trong quá trình sản xuất, cũng như vấn đề về giống lúa có năng suất cao,
phẩm chất tốt và thích nghi với điều kiện khí hậu đất đai tại địa phương, để
nâng cao giá trị thu nhập cho người nông dân trên một đơn vị diện tích.
Được sự giúp đỡ của nhà trường cũng như quý thầy cô giáo, nhóm
chúng tôi đã có cơ hội được nghiên cứu thực tế, để từ đó đánh giá được thực
trạng sản xuất lúa của địa phương, khẳng định lại vai trò chủ lực của cây lúa
B6…Vitamin B1 là 0,45 mg/100hạt. Từ những đặc điểm của cây lúa và giá
trị của nó, lúa gạo được coi là nguồn thực phẩm, dược phẩm có giá trị và
được tổ chức dinh dưỡng quốc tế gọi là "Hạt gạo là hạt của sự sống".
Với giá trị dinh dưỡng của hạt kết hợp với việc chọn tạo giống có
năng suất cao, phẩm chất tốt thì lúa gạo ngoài việc sử dụng hàm lượng lương
thực là chủ yếu thì các sản phẩm phụ của lúa còn sử dụng rất nhiều trong các
lĩnh vực khác nhau.
1.1.2. Một số đặc điểm của cây lúa
1.1.2.1. Đặc điểm sinh học
Sinh trưởng và phát triển của cây lúa phụ thuộc rất nhiều yếu tố, từ
điều kiện tự nhiên, tình hình canh tác, phân bón đất đai, mùa vụ gieo trồng,
giống và thời gian sinh trưởng của từng giống lúa.Quá trình sinh trưởng của
cây lúa có thể chia ra làm hai thời kỳ: Sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng
sinh thực.
- Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng: Ở thời kỳ này cây lúa chủ yếu hình
thành và phát triển các cơ quan dinh dưỡng như ra lá, phát triển rễ, đẻ
nhánh…
- Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: Là thời kỳ phân hoá, hình thành cơ
quan sinh sản bắt đầu từ khi làm đòng đến khi thu hoạch. Bao gồm các quá
trình làm đòng, trổ bông, hình thành hạt. Quá trình làm đốt tuy là sinh trưởng
dinh dưỡng nhưng lại tiến hành song song với quá trình phân hoá đòng nên
nó cũng nằm trong quá trình sinh thực. Thời kỳ này có ảnh hưởng trực tiếp
đến việc hình thành số bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng hạt lúa.
+ Quá trình nẩy mầm: Hạt hút nước, độ ẩm trong hạt tăng, hoạt động
các men hô hấp và phân giải rõ rệt, một loạt các phản ứng sinh hoá xảy ra,
phôi được cung cấp glucoza, axitamin, các tế bào phân chia, lớn lên trục phôi
phình to, đẩy mầm khi nẩy mầm, đầu tiên xuất hiện lá bao hình vảy, không
có diệp lục. Đồng thời trong quá trình nẩy mầm, từ phôi xuất hiện rễ phôi.
Rễ này dài, sau này phát triển thành các lông tơ giúp hạt hút nước trong thời
kỳ đầu.
rơi xuống đầu nhuỵ, sau 15 phút ống phấn bắt đầu dài ra, các chất trong hạt
bắt đầu dồn về ống phấn. Sau thụ tinh là quá trình phát triển phôi và phôi
nhũ.
+ Quá trình chín hạt: Chúng ta có thể chia quá trình chín hạt ra làm ba
thời kỳ: chín sữa, chín sáp và chín hoàn toàn.
• Chín sữa: Sau phơi màu 6-7 ngày các chất dự trữ trong hạt ở dạng lỏng,
trắng như sữa, hình dạng hạt hoàn thành có màu xanh, trọng lượng hạt tăng
nhanh ở thời kỳ này.
• Chín sáp: Ở thời kỳ này chất dịch trong hạt dần dần đặc lại, hạt cứng và
màu xanh dần chuyển sang màu vàng.
• Chín hoàn toàn: Thời kỳ này hạt chắc cứng, màu vàng nhạt và trọng lượng
hạt đạt tối đa.
Quá trình lúa chín kéo dài 30-40 ngày tuỳ theo giống, thời vụ. Đây là
quá trình quyết định năng suất lúa.
1.1.2.2. Đặc điểm sinh thái
Ngoài sự tác động của con người thì khí hậu thời tiết là yếu tố quan
trọng nhất của điều kiện sinh thái, nó có ảnh hưởng lớn nhất và thường
xuyên đến quá trình sinh trưỡng và phát triển của cây lúa.
+ Về nhiệt độ: Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa phụ
thuộc rất nhiều về nhiệt độ trong vụ gieo trồng. Nếu thời tiết thuận lợi, nhiệt
độ trung bình cao cây lúa đạt được tổng nhiệt cần thiết sẽ ra hoa và chín sớm
hơn tức là rút ngắn thời gian sinh trưởng và ngược lại. Để cho cây lúa phát
triển tốt thì cần nhiệt độ khác nhau qua các thời kỳ sinh trưởng.
• Thời kỳ nẩy mầm: Nhiệt độ thích hợp cho cây lúa nẩy mầm là
30-35
0
C. Nhiệt độ giới hạn thấp nhất là 10-12
0
C và quá cao là trên 40
0
1.1.3. Một số vấn đề về hiệu quả và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh
tế:
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng
đầu của các nhà sản xuất, nhà kinh doanh và cũng là mối quan tâm chung
của toàn xã hội. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất
lượng của hoạt động kinh tế, là thước đo trình độ tổ chức và chức năng quản
lý kinh doanh của các doanh nghiệp. Chính vì vậy trong điều kiện hiện nay
các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì yêu cầu đặt ra là phải kinh
doanh có hiệu quả, thì doanh nghiệp mới đứng vững trên thị trường. Với một
lượng đầu vào hay tài nguyên nhất định, để tạo ra một khối lượng sản phẩm
lớn nhất có thể được là mục tiêu chung của các nhà sản xuất và các nhà quản
lý. Tuy nhiên trong thực tế nghiên cứu ta thu được kết quả rất đa dạng và
phong phú, kết quả có thể trên phương diện kinh tế - tài chính mà cũng có
thể trên phương diện KT-XH. Từ đó mà hình thành nên khái niệm hiệu quả
kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội.
Như vậy, hiệu quả kinh tế là sự tương quan so sánh giữa lượng kết
quả đạt được và chi phí bỏ ra, nó thể hiện bằng các chỉ tiêu như sau: Giá trị
tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận ... tính trên lượng chi phí bỏ ra.
Hiệu quả xã hội là tương quan so sánh giữa chi phí xã hội bỏ ra và kết
quả mà xã hội đạt được như: tăng thêm việc làm, cải tạo môi trường sinh
thái, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo ...
Hiệu quả kinh tế - xã hội là sự tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra
và kết quả đạt được cả về kinh tế và xã hội. Mục tiêu cuối cùng của phát
triển kinh tế là phát triển xã hội. Do đó khi nói đến hiệu quả kinh tế chúng ta
nói trên quan điểm kinh tế xã hội.
Tùy theo mục đích tính toán hiệu quả kinh tế mà xác định kết quả sao
cho phù hợp. Đối với nông hộ, kết quả cần được quan tâm là thu nhập. Chi
phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh là những chi phí cho các yếu tố đầu vào
như: đất đai, lao động, nguyên nhiên liệu. Sau khi đã xác định được kết quả
thu được và chi phí bỏ ra chúng ta có thể tính được hiệu quả kinh tế bằng các
gia đình
- Chi phí trung gian (IC): là bộ phận cấu thành giá trị sản xuất bao
gồm những chi phí vật chất và dịch vụ cho sản xuất (không kể khấu hao),
như phân bón, thuốc các loại, thuê thu hoạch, các khâu dịch vụ như thuỷ lợi,
làm đất, vận chuyển, tuốt lúa.
• Chi phí vật chất trong sản xuất lúa là các yếu tố đầu vào: giống, phân bón,
thuốc các loại…
• Chi phí dịch vụ trong sản xuất lúa:
Công lao động thuê ngoài
Các chi phí dịch vụ khác
+ Năng suất lúa (N): Chỉ tiêu này nói lên sản lượng thu được trên một
đơn vị diện tích, được xác định bằng công thức sau:
N=Q/S
Trong đó: Q: sản lượng lúa
S: diện tích gieo lúa
* Các chỉ tiêu phản ánh quy mô lợi nhuận của đơn vị sản xuất có
được trong sản xuất.
VA/IC: Giá trị tăng thêm trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản
ánh một đồng chi phí trung gian có thể tạo ra bao nhiêu đồng giá trị tăng
thêm trong kỳ.
GO/IC: Giá trị sản xuất trên chi phi trung gian, chỉ tiêu này phản ánh
một đồng chi phí trung gian có thể tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
trong kỳ.
VA/lao động gia đình (LĐGĐ): Chỉ tiêu này phản ánh một công lao
động gia đình tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng trong kỳ sản xuất.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới và ở Việt Nam
- Trên thế giới, lúa chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt ở vùng Châu
Á.
Ở Châu Á, lúa là món ăn chính giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê
là các nước Triều Tiên, Úc, Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha (IRRI, 1990).
Từ
năm 1990 trở đi đến tại thời điểm hiện nay năng suất lúa thế giới liên tục
được
cải thiện đạt 4,3 tấn/ha năm 2008, tuy nhiên chỉ bằng phân nửa năng suất
của
Ai Cập (9,7 tấn/ha) nước đứng đầu thế giới.
Xuất phát điểm của Việt nam là một nước nông nghiệp, cây lúa là cây
trồng chính và lâu đời, cây lúa được phân bố khắp mọi miền của đất nước từ
Bắc vào Nam, là một trong những nước có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự
phát triển của cây lúa. Hơn 70 % dân số Việt nam sống bằng nghề trồng lúa,
nhân dân ta rất cần cù, sáng tạo và giàu kinh nghiệm trong nghề trồng lúa
nước, được kế thừa những kinh nghiệm của cha ông và đúc rút nhiều thành
công trong công tác chăm sóc và gieo trồng.
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa nước ta qua 2 năm
Chỉ tiêu ĐVT 2008 2009 2009/2008
± %
Diện tích
lúa
Nghìn
ha
7400,2 7440,1 +39,9 0,5
Năng suất tạ/ha 52,3 52,2 -0,1 0,2
Sản lượng Nghìn
tấn
38729,8 38895,5 165,7 0,4
(Nguồn: Niên giám thống kê cả nước 2009)
Qua số liệu thực tế, diện tích sản xuất lúa của nước ta qua 2 năm tăng
lên . Từ 7400,2 nghìn ha (năm 2008), tănglên 7440,1 nghìn ha (năm 2009),
tức tăng 39,9 nghìn ha so với năm 2009, tương ứng giảm 0,5%.Tuy vậy năng
26,64
7
24,142 625 51,684 26,323 24,301 692 51,316 - 368 -0,71
2. năng suất
(tạ/ha)
49 42,7 14,7 106,4 50,5 46,3 15,2 112 +5,6 +5,2
6
3. sản lượng
(tấn)
130,6
56
104,159 921 235,736 123,922 112,516 1,052 246,490 +10,754 +4,5
6
(nguồn: niên giám thống kê tỉnh TT Huế 2005)
1.2.3. Tình hình sản xuất lúa của Huyện Quảng Điền, tỉnh TT Huế
Huyện Quảng Điền là vùng đất trù phú, phì nhiêu, trải dài dọc theo bờ
biển phá Tam Giang. Bên cạnh những thuận lợi phát triển nông nghiệp huyện
cũng gặp không ít khó khăn. Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, thường
bị thiên tai lũ lụt, hạn hán, ngập úng, sâu bệnh… đã làm cho năng suất lúa
giảm rất đáng kể. Tuy nhiên, qua 5 năm tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới
của Đảng, tình hình KT-XH của huyện có bước phát triển và mở ra một số
triển vọng mới.
Bảng 3: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của huyện Quảng Điền
Chỉ
tiêu
2003
ĐX HT
Cả
năm
2004
kinh tế hơn và có một ít diện tích phải bỏ hoang.Tuy nhiên việc giảm diện
tích này là một phần làm giảm sản lượng lúa. Do đó, huyện cần phải xem xét
thật kỹ, xây dựng thuỷ lợi để phục vụ tưới tiêu, đặc biệt trong vụ HT để hạn
chế việc giảm diện tích sản xuất lúa không cần thiết. Đối với cả năm thì diện
tích gieo trồng lúa năm 2004 giảm so với năm 2003 là 212 ha tương ứng