thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quy trình sản xuất và xuất khẩu tại công ty sản xuất và xuất khẩu PROSIMEX - Pdf 11

Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG - HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
  
THU HOẠCH THỰC TẬP
ĐỀ TÀI:
THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ THẾ GIỚI VÀ CÁC GIẢI PHÁP
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH XUẤT
KHẨU CÀ PHÊ TẠI CÔNG TY SẢN XUẤT VÀ XUẤT
KHẨU PROSIMEX.
Giáo viên hướng dẫn: Thạc sỹ Vũ Sỹ Tuấn
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Lan Hương
Lớp: TC 18 A2
Hà nội, năm 2003
LỜI MỞ ĐẦU
Từ nhiều năm nay cà phê đã trở thành một nhu cầu thiết yếu đối với cuôc
sống con người. Cà phê có giá trị kinh tế cao và là một trong những sản phẩm nông
nghiệp mang ngoại tệ lớn cho nhiều nước, theo một số nghiên cứu cho thấy cà phê
chứa một số vitamin nhóm B, đặc biệt là axit nicotenic, vitamin pp và một số chất
khác trong hạt cà phê có tới 670 hợp chất thơm, tại hương vị đặc trưng tuyệt vời,
khiến cho việc uống cà phê trở thành thói quen và tập quán của phần lớn dân số trên
thế giới đặc biệt là các nước phát triển.
Về công dụng cà phê không chỉ là một loại đồ uống mà còn là nguyên liệu
cho một số ngành công nghiệp phát triển như: bánh kẹo, sữa, dược phẩm vv... nhu
cầu về sản phẩm này trên thị trường thế giới ngày càng tăng cả về số lượng và chất
lượng đòi hỏi những người sản xuất và các nhà xuất khẩu phải đáp ứng kịp thời và
linh hoạt cho các nhu cầu khác nhau của từng khu vực thị trường cụ thể.
Trước yêu cầu từ phía thị trường ngành cà phê Việt Nam, thực hiện đường
lối của đảng và nhà nước ta, đã biến cây cà phê từ một mặt hàng nông sản xuất khẩu
chủ lực chỉ đứng sau cây lúa. Sản phẩm cà phê Việt Nam đã được biết đến trên thị
trường thế giới và nước ta đã trở thành một trong những nước trồng và xuất khẩu

1.1 Các loại cà phê.
Cách đây hàng nghìn năm, cây cà phê đã được người dân du mục Ethiopi
ngẫu nhiên tìm thấy ở làng Cápfa, gần thủ đô Ethiopi. Đến thế kỷ thứ 6, cây cà phê
lan dần sang các nước và châu lục khác. Nhưng không phải ngay từ đầu cà phê đã
được thừa nhận là hấp dẫn và hữu ích mặc dù cho đến ngày nay không ai còn phủ
nhận công dụng và sự nổi tiếng của loại đồ uống này. Cà phê giúp con người tỉnh
táo và minh mẫn hơn trong mọi hoạt động và được coi như một món tráng miệng,
một bữa ăn phụ của nhiều nước trên thế giới .
Cà phê có rất nhiều loại khác nhau. Theo thống kê, trên thế giới hiện nay có
khoảng 70 loại cà phê đang được trồng và xuất khẩu. Trong đó phổ biến nhất về
diện tích trồng cũng như vai trò quan trọng trên thị trường cà phê thế giới là 2 loại
cà phê :
- Cà phê chè ( chủng Arabica )
- Cà phê vối ( chủng Robusta )
Cả hai loại cà phê này, cũng như tất cả các loại cà phê khác, đều thuộc giống
Coffea nhưng về chất lượng và hương vị thì cà phê Arabica trội hơn cà phê Robusta.
Do đó cà phê Arabica cũng thường cao hơn khá nhiều và được nhiều nơi ưa chuộng.
Vì yêu cầu sinh thái khác nhau 2 loại cà phê này được trồng tập chung ở
những khu vực khác nhau trên thế giới. Cà phê Arabica được trồng chủ yếu ở Châu
Mỹ, đặc biệt tại hai nước là Brazin và Colombia. Hai nước này hiện tại sản xuất tới
80% sản lượng Arabica của thế giới, đồng thời cũng là hai nước sản xuất và xuất
khẩu cà phê nhiều nhất, thống trị thị trường cà phê thế giới trong đó riêng Brazin đã
chiếm tới khoảng 30% sản lượng cà phê toàn thế giới.
Cà phê Robusta là giống cà phê ngon thứ hai sau cà phê Arabica. Loại cà phê
này thường được tiêu dùng ở các nước có truyền thống uống cà phê chế biến từ cà
phê Robusta, ví dụ như Anh và các nước Nam Âu. Cây cà phê loại này được trồng
chủ yếu ở Châu Phi và Châu á. Hiện tại cà phê Robusta của Châu Phi không tăng và
có chiều hướng giảm sút. Lý do ở đây là bất ổn về chính trị, sự thay đổi điều kiện tự
nhiên, cũng như sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Đây là những nguyên nhân rất khó
Trang 4

giới, sản lượng cà phê hàng năm biến động thất thường nhưng theo chiều hướng
ngày càng tăng. Thập kỷ 70 sản lượng trung bình đạt 4,5 triệu tấn trên một năm;
thập kỷ 80 tăng nên 5,5 triệu tấn trong một năm ; Sang thập kỷ 90 con số đã là 6
triệu tấn một năm.
Biểu đồ dưới đây sẽ cho chúng ta thấy tình hình sản xuất cà phê trên thế giới
theo hai loại cà phê chủ yếu Arabica và Robusta trong những vụ vừa qua như sau:
0
100
200
300
400
500
89/90 90/91 91/92 92/93 93/94 94/95 95/96 96/97 97/98
BiÓu ®å 1: S¶n l­îng cµ phª thÕ giíi
Arabica Robusta
Sự cách biệt về sản lượng giữa hai loại cà phê vẫn theo xu hướng ngày càng
tăng. Tuy chưa có đột biến nào qua các vụ, nhưng theo dự báo của tổ chức cà phê
quốc tế sản lượng Arabica vụ 98/99 sẽ tăng hơn 16% lên 4,2 triệu tấn. Sản lượng
Robusta cũng sẽ tăng nhưng chậm hơn. Điều này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu từ
phía thị trường về chất lượng. Cũng theo tổ chức cà phê quốc tế thì sản lượng cà phê
thế giới vụ 98/99 sẽ lên tới 6,3 triệu tấn so với 5,5 triệu tấn vụ 97/98. Sản lượng của
các nước sản xuất lớn đều tăng. Nhưng những dự báo và ước tính này còn có thể
thay đổi do tình hình thời tiết có thể xấu đi .
3. Tình hình tiêu thụ và xuất khẩu cà phê thế giới :
Trang 6
3.1 Tiêu thụ.
Nhu cầu tiêu thụ cà phê rất lớn. Hàng năm, lượng tiêu thụ trên thế giới ước
tính vào khoảng 94,5 triệu bao cà phê nhân (khoảng 5,6 triệu tấn). Có thể chia các
nước tiêu dùng cà phê thành bốn nhóm chính theo khu vực địa lý như sau :
- Nhóm các nước Tây Bắc Âu và Nam Âu .

động nhu cầu giá cả, dự trữ và yếu tố đầu cơ. Trung bình từ vụ 89/90 đến nay, mỗi
vụ, sản lượng xuất khẩu vào khoảng 4,3 đến 4,9 triệu tấn cà phê nhân. Theo dự báo
của ICO thì xuất khẩu cà phê thế giới sẽ tiếp tục biến động xung quanh mức hiện
tại, không có đột biến nào đáng kể.
4. Giá cả :
Giá cà phê phụ thuộc rất nhiều vào tình hình cung cầu cà phê trên thị trường
thế giới. Thông thường, để xác lập giá xuất khẩu những người xuất khẩu cà phê
thường lấy giá ở những sở giao dịch hàng hoá lớn như ở London, New york,
Rotterdam, Asterdam làm chuẩn để xây dựng giá của mình. Giá tại các thị trường
này thường phản ánh tương đối chính xác các biến động cung cầu trong từng thời
điểm xong nó lại mang nặng yếu tố tâm lý nên luôn biến động thất thường.
Trang 8
0
100000
200000
300000
400000
500000
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 ­íc
1999
BiÓu ®å 2: Gi¸ cµ phª thÕ giíi
Robusta Arabica
Nhìn chung giá cà phê thập kỷ 90 có xu hướng giảm so với thập kỷ 80 và bến
động phức tạp vì nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân cơ bản là cung tăng nhanh hơn
cầu. Và thị trường cà phê trở thành tự do không có một cơ chế chặt chẽ quản lý sau
khi hệ thống hạn ngạch của ICO bị huỷ bỏ. Các nước có khả năng về xuất khẩu cà
phê có dịp xuất khẩu ồ ạt ra thị trường làm cho cung tăng nhanh khi nhu cầu tiêu thụ
lại ổn định theo xu hướng giảm. Khủng hoảng tài chính tiền tệ diễn ra ở Châu á từ
khoảng tháng 7 năm 1997 đến cuối năm 1998 cũng là một nguyên nhân khác, tuy
không thuyết phục bằng. Cuộc khủng hoảng này làm giảm thu nhập có thể sử dụng

TP HCM
Đảng,
đoàn
thể
Phòng
tổ chức
hành
chính
Ban xuất
khẩu lao
động
Chi
nhánh
Quảng
Ninh
Tổ
dịch
vụ
xuất
khẩu
Phòng
tài chính
kế toán
Phòng
XNK 1
Phòng
XNK 3
Phòng
XNK 4
Phòng

phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nông nghiệp nói riêng và
của nước ta nói chung lên đã dành cho cây cà phê sự quan tâm đặc biệt. Từ sau giải
phóng, diện tích cà phê liên tục tăng từ vài chục nghìn hecta nay đã lên tới gần 300
nghìn hecta cho năng suất cao tạo chỗ vững chắc cho xuất khẩu cà phê tăng trưởng.
Tiềm năng của cây cà phê Việt Nam rất lớn và phần lớn còn đang chờ sự khai thác
có hiệu quả cao, do vậy trong thời gian tới nghành cà phê cần có những giải pháp cụ
thể để phát huy tối đa tiềm năng này.
Trang 12
2. Sản xuất :
Cây cà phê đã được đưa vào Việt Nam từ rất lâu và được trồng đại trà từ năm
1888. Do điều kiện khí hậu và đất đai thích hợp nên cây được phát triển trên quy mô
rộng và cho hạt chất lượng tốt không kém sản phẩm của những nước sản xuất và
xuất khẩu cà phê lớn trên thị trường. Tuy nhiên phải đến sau giải phóng ngành cà
phê Việt Nam mới đi vào thời kỳ phát triển, sản lượng sản xuất ra chủ yếu để xuất
khẩu. Theo số liệu của tổng cục thống kê và nghành cà phê thì sản xuất cà phê của
ta mỗi năm một tăng:
Bảng 1: Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam qua các giai đoạn:
Niên vụ Diện tích Sản lượng sản xuất
1991 - 1992 135.000 101.000
1995 - 1996 225.000 245.270
1997 - 1998 295.000 410.530
(Nguồn: Tạp chí thương mại số tháng 8/1998.)
Năng suất cà phê bình quân cả nước cũng tăng liên tục. Nếu năm 1990 đạt
1000 kg nhân /ha thì năm 1994 là 1300, năm 1997 là 1500. Cho đến năm 1995, Việt
Nam đã đứng thứ 7 trong số các nước sản xuất cà phê nhiều nhất trên thế giới và
đứng thứ hai trên thế giới về sản xuất cà phê Robusta .
Cũng trong những năm qua, cà phê không chỉ được mở rộng diện tích ở Tây
Nguyên, Đông Nam Bộ vv.. là những vùng chủ yếu trồng cà phê Robusta ,mà còn
phát triển khá mạnh cà phê Arabicarơ các tỉnh biên miền núi phía Bắc như Sơn La,
Lai Châu, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang vv... Nhằm nâng cao tỷ trọng xuất khẩu

1995 - 1996 233.000 9,8% 422 -24,6%
1996 - 1997 346.000 48,5% 414 -2%
1997 -1998 395.419 12,5% 599 45%
(Nguồn: Báo cáo tình hình cà phê xuất khẩu niên vụ 97/98 của bộ thương mại.)
Tuy nhiên, qua số liệu trong bảng 2 ta có thể thấy trừ niên vụ 94/95 kim
ngạch xuất khẩu cà phê của ta tăng vọt 147% lên hơn 560 triệu Đôla Mỹ so với hơn
200 triệu Đôla Mỹ của vụ trước đó, còn lại các niên vụ tiếp sau kim ngạch xuất khẩu
của ta không những không tăng mà còn giảm mạnh trong khi sản lượng xuất khẩu
thì vẫn tăng đều đặn. Nguyên nhân của hiện tượng này phần lớn là do cung cầu trên
thị trường thế giới mất cân bằng dẫn tới giá cả giảm sút nhưng cũng một phần do
Trang 14
chất lượng cà phê xuất khẩu của ta chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.
Thậm chí bao cà phê của Việt Nam xuất sang các nước trong nhiều trường hợp còn
có tạp chất như đinh và nút chai lẫn bên trong. Chính vì vậy mặc dù đã có nhiều tiến
triển tốt nhưng vẫn còn một khoảng cách không nhỏ giữa giá xuất cà phê của chúng
ta và giá trung bình của cùng loại cà phê trên thị trường thế giới.
Theo dự đoán, vụ cà phê 98/99 sản lượng sản xuất và sản lượng xuất khẩu
của Việt Nam giảm do hạn hán ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ kéo dài cộng với
mưa ở nhiều nơi đặc biệt là Đắk Lắk. Thời tiết xấu cũng sẽ làm giảm chất lượng cà
phê xuất khẩu của ta nên có thể ảnh hưởng tới yếu tố giá cà phê cũng như uy tín của
cà phê Việt Nam trên thị trường.
Về thị trường tiêu thụ, tính đến vụ cà phê 97/98 thị trường cà phê của Việt
Nam đã được mở rộng tới 52 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Những nước nhập
khẩu số lượng lớn là Mỹ, Canada, các nước Tây Âu và các nước Nhật Bản, Hàn
Quốc ở Châu Á. Tuy nhiên, để cây cà phê xứng đáng với những triển vọng từ phía
thị trường bên ngoài, chúng ta cũng cần quan tâm tới việc ổn định thị trường trong
nước, khắc phục tính manh mún, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa người sản xuất,
người xuất khẩu và các thành phần có liên quan nhằm từng bước xây dựng chiến
lược hợp lý và lâu dài cho cây cà phê xuất khẩu.
Trang 15

công ty đã liên doanh may mặc xuất khẩu Hà nội< HENTEX> giải quyết việc làm
cho rất nhiều công nhân và hàng năm đều mang lại lợi nhuận cho Công ty.
Công ty sản xuất kinh doanh xuất khẩu PROSIMEX là một đơn vị hạch toán
độc lập về tài chính, có tư cách pháp nhân có tài khoản tiền Việt Nam và ngoại tệ ở
Ngân hàng, có con dấu riêng để giao dịch.
Tên giao dịch quốc tế : IMPORT - EXPORT PRODUCTION AND
TRADING CORPORATION <PROSIMES >
Trụ sở chính: Khương Đình - Thanh Xuân - Hà nội
Điện thoại: 8583672 - 8584278
Trang 17
Fax: 84(4)8585009
Vốn điều lệ ban đầu : 5.135.000.000 đồng
Trong đó:
- Vốn cố định : 951.000.000 đồng
- Vốn lưu động : 4.184.000.000 đồng
Đăng ký kinh doanh số: 108296 DO TRỌNG TÀI KINH TẾ cấp ngày
30/04/1993.
Ngành nghề kinh doanh: ngành ngoại thương, nghề sản xuất và gia công
hàng xuất khẩu, kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu hàng may mặc, dệt thủ công mỹ
nghệ, nông lâm sản, kim khí, điện máy, hàng tiêu dùng và các loại vật tư sản xuất,
vật liệu xây dựng, phương tiện vận tải, hải sản, thiết bị phụ tùng .
Công ty được xây dựng trên khu đất rộng khoảng 10.500 m
2
trong đó
2000m
2
nhà 3 tầng, đây là nơi làm việc của các phòng ban, 5500m2 nhà khung để
sản xuất, 2000 m
2
dùng để làm nhà kho và 1000 m

áo Jacket, găng tay.
- Hàng thêu ren : rèm cửa , khăn bàn thêu , ga trải giường ...
- Hàng nông sản : gạo, ca phê, tiêu, lạc nhân, sắn lát, đậu xanh, ngô hạt ..
- Hàng lâm sản: gạo, quế , hồi.
- Hàng thủ công mỹ nghệ : mây tre, gốm sứ .
- Hàng hoá khác : cao su, dàu cọ, quặng cromit, nhôm thỏi, chiếu cói, dép
túi, thảm len .
Trong những năm vừa qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng kim ngạch
xuất khẩu của công ty vẫn liên tục tăng nhanh sau cao hơn năm trước, cụ thể là:
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu của công ty Prosimex. (Đơn vị :USD)
NĂM TỔNG KIM KIM NGẠCH HÀNG KIM NGẠCH
Trang 19
NGẠCH XUẤT
KHẨU
MAY MẶC HÀNG NÔNG SẢN
1996 26.781.340 9.300.000 8.541.119
1997 31.000.822 11.060.000 11.700.000
1998 36.000.786 11.500.000 12.365.000
1999 43.000.528 12.000.890 9.414.000
(Nguồn: Báo cáo của phòng nghiệp vụ tổng hợp công ty Prosimex)
Năm 1996, công ty là đơn vị đứng thứ hai của Bộ thương mại về tổng kim
ngạch xuất khẩu đạt được thành tích này là do Công ty đã xác định được hướng đi
cho mình trong cơ chế mới kết hợp giữa sản xuất và kinh doanh. Trên cơ sở phương
châm này Công ty cũng tiếp tục duy trì hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực là nông sản
và may mặc cho đến nay hai mặt hàng này luôn dẫn đầu về kim ngạch và có tỷ lệ
tăng trưởng cao tới 50-60%/ năm riêng mặt hàng nông sản còn có tính chiến lược
đối với Công ty về lâu dài.
Kinh doanh nhập khẩu:
- Sắt thép các loại ,dây đồng
- Hàng tiêu dùng : Mỹ phẩm , xe máy , vòng bi, xích công nghiệp

+ Phó giám đốc đặc trách công tác quản lí sản xuất .
+ Phó giám đốc kinh doanh: là người tham mưu cho giám đốc về hoạt động
kinh doanh của đơn vị .
* Khối quản lí, phục vụ:
- Phòng nghiệp vụ tổng hợp: <kế toán, thống kê, thị trường, giá cả pháp chế
>.
- Xây dựng kế hoạch sản xuất, giá thành kế hoạch của sản phẩm, kí kết hợp
đồng sản xuất, mua bán, quyết toán số lượng, tổng hợp báo cáo, tham gia đề xuất
với Giám đốc các quy chế quản lí kinh tế áp dụng nội bộ.
Trang 21
- Tham mưu cho Giám đốc về các nghiệp vụ hoạt động kinh doanh, soạn thảo
các hợp đồng, hướng dẫn thực hiện các nghiệp vụ có liên quan đến công tác quản lí,
kinh doanh, thực hiện nhệm vụ mua bán và tổ chức xuất khẩu ...
- Giúp giám đốc chuẩn bị các văn bản thuộc về kế hoạch hàng quý, hàng năm
và dài hạn trên mọi hoạt động của công ty trong sản xuất, kinh doanh, xuất nhập
khẩu để báo cáo lên trên và có kế hoạch triển khai hoạt động, tổng kết báo cáo.
- Phòng tổ chức hành chính:
+ Giải quyết các vấn đề về tổ chức hành chính như : quản lí cán bộ, quản
lí hồ sơ của cán bộ công nhân viên trong công ty ..
Điều hành các công việc về văn phòng: quản lí con dấu, giải quyết tài liệu,
công văn đến và đi của công ty.
+ Phòng tài chính kế toán có chức năng :
+ Chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động tài chính kế toán của công ty và
hạch toán theo chế độ kế toán của nhà nước .
+ Phản ánh và giám sát các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thường xuyên, từ
đó lập các báo cáo tài chính kế toán, các bảng thống kê hàng quý hàng năm.
+ Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu <12345>: Giúp giám đốc quản lí,
điều hành mọi hoạt động kinh doanh, xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ thương mại
với các đối tác trong và ngoài nước. Tiến hành các thủ tục, nghiệp vụ ngoại thương
phù hợp, hiệu quả trong ký kết, đàm phán thực hiện các hợp đồng kinh doanh xuất

Cụng ty phi tin hnh hai bc l thu mua v xut khu. Khõu thu mua c Cụng
Trang 23
ty thực hiện trên cơ sở hợp đồng mua bán cà phê với các đơn vị chân hàng là những
cơ sở thu mua và chế biến tại các vùng sản xuất cà phê mà Công ty đang khai thác.
Theo hợp đồng này, các đơn vị chân hàng chuyển vào quyền sở hữu của Công ty
một hoặc một số lô hàng xuất khẩu nhất định; Công ty có nghĩa vụ nhận hàng và trả
tiền. Việc mua bán này thường được tiến hành trên cơ sở số lượng lớn. Đặc biệt với
cà phê là mặt hàng nông sản có tính đồng nhất cao trong khi sản xuất cà phê xuất
khẩu ở nước ta, về cơ bản còn manh mún, phân tán, vì vậy, trong nhiều trường hợp
Công ty thường phải tiến hành thu gom từ nhiều chân hàng.
Sau khâu thu mua là giai đoạn thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu. Giai đoạn
này công ty thực hiện các công việc như: Làm thủ tục hải quan, kiểm tra chất lượng
hàng hoá, vận chuyển hàng đến cảng, bốc hàng lên tàu, lấy vận đơn v.v..trên cơ sở
hợp đồng xuất khẩu đã kí trước. Công ty có thể tự mình thực hiện tất cả các khâu
công việc này sau khi mua hàng hoặc liên doanh, liên kết xuất khẩu được Công ty
prosimex thực hiện khá thường xuyên và thành công. Đơn vị chân hàng chịu trách
nhiệm thu mua, đóng gói hàng theo tiêu chuẩn xuất khẩu của Việt Nam (TCVN)
cũng như theo yêu cầu cụ thể từ phía Công ty về phần mình Công ty chịu trách
nhiệm kiểm tra chất lượng, thuê phương tiện chở hàng xuống cảng cũng như gửi
hàng đi, lợi nhuận sau này sẽ được phân chia theo tỉ lệ đã thoả thuận.
Trong trường hợp xuất khẩu ủy thác, Công ty không phải nghiên cứu tìm
nguồn hàng mà có sẵn hàng để giao cho khách nhằm thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Về pháp lý, khi nhận uỷ thác xuất khẩu Công ty đã nhận làm đại lý hoa hồng cho
bên uỷ thác. Thù lao sẽ được tính là một số phần trăm nhất định trên tổng trị giá hợp
đồng dưới dạng phí uỷ thác. Cách làm này thực chất cũng có ưu điểm như: ít rủi ro,
tập trung hơn vào khai thác thị trường xuất khẩu, góp phần tăng cường dịch vụ xuất
khẩu cà phê hiện đang rất thiếu ở nước ta. Tuy nhiên, phương thức này đem lại lợi
nhuận không nhiều và phải phụ thuộc vào yêu cầu của người có hàng trong nước
nhưng không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp. Vì thế các doanh nghiệp xuất khẩu cà
phê hiện nay đều không hào hứng chuyên sau vào lĩnh vưc này nhưng cũng không

hiện các hợp đồng giao ngay hoặc tiến hành mua trước, lưu kho sau đó mới bán.
Trang 25

Trích đoạn .Thị trường đầu vào: .Thị trường đầu ra: NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHể KHĂN CỦA CễNG TY PROSIMEX TRONG QUÁ TRèNH XUẤT KHẨU CÀ PHấ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status