TRƯỜNG
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Thực trạng và giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả quy
trình sản xuất và xuất khẩu
tại công ty sản xuất và xuất
khẩu PROSIMEX
1
THỊ TRƯỜNG CÀ PHấ THẾ GIỚI VÀ CÁC GIẢI PHÁP
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH XUẤT
KHẨU CÀ PHấ TẠI CễNG TY SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU
PROSIMEX. Giỏo viờn hướng dẫn: Thạc sỹ Vũ Sỹ
Tuấn
Sinh viờn thực hiện: Trần Thị Lan Hương
Lớp: TC 18 A2 Hà nội, năm 2003 2
Từ nhiều năm nay cà phê đã trở thành một nhu cầu thiết yếu đối với cuôc
sống con người. Cà phê có giá trị kinh tế cao và là một trong những sản phẩm
nông nghiệp mang ngoại tệ lớn cho nhiều nước, theo một số nghiên cứu cho
thấy cà phê chứa một số vitamin nhóm B, đặc biệt là axit nicotenic, vitamin pp
và một số chất khác trong hạt cà phê có tới 670 hợp chất thơm, tại hương vị đặc
trưng tuyệt vời, khiến cho việc uống cà phê trở thành thói quen và tập quán của
phần lớn dân số trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển.
Về công dụng cà phê không chỉ là một loại đồ uống mà còn là nguyên liệu
Đề tài này ngoài phần mở đầu kết luận nội dung được chia làm 3 chương:
Chương 1: Tình hình thị trường cà phê thế giới thời gian qua.
Chương 2: Tình hình kinh doanh cà phê xuất khẩu tại công ty PROSIMEX.
Chương 3: Một số nhận định về kinh doanh cà phê xuất khẩu của Công ty
PROSIMEX và những giải pháp đề xuất. CHƯƠNG 1
TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ THẾ GIỚI THỜI GIAN QUA
I. TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ THẾ GIỚI THỜI GIAN QUA.
1.Vài nét về sản phẩm cà phê và các loại cà phê trên thị trường thế giới.
1.1 Các loại cà phê.
Cách đây hàng nghìn năm, cây cà phê đã được người dân du mục Ethiopi
ngẫu nhiên tìm thấy ở làng Cápfa, gần thủ đô Ethiopi. Đến thế kỷ thứ 6, cây cà
phê lan dần sang các nước và châu lục khác. Nhưng không phải ngay từ đầu cà
phê đã được thừa nhận là hấp dẫn và hữu ích mặc dù cho đến ngày nay không ai
còn phủ nhận công dụng và sự nổi tiếng của loại đồ uống này. Cà phê giúp con
người tỉnh táo và minh mẫn hơn trong mọi hoạt động và được coi như một món
tráng miệng, một bữa ăn phụ của nhiều nước trên thế giới .
Cà phê có rất nhiều loại khác nhau. Theo thống kê, trên thế giới hiện nay
có khoảng 70 loại cà phê đang được trồng và xuất khẩu. Trong đó phổ biến nhất
về diện tích trồng cũng như vai trò quan trọng trên thị trường cà phê thế giới là 2
loại cà phê :
- Cà phê chè ( chủng Arabica )
- Cà phê vối ( chủng Robusta )
Cả hai loại cà phê này, cũng như tất cả các loại cà phê khác, đều thuộc
giống Coffea nhưng về chất lượng và hương vị thì cà phê Arabica trội hơn cà
Hiện nay ở Việt Nam do điều kiện công nghệ chế biến còn lạc hậu nên
hầu hết cà phê xuất khẩu đều là cà phê nhân mới qua sơ chế. Ngoài ra có một số
ít là cà phê hoà tan nhưng chưa cạnh tranh được với hàng ngoại cả dạng nguyên
chất lẫn tổng hợp.
2. Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới .
Theo số liệu của tổ chức cà phê quốc tế ( ICO) hiện nay có khoảng 20 đến
30 nước sản xuất cà phê tập chung chủ yếu vào các khu vực là :
- Bắc và Trung Mỹ.
- Nam Mỹ.
5
- Châu Phi.
- Châu Á - Thái Bình Dương.
Phân bổ sản lượng cà phê thế giới theo các khu vực này có thể được tóm
tắt như sau: Châu Mỹ sản xuất ra 60 - 70 % sản lượng cà phê thế giới, tức là
khoảng gần 4 triệu tấn cà phê nhân. Châu Phi sản xuất ra 20 - 22% khoảng hơn 1
triệu tấn. Châu á hàng năm sản xuất khoảng 70 ngàn tấn cà phê chiếm 12% sản
lượng toàn thế giới, sản lượng cà phê hàng năm biến động thất thường nhưng
theo chiều hướng ngày càng tăng. Thập kỷ 70 sản lượng trung bình đạt 4,5 triệu
tấn trên một năm; thập kỷ 80 tăng nên 5,5 triệu tấn trong một năm ; Sang thập
kỷ 90 con số đã là 6 triệu tấn một năm.
Biểu đồ dưới đây sẽ cho chúng ta thấy tình hình sản xuất cà phê trên thế
giới theo hai loại cà phê chủ yếu Arabica và Robusta trong những vụ vừa qua
như sau:
0
100
200
300
400
như Nhật Bản và Hàn Quốc, bị ảnh hưởng bởi cơn bão tài chính tiền tệ năm
1997 nên nhu cầu giảm và có khả năng chuyển một phần sang tiêu dùng những
loại đồ uống khác chất lượng thấp hơn. Để giải quyết các vấn đề này người ta
đang hướng sự quan tâm hơn nữa vào các thị trường tương lai như: Nga, Đông
Âu, Trung Quốc. Các thị trường này có dân số đông, thu nhập tăng nhanh và
hiện tại chưa tiêu dùng nhiều loại đồ uống này.
3.2 Xuất khẩu :
Trong số hơn 80 thành viên của tổ chức cà phê quốc tế (ICO), có tới hơn
40 nước xuất khẩu cà phê. Các nước này có thể vừa trồng vừa xuất khẩu hoặc
chỉ kinh doanh cà phê xuất khẩu. Tuy nhiên các nước sản xuất cà phê lớn trên
thế giới đều là những nước vừa sản xuất vừa xuất khẩu. Điển hình là các nước
như: Brazin, Colombia, Việt Nam, Uganda, Bờ Biển Nga, Ethiopia, ấn Độ, vv
Trong đó Brazin và Colombia là các nước sản xuất và xuất khẩu cà phê Arabica
chủ yếu trên thế giới; các nước còn lại của Châu Á và Châu Phi là các nước xuất
khẩu cà phê Robusta lớn của thế giới .
Trên thực tế, lượng xuất khẩu cà phê hàng năm của các nước chính là
cung trên thị trường cà phê thế giới. Lượng cung này phụ thuộc rất nhiều yếu tố
trong đó sản lượng chỉ là một. Ngoài sản lượng, lượng cung cà phê trên thị
7
trường thế giới hàng năm còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế của các nước,
chính sách của hiệp hội các nước sản xuất cà phê (ACPC) và tổ chức cà phê
quốc tế (ICO) cũng như biến động nhu cầu giá cả, dự trữ và yếu tố đầu cơ.
Trung bình từ vụ 89/90 đến nay, mỗi vụ, sản lượng xuất khẩu vào khoảng 4,3
đến 4,9 triệu tấn cà phê nhân. Theo dự báo của ICO thì xuất khẩu cà phê thế giới
sẽ tiếp tục biến động xung quanh mức hiện tại, không có đột biến nào đáng kể.
4. Giá cả :
Giá cà phê phụ thuộc rất nhiều vào tình hình cung cầu cà phê trên thị
trường thế giới. Thông thường, để xác lập giá xuất khẩu những người xuất khẩu
cà phê thường lấy giá ở những sở giao dịch hàng hoá lớn như ở London, New
1990-1991 chỉ bằng 40 đến 42%. Giá cà phê còn thấp và giảm hơn vào năm
1992-1993, nhất là từ quý II năm 1992 đến quý III năm 1993. Sau đó lên dần.
Năm 1997 giá cà phê phục hồi và tăng nhanh như biểu đồ đã chỉ ra : nhưng cuối
năm 1997 đầu 1998 giá cà phê giảm liên tục; cuối năm 1998 đầu 1999 thì tình
hình xấu đi và diễn biến phức tạp làm cho các nhà xuất khẩu không dám xuất
hoặc chỉ xuất cầm chừng. Hiện tại giá cà phê xuất khẩu vần là một vấn đề chưa
khắc phục được do chưa có một cơ chế hiệu quả quản lý nguồn cung cà phê trên
thị trường thế giới.
9
SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÍ CỦA CÔNG TY
Phòng
nghiệp
vụ
tổng
hợp
Phòng
XNK 2
Xí
nghiệp
may
xuất
khẩu
Chi
nhánh
TP HCM
Đảng,
đon
thể
Phòng
tổ chức
hnh
chính
Ban xu
kh
Phòng
ti
chính
- Sản xuất và xuất khẩu cà phê làm cho quan hệ kinh tế thương mại giữa
Việt Nam và các nước được củng cố và phát triển .
Hiện nay cà phê Việt Nam đã xuất hiện trên khắp các châu lục từ Bắc Mỹ,
Tây Âu, Đông Âu đến Úc, Nam Á, Bắc Á.vv Chất lượng cà phê ở Việt Nam
cũng được thị trường quốc tế thừa nhận và ưa chuộng. Đảng và nhà nước ta luôn
coi cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nông nghiệp nói
riêng và của nước ta nói chung lên đã dành cho cây cà phê sự quan tâm đặc biệt.
Từ sau giải phóng, diện tích cà phê liên tục tăng từ vài chục nghìn hecta nay đã
lên tới gần 300 nghìn hecta cho năng suất cao tạo chỗ vững chắc cho xuất khẩu
cà phê tăng trưởng. Tiềm năng của cây cà phê Việt Nam rất lớn và phần lớn còn
đang chờ sự khai thác có hiệu quả cao, do vậy trong thời gian tới nghành cà phê
cần có những giải pháp cụ thể để phát huy tối đa tiềm năng này.
2. Sản xuất :
Cây cà phê đã được đưa vào Việt Nam từ rất lâu và được trồng đại trà từ
năm 1888. Do điều kiện khí hậu và đất đai thích hợp nên cây được phát triển
trên quy mô rộng và cho hạt chất lượng tốt không kém sản phẩm của những
nước sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn trên thị trường. Tuy nhiên phải đến sau
giải phóng ngành cà phê Việt Nam mới đi vào thời kỳ phát triển, sản lượng sản
xuất ra chủ yếu để xuất khẩu. Theo số liệu của tổng cục thống kê và nghành cà
phê thì sản xuất cà phê của ta mỗi năm một tăng:
11
Bảng 1: Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam qua các giai đoạn:
Niên vụ Diện tích Sản lượng sản xuất
1991 - 1992 135.000 101.000
1995 - 1996 225.000 245.270
1997 - 1998 295.000 410.530
(Nguồn: Tạp chí thương mại số tháng 8/1998.)
Năng suất cà phê bình quân cả nước cũng tăng liên tục. Nếu năm 1990 đạt
(TRIỆU USD)
TỐC ĐỘ TĂNG KIM
NGẠCH SO VỚI VỤ
TRƯỚC
1993 - 1994 158.520 21,5% 225,7 51.3%
1994 - 1995 212.038 33,7% 560,3 147%
1995 - 1996 233.000 9,8% 422 -24,6%
1996 - 1997 346.000 48,5% 414 -2%
1997 -1998 395.419 12,5% 599 45%
(Nguồn: Báo cáo tình hình cà phê xuất khẩu niên vụ 97/98 của bộ thương mại.)
Tuy nhiên, qua số liệu trong bảng 2 ta có thể thấy trừ niên vụ 94/95 kim
ngạch xuất khẩu cà phê của ta tăng vọt 147% lên hơn 560 triệu Đôla Mỹ so với
hơn 200 triệu Đôla Mỹ của vụ trước đó, còn lại các niên vụ tiếp sau kim ngạch
xuất khẩu của ta không những không tăng mà còn giảm mạnh trong khi sản
lượng xuất khẩu thì vẫn tăng đều đặn. Nguyên nhân của hiện tượng này phần lớn
là do cung cầu trên thị trường thế giới mất cân bằng dẫn tới giá cả giảm sút
nhưng cũng một phần do chất lượng cà phê xuất khẩu của ta chưa đáp ứng được
yêu cầu của khách hàng. Thậm chí bao cà phê của Việt Nam xuất sang các nước
trong nhiều trường hợp còn có tạp chất như đinh và nút chai lẫn bên trong.
Chính vì vậy mặc dù đã có nhiều tiến triển tốt nhưng vẫn còn một khoảng cách
không nhỏ giữa giá xuất cà phê của chúng ta và giá trung bình của cùng loại cà
phê trên thị trường thế giới.
Theo dự đoán, vụ cà phê 98/99 sản lượng sản xuất và sản lượng xuất khẩu
của Việt Nam giảm do hạn hán ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ kéo dài cộng
với mưa ở nhiều nơi đặc biệt là Đắk Lắk. Thời tiết xấu cũng sẽ làm giảm chất
lượng cà phê xuất khẩu của ta nên có thể ảnh hưởng tới yếu tố giá cà phê cũng
như uy tín của cà phê Việt Nam trên thị trường.
Về thị trường tiêu thụ, tính đến vụ cà phê 97/98 thị trường cà phê của Việt
Nam đã được mở rộng tới 52 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Những nước
nhập khẩu số lượng lớn là Mỹ, Canada, các nước Tây Âu và các nước Nhật Bản,
CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH KINH DOANH CÀ PHÊ XUẤT KHẨU
TẠI CÔNG TY PROSIMEX
14
I. GIỚI THIỆU TÓM LƯỢC VỀ CÔNG TY
1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty sản xuất kinh doanh xuất
nhập khẩu PROSIMEX.
Công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu PROSIMEX là một doanh
nghiệp nhà nước, có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh doanh độc lập được nhà
nước giao vốn, đất đai và các nguồn lực khá. Doanh nghiệp có nhiệm vụ sử
dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn được giao, có quyền và nghĩa vụ
với nhà nước, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn
do nhà nước giao.
Công ty ra đời và phát triển hoàn toàn dựa vào chính khả năng và sự cố
gắng của mình. Tiền thân của công ty là cơ sở sản xuất tăng gia, chăn nuôi của
văn phòng bộ kinh tế đối ngoại từ những năm 1970, nhằm để cải thiện đời sống
cho cán bộ công nhân viên. Theo quyết định 778/KTĐN/TCCB ngày
25/11/1989 của Bộ kinh tế đối ngoại (nay thuộc bộ thương mại), xí nghiệp gia
công hàng xuất khẩu trực thuộc văn phòng Bộ kinh tế đối ngoại ra đời. Ngày
24/03/1993, nghị định số 388/CP của chính phủ và kèm theo quyết định số
448/M/TCCB của Bộ Thương Mại, xí nghiệp gia công sản xuất đổi tên thành
công ty sản xuất gia công hàng xuất khẩu và nay là công ty sản xuất kinh doanh
xuất nhập khẩu.
Cơ sở vật chất ban đầu của công ty rất thiếu thốn. Tổng số vốn ban đầu
chỉ khoảng 3.785 triệu đồng, mà chủ yếu là TSCĐ (ôtô, máy sản xuất đinh, nhà
xưởng và đât đai). Năm 1990, năm hoạt động đầu tiên, kim ngạch xuất khẩu đạt
3,214 triệu USD trong đó xuất khẩu đạt 1,786 triệu USD và nhập khẩu đạt
2000m
2
nhà 3 tầng, đây là nơi làm việc của các phòng ban, 5500m2 nhà khung
để sản xuất, 2000 m
2
dùng để làm nhà kho và 1000 m
2
để làm vườn cây và khu
vui chơi giải trí của cán bộ công nhân viên. Ngay từ ngày đầu mới thành lập
,vừa hoàn thiện công tác tổ chức nhân sự và triển khai thực hiện kế hoạch sản
xuất kinh doanh, đơn vị đã thu được những thành quả đáng khích lệ. Nguồn vốn
tích luỹ cũng như cơ sở vật chất ngày càng dồi dào. Đội ngũ cán bộ nhân viên
không ngừng được đào tạo có tay nghề cao, đóng góp nghĩa vụ cho nhà nước
tăng dần theo các năm.
Chỉ tiêu năm 1999 2000 2001
Doanh thu 158.566.388.03
6
172.476.323.469
184.378.393.12
7
Tổng lợi nhuận sau
thuế
212.468.811
352.150.913
khẩu.
*Kinh doanh xuất khẩu:
- Hàng may mặc: áo sơ mi nam nữ, quần áo thể thao, quần áo trẻ em,
áo Jacket, găng tay.
- Hàng thêu ren : rèm cửa , khăn bàn thêu , ga trải giường
- Hàng nông sản : gạo, ca phê, tiêu, lạc nhân, sắn lát, đậu xanh, ngô hạt
- Hàng lâm sản: gạo, quế , hồi.
- Hàng thủ công mỹ nghệ : mây tre, gốm sứ .
- Hàng hoá khác : cao su, dàu cọ, quặng cromit, nhôm thỏi, chiếu cói,
dép túi, thảm len .
Trong những năm vừa qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng kim ngạch
xuất khẩu của công ty vẫn liên tục tăng nhanh sau cao hơn năm trước, cụ thể là:
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu của công ty Prosimex. (Đơn vị :USD)
NĂM TỔNG KIM
NGẠCH XUẤT
KHẨU
KIM NGẠCH
HÀNG MAY MẶC
KIM NGẠCH
HÀNG NÔNG
SẢN
1996 26.781.340
9.300.000
8.541.119
17
vải, phân bón, xut, giấy duplex, giấy coucher, bông acetate, cáp điện gạch men,
linh kiện máy tính, chậu rửa, thiết bị vệ sinh, giống cây trồng.
- Phương tiện vận tải: xe ô tô
- Tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu các loại hàng hoá khác .
Như vậy, ngoài việc đẩy mạnh đầu tư kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu
hàng hoá phục vụ cho các đơn vị sản xuất cũng như nhu cầu tiêu dùng trong
nước, công ty luôn có kế hoạch đầu tư chiều sâu, đồng thời liên doanh, liên kết
mở rộng dịch vụ kinh doanh thương mại, tìm kiếm bạn hàng trong và ngoài
nước. Nhờ nắm bắt được tình hình thị trường lao động trong nước, công ty còn
tổ chức thực hiện dịch vụ xuất khẩu lao động sang các nước như Hàn Quốc,
Nhật bản. Tuy nhiên, cũng nhiều doanh nghiệp nhà nước khác, hoạt động của
công ty nằm trong tình trạng thiếu vốn kinh doanh, xong về cơ bản, công ty đã
bảo toàn được nguồn vốn và làm ăn có lãi.
Trong quá trình hoạt động, công ty sẵn sàng hợp tác liên doanh liên kết
với các đơn vị kinh tế khác, cơ quan khoa học trong và ngoài nước. Đồng thời
luôn tuân thủ mọi quy định của nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu, đảm bảo
quyền lợi cho người lao động, và hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách của nhà
nước.
18
Quản lý sản xuất kinh doanh :
Tổ chức quản lí tốt có vai trò hết sức quan trọng sự phát triển đi lên của
mỗi doanh nghiệp. Nhận thức được điều đó, công ty sản xuất kinh doanh xuất
nhập khẩu đã quan tâm đúng mức tới công tác tổ chức quản lí, đảm bảo quản lí
chặt chẽ tất cả các khâu trên mọi phương diện. Bộ máy quản lí của công ty được
tổ chức theo mô hình trực tuyến, đứng đầu là giám đốc công ty. Ban giám đốc
của công ty bao gồm: 01 giám đốc và 02 phó giám đốc. Các phòng chức năng
đều có trưởng phòng và phó phòng. Mỗi phòng có chức năng và quyền hạn rõ
ràng, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình tổ chức hoạt
động kinh doanh.
+ Giám đốc là người đứng đầu, điều hành mọi hoạt động kinh doanh của
+ Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu <12345>: Giúp giám đốc quản lí,
điều hành mọi hoạt động kinh doanh, xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ thương
mại với các đối tác trong và ngoài nước. Tiến hành các thủ tục, nghiệp vụ ngoại
thương phù hợp, hiệu quả trong ký kết, đàm phán thực hiện các hợp đồng kinh
doanh xuất nhập khẩu hàng hoá.
* Khối sản xuất
:
- Xí nghiệp may xuất khẩu PROSIMEX
- Hentex: Xí nghệp liên doanh với cộng hoà liên bang Đức.
II. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CÀ PHÊ CỦA CÔNG TY.
1. Phương thức kinh doanh:
Công ty PROSIMEX tham gia thị trường cà phê Việt Nam với tư cách là
nhà xuất khẩu.
Công ty là phần tử liên kết người sản xuất trong nước với khách hàng
nước ngoài và tiến hành kinh doanh xuất khẩu theo cơ chế hạch toán độc lập, lấy
thu bù chi. Trong lĩnh vực xuất khẩu cà phê Công ty thực hiện hai phương thức
kinh doanh là:
- Uỷ thác
- Tự doanh trực tiếp
Trên thực tế, phương thức tự doanh chiếm tới 90% sản lượng kim ngạch
xuất khẩu cà phê của công ty. 10% còn lại được thực hiện bằng uỷ thác. Tuy
nhiên, những hình thức này không phổ biến và không thường xuyên nên không
được đưa ra thành phương thức kinh doanh cụ thể mà chỉ tiến hành khi có cơ
hội.
Tỷ lệ 90/10 này cũng là phổ biến trong các doanh nghiệp chuyên doanh
xuất khẩu cà phê của Việt Nam từ trước đến nay do xuất khẩu trực tiếp có lợi
hơn về nhiều mặt đặc biệt là về lợi nhuận cũng như quan hệ với khách hàng
nước ngoài.
20
ó tho thun.
21
Trong trường hợp xuất khẩu ủy thác, Công ty không phải nghiên cứu tìm
nguồn hàng mà có sẵn hàng để giao cho khách nhằm thực hiện hợp đồng xuất
khẩu. Về pháp lý, khi nhận uỷ thác xuất khẩu Công ty đã nhận làm đại lý hoa
hồng cho bên uỷ thác. Thù lao sẽ được tính là một số phần trăm nhất định trên
tổng trị giá hợp đồng dưới dạng phí uỷ thác. Cách làm này thực chất cũng có ưu
điểm như: ít rủi ro, tập trung hơn vào khai thác thị trường xuất khẩu, góp phần
tăng cường dịch vụ xuất khẩu cà phê hiện đang rất thiếu ở nước ta. Tuy nhiên,
phương thức này đem lại lợi nhuận không nhiều và phải phụ thuộc vào yêu cầu
của người có hàng trong nước nhưng không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp. Vì
thế các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hiện nay đều không hào hứng chuyên sau
vào lĩnh vưc này nhưng cũng không bỏ qua khi có yêu cầu từ phía người có
hàng.
Phương thức kinh doanh còn được thể hiện ở các hình thức mua bán mà
công ty tiến hành theo từng loại hợp đồng. Như đã nói ở trên, cà phê là mặt hàng
nông sản có tính chất đặc thù được mua bán với số lượng lớn. Việc mua bán mặt
hàng này thường diễn ra trên sở giao dịch hàng hoá dành riêng cho cà phê <hoặc
là dựa trên giá các hợp đồng kì hạn được công bố hàng ngày trên các sở giao
dịch hàng hoá>. Hiện nay trên thế giới có bốn sở giao dịch hàng hoá lớn về cà
phê là: London, New York, Rottordam, Amsterdam. Các sở này thể hiện khá
chính xác thông tin về diễn biến cung cầu, giá cả cà phê trên thị trường thế giới
nên các nhà xuất khẩu cà phê thường theo dõi sát sao.
Các giao dịch về cà phê trên các sở giao dịch này thường bao gồm ba hình
thức cơ bản:
- Giao dịch kỳ hạn
- Giao dịch ngay
- Giao dịch tự bảo hiểm và đầu cơ
Các giao dịch này được cụ thể tại Công ty dưới các hình thức: hợp đồng
bán trước mua sau (kì hạn) - hợp đồng bán ngay mua ngay, hợp đồng mua trước
2.1 .Thị trường đầu vào:
Theo khái niệm, thị trường là tổng thể các quan hệ lưu thông hàng hoá,
tiền tệ hay thị trường là tổng thể khối lượng cầu, có khả năng thanh toán, và tổng
khối lượng cung có khả năng đáp ứng. Như vậy thị trường đầu vào của Công ty
bao gồm tổng thể các quan hệ hàng hoá tiền tệ liên quan tới vấn đề cà phê cho
xuất khẩu. Một cách cụ thể thì thị trường này bao gồm các yếu tố chủ yếu như
sau: Mặt hàng cà phê ; các vùng cung cấp chủ yếu các cơ sở thu mua và chế biến
chính; các đối thủ cạnh tranh; giá cả; các chính sách của Công ty.
Mặt hàng cà phê mà công ty kinh doanh cho đến nay là cà phê nhân,
Arabica và Robusta, đã qua chế biến. Trong những năm gần đây tỉ lệ xuất khẩu
cà phê Arabica đã tăng đáng kể và còn có khả năng tăng cao hơn nữa trong
những năm tới. Các vùng cung cấp chính cho công ty là:
23
- Các tỉnh miền núi phía bắc: Yên Bái, lạng Sơn, Sơn La, Lào Cai, Quảng
Trị , Nghệ An.
- Khu vực Tây Nguyên: Đắc lắc , Gia lai , KonTum .
- Khu vực phía nam như: Đồng Nai , Lâm Đồng, Sông Bé .
Các tỉnh khu vực miền núi phía bắc cung cấp cà phê Arabica do có khí
hậu phù hợp. Các tỉnh thuộc hai khu vực còn lại chủ yếu cung cấp cà phê
Robusta. Cà phê ở đây có chất lượng tốt và sản lượng hàng năm tăng cao.
Bảng 4: Sản lượng và diện tích cà phê tại các vùng cung cấp của Công ty
PROSIMEX.
Diện tích < ha > Sản lượng < Tấn >
TỈNH
1997 1998 1997 1998
Đắc Lắc 130.000
132.000
và cũng là nguồn khai thác chính của Công ty, chỉ riêng Đắc Lắc đã sản xuất tới
60% lượng cà phê xuất khẩu của cả nước. Diện tích, sản lượng và năng suất cà
phê tại các khu vực này tăng nhanh hàng năm, trong đó năng suất và sản lượng ở
mức cao so với mức bình quân của thế giới. Hiện tại, Việt Nam đang tích cực
xúc tiến kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch cà phê cũng như chế biến, bảo quản
cà phê sau thu hoạch và lai ghép những giống cà phê mới cho năng suất chất
lượng cao, do đó nguồn cung cấp của công ty về cơ bản là đảm bảo. Trong vụ cà
phê 97/98 vừa qua tình hình thời tiết diễn biến không thuận lợi dẫn đến tình
trạng sản lượng cà phê quả tươi tăng nhưng sản lượng cà phê nhân thì giảm gây
ảnh hưởng tới chất lượng và số lượng cung cà phê của công ty. Nhưng đây chỉ là
diễn biến tạm thời và khách quan không ảnh hưởng tới tiềm năng lâu dài của các
vùng cung cấp mà công ty đang khai thác.
24
Vấn đề chính hiện nay là chi phí thu mua ngày càng tăng. Nguyên nhân
chủ yếu là sự tăng lên của sản lượng cà phê ngoài quốc doanh làm cho sản xuất
bị phân tán mạnh, các đầu mối mua gom phải mất nhiều chi phí thu mua hơn
nên đẩy giá thành cà phê xuất khẩu cao trong khi giá xuất trên thị trường lại sút
giảm. Trong hoàn cảnh đó, công ty còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp
xuất khẩu khác trong ngành để thu mua được hàng. Chính tình trạng lộn xộn này
đã đưa công ty, cũng như các doanh nghiệp chuyên doanh khác, vào tình trạng
mua đắt bán rẻ, giảm lợi nhuận hợp đồng. Đây là một thực tế không đáng có
của cà phê Việt Nam do thị trường chưa thống nhất, chưa có mối lên kết giữa
các nhà xuất khẩu với những người sản xuất để tạo thành sức mạnh của một
ngành hàng xuất khẩu chủ lực.
Trước thực tế này để có được nguồn cung cấp ổn định lâu dài về cả số
lượng và chất lượng, nhiệm vụ chính của Công ty là phải có phương án thu mua
hợp lí hiệu quả và đỡ tốn kém nhất. Hiện tại công ty đã có được một hệ thống
các chân hàng cung cấp cà phê nhân cho Công ty ở 3 khu vực Phía Bắc, Phía
Nam và Tây Nguyên như đã trình bày. Đó là các cơ sở thu mua và chế biến cà
phê quan hệ làm ăn với công ty trên cơ sở các hợp đồng mua bán được thực hiện