Tóm tắt luận án Tiến sĩ: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang một số nước Đông Âu - Pdf 58

-1-

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài

Châu Âu nói chung và Đông Âu nói riêng năm 2016 trải qua nhiều sự kiện bất
ổn đã ảnh hưởng trực tiếp lên quá trình phục hồi kinh tế của cả khu vực. Khủng bố
liên tiếp xảy ra tại Pháp, Đức, Bỉ; khủng hoảng người di cư lớn nhất từ sau Thế chiến
thứ II khiến cho tình hình an ninh ở EU vốn được đánh giá là an toàn nhất trên thế
giới trở nên xáo trộn. Brexit, trưng cầu dân ý tại Italia, chiến tranh Syria, căng thẳng
Nga - Ukraine đều tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, tự do thương mại khu
vực Châu Âu.
Đối với thị trường các nước Đông Âu, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
thị trường một số nước Đông Âu đã tăng từ 698,6 triệu USD năm 2007 lên 1488,7
triệu USD năm 2011 và tăng lên 5743,2 triệu USD năm 2016. Trong đó, xuất khẩu
sang thị trường Slo-va-kia tăng từ 82,1 triệu USD năm 2007 lên 297,6 triệu USD năm
2011 và tăng lên 3.197,5 triệu USD năm 2016; thị trường Ba Lan tăng từ 375,4 triệu
USD năm 2007 lên 779,7 triệu USD năm 2011 và tăng lên 1.650,0 triệu USD năm
2016; tiếp đến là thị trường Cộng hòa Séc tăng từ 198,2 triệu USD năm 2007 lên
375,4 triệu USD năm 2011 và tăng lên 771,5 triệu USD năm 2016 và thị trường
Hung-ga-ri tăng từ 51,9 triệu USD năm 2007, giảm xuống còn 36,0 triệu USD năm
2011 và tăng lên 124,3 triệu USD năm 2016.
Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các nước Đông Âu cũng tăng từ 168,5
triệu USD năm 2007 lên 310,9 triệu USD năm 2011 và tăng lên 445,7 triệu USD
năm 2016. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu từ thị trường Ba Lan tăng từ 68,3 triệu
USD năm 2007 lên 130,3 triệu USD năm 2011 và tăng lên 236,0 triệu USD năm
2016; thị trường Séc từ 65,9 triệu USD năm 2007 giảm xuống còn 44,9 triệu USD
năm 2011 và tăng lên 93,3 triệu USD năm 2016; tiếp đến là thị trường Cộng hòa
Slo-va-kia tăng từ 2,9 triệu USD năm 2007 lên 13,9 triệu USD năm 2011 và tăng
lên 40,5 triệu USD năm 2016 và thị trường Hung-ga-ri tăng từ 31,5 triệu USD năm
2007, tăng lên 45,6 triệu USD năm 2011 và tăng lên 76,1 triệu USD năm 2016.

Âu nói riêng, như: thời gian kê khai thuế vẫn còn quá lớn; thủ tục hải quan vẫn còn
nhiều điểm "vướng",…
Để có được cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc triển khai một cách có hiệu quả
các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới nói chung và xuất
khẩu sang khu vực thị trường các nước Cộng hòa Séc, Cộng hòa Slo-va-kia, Hungga-ry và Ba Lan trong nhóm Visegrad nói riêng, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài luận
án “Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang một số nước Đông
Âu”.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục tiêu nghiên cứu: nghiên cứu và đề xuất giải pháp thúc đẩy xuất khẩu
hàng hóa của Việt Nam sang thị trường một số nước Đông Âu thời kỳ đến năm 2025,
tầm nhìn đến năm 2030.
- Nhiệm vụ cụ thể: (1) Làm rõ một số vấn đề lý luận về thúc đẩy xuất khẩu
hàng hóa đối với một quốc gia; (2) Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về các
giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá sang các thị trường trong nhóm Visegrad và
rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
của sang nhóm thị trường các quốc gia này; (3) Đánh giá thực trạng các giải pháp
thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường một số nước Đông Âu
giai đoạn 2011 - 2016; rút ra những ưu điểm và kết quả đạt được chủ yếu; những
hạn chế bất cập và nguyên nhân; (4) Đề xuất các quan điểm, định hướng và một số
giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường
một số nước Đông Âu thời kỳ đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu của Luận án: xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu hàng
hóa của Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của Luận án: (1) Về không gian: nghiên cứu xuất khẩu
và thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang một số thị trường một số nước
Đông Âu, cụ thể là: Cộng hòa Séc, Cộng hòa Slo-va-kia, Hung-ga-ri và Ba Lan. (2) Về


-3-

liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và bài học
kinh nghiệm của một số quốc gia về thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa.
Chương 2: Đánh giá thực trạng thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
sang thị trường một số nước Đông Âu giai đoạn 2011 – 2016.
Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng
hóa của Việt Nam sang thị trường một số nước Đông Âu thời kỳ đến năm 2025,
tầm nhìn đến năm 2030.


-4-

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Mặc dù qua tổng hợp tất cả các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan ở
trên (từ đánh giá những thành tựu mà các công trình nghiên cứu đó đã giải quyết
được, nhận định những hạn chế còn chưa giải quyết được) cho thấy, đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu cả ở trong và ngoài nước đã đề cập trực tiếp hoặc gián
tiếp đến thúc đẩy xuất khẩu nói chung và thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt
Nam sang thị trường các nước Đông Âu nói riêng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm
hiện nay, theo tác giả được biết thì chưa có một công trình nghiên cứu nào tiếp cận
nghiên cứu cụ thể về các công cụ, chính sách của cả Chính phủ và doanh nghiệp
nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước Đông
Âu. Đồng thời, phân tích, nhận định được bối cảnh trong nước và quốc tế, yêu cầu
cả trong nước và quốc tế tác động đối với thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt
Nam sang thị trường các nước Đông Âu. Trên cơ sở đó khuyến nghị lựa chọn các
quan điểm, định hướng thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường
các nước Đông Âu trong bối cảnh mới; cũng như đề xuất được những khuyến nghị
các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước
Đông Âu trong thời gian tới.

1.2. NỘI DUNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI THÚC ĐẨY XUẤT
KHẨU HÀNG HÓA
1.2.1. Nội dung của thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
1.2.1.1. Những nội dung của thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
(1) Chiến lược và chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Chính phủ
* Chiến lược quốc gia: Chiến lược phát triển thương mại quốc gia; Chiến lược
xuất nhập khẩu quốc gia; Chiến lược đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế; Các chính
sách thúc đẩy xuất khẩu của Chính phủ (Chính sách mặt hàng; Chính sách tín dụng hỗ
trợ xuất khẩu; Chính sách thuế; Chính sách tỷ giá hối đoái; Chính sách thị trường và
xúc xúc tiến thương mại; Bảo hiểm xuất khẩu; Chính sách thu hút đầu tư cho xuất


-6-

khẩu; Chính sách phát triển hạ tầng cho xuất khẩu nhằm hỗ trợ cho hoạt động xuất
khẩu; Chính sách phát triển nguồn nhân lực cho thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa).
(2) Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu của doanh nghiệp (Hoạt động thông tin,
nghiên cứu, dự báo thị trường; Hoạt động xúc tiến thương mại, marketing xuất khẩu
của doanh nghiệp; Tăng cường đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu, xây dựng thương
hiệu, chất lượng sản phẩm trên cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hiện đại, tiên
tiến của doanh nghiệp; Đầu tư đổi mới, nâng cao trình độ thiết bị, công nghệ của doanh
nghiệp; Đẩy mạnh liên kết và hợp tác doanh nghiệp, tăng cường năng lực tham gia vào
mạng sản xuất và chuỗi cung ứng hàng hóa giữa hai bên, khu vực và toàn cầu,...).
Nhìn chung, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa phải được kết hợp và sử dụng dựa
trên cả những chính sách, công cụ của Nhà nước cũng như các biện pháp cụ thể
của doanh nghiệp. Tuy nhiên,trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận
án, nghiên cứu sinh chỉ tiếp cận và đi sâu phân tích các chính sách thúc đẩy xuất
khẩu hàng hóa của quốc gia. Do vậy, các nội dung chủ yếu của thúc đẩy xuất
khẩu hàng hóa sang thị trường một số nước Đông Âu sẽ được xác định cụ thể như
sau:

nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện tiếp cận và phát triển thị trường cho các doanh nghiệp. (2)
Tăng cườnghợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tạo cơ hội và chia sẻ lợi ích kinh tế
và thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu. (3) Tăng cường sự hỗ trợ, đóng góp tích cực của các
cơ quan, tổ chức ở nước ngoài phục vụ cho mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu và tăng trưởng
kinh tế quốc gia. (4) Tăng cường vai trò của các Hiệp hội ngành hàng đối với cộng
đồng doanh nghiệp quốc gia. (5) Tăng cường sự hiện diện quốc tế, tập trung thúc đẩy
phát triển thị trường xuất khẩu. (6) Tăng cường sự gắn kết giữa các chính sách hỗ trợ
nhằm thúc đẩy đối với sự phát triển thương mại và xuất khẩu. (7) Tạo điều kiện thuận
lợi trong việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ cho doanh nghiệp. (8) Đẩy mạnh hội nhập kinh
tế quốc tế, thu hút đầu tư và hỗ trợ tài chính, tín dụng nhằm thúc đẩy xuất khẩu cho các
SMEs. (9) Xây dựng và tăng cường công tác xúc tiến xuất khẩu theo định hướng chiến
lược kinh doanh và định hướng chiến lược phát triển thị trường.
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
1.2.2.1. Các yếu tố thuộc về quốc gia xuất khẩu: (1) Nhận thức của các cấp
lãnh đạo, các nhà hoạch định và thực thi chính sách xuất khẩu; (2). Chiến lược phát
triển kinh tế quốc gia; (3). Điều kiện tự nhiên, lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh;
(4). Điều kiện kinh tế, thị trường; (5). Thể chế, chính sách phát triển thương mại; (6).
Tình hình thị trường hàng hóa thế giới.
1.2.2.2. Các yếu tố về quốc tế và quốc gia nhập khẩu: (1) Tự do hóa thương
mại và hội nhập kinh tế quốc tế; (2) Quan hệ chính trị, kinh tế thế giới, những vấn đề
mang tính toàn cầu; (3) Chính sách của các quốc gia nhập khẩu; (4) Yêu cầu về chính
sách thương mại của các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới.
1.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG
HÓA VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
1.3.1. Kinh nghiệm về các giải pháp thúc dẩy xuất khẩu của Hàn Quốc
Hàn Quốc đã cho thấy sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng từ những năm 1960.
Chính phủ đã đưa ra các ưu đãi khác nhau để thúc đẩy xuất khẩu, mong muốn tăng
trưởng kinh tế dựa trên xuất khẩu.
Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu của Hàn Quốc bao gồm: ưu đãi về thuế, ưu
đãi về tài chính, thành lập các khu vực mậu dịch tự do và các tổ chức hỗ trợ. Chính

đẩy quan hệ thương mại giữa hai bên. Hơn nữa, việc mình bạch hóa các chính sách
thương mại giữa hai nước không chỉ mang lại lợi ích cho phát triển quan hệ kinh tế
kinh tế trực tiếp giữa hai nước, mà còn củng cố thuận lợi hóa thương mại trong bối
cảnh xu hướng đa phương hóa đang diễn ra trên khắp các khu vực trên thế giới.
1.3.3. Bài học rút ra cho Việt Nam
1.3.3.1. Bài học có thể áp dụng
Thứ nhất, Chính phủ Hàn Quốc đã thay đổi hướng chính sách từ trợ cấp trực tiếp
của các ngành công nghiệp và doanh nghiệp có chọn lọc sang chính sách định hướng
chức năng như hỗ trợ chung cho các hoạt động R&D. Ngoài ra, Chính phủ hỗ trợ việc
xây dựng và vận hành các tổ chức xúc tiến hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩu. Những chính


-9-

sách và công cụ thúc đẩy xuất khẩu này cũng có thể được đưa ra bởi các nước đang
phát triển khác.
Thứ hai, phát huy tiềm năng và lợi thế so sánh trong thúc đẩy xuất khẩu hàng
hóa với bên ngoài. Tăng cường hợp tác đầu tư chế biến sâu và đa dạng hóa sản
phẩm xuất khẩu nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa ra bên ngoài . Thực hiện ưu tiên
chính sách ngoại giao kinh tế, tăng cường thăm viếng lẫn nhau của lãnh đạo hai bên và
tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư cấp chính phủ. Ngoài ra, Trung
Quốc tăng cường thực hiện chính sách hoàn thuế xuất khẩu hay giảm thuế xuất khẩu
hàng hóa và dịch vụ.
1.3.3.2. Bài học kinh nghiệm lưu ý để tránh
Thứ nhất, trong bối cảnh cán cân thương mại của Việt Nam tương đối cân bằng nếu
không nói là chúng ta đã thường xuyên thâm hụt thương mại (mặc dù cán cân thương mại
đã được cải thiện theo hướng bắt đầu thăng dư) thận trọng trong trong việc xem xét và sử
dụng công cụ tỷ giá vì việc sử dụng công cụ tỷ giá vừa có thể đem lại hiệu quả tích cực đôi
khi đem lại hiệu quả tiêu cực đối với tổng thể nền kinh tế. Kinh nghiệm cho thấy, do tác


trong GDP như sau: Nông nghiệp 3,4% - Công nghiệp 30,4% - Dịch vụ 66,2%. GDP
bình quân đầu người tăng từ 26.800 USD/người/năm năm 2012 lên 29.500
USD/người/năm năm 2015.
- Hung-ga-ri : Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Hung-ga-ri
trong giai đoạn 2012 - 2015 đạt 1,4%/năm. GDP của Hung-ga-ri theo ngang giá sức
mua đã tăng từ 230,9 tỷ USD năm 2012 lên 257,0 tỷ USD năm 2015.
2.1.2. Tổng quan về tình hình thương mại của 4 nước Đông Âu lựa chọn
- Cộng hòa Ba Lan : Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ba Lan tăng giảm thất thường
trong giai đoạn 2011 - 2016. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 191 tỷ USD năm 2012
tăng lên 210,7 tỷ USD năm 2014 sau đó lại giảm xuống còn 190,2 tỷ USD năm 2015;
Các mặt hàng xuất khẩu chính gồm: Máy móc, thiết bị giao thông 37,8%, hàng hóa sản
xuất trung gian 23,7%, hàng hóa sản xuất khác 17,1%, thực phẩm và động vật sống
7,6%. Các quốc gia nhập khẩu chính của Ba Lan gồm: Đức 27,1%, Anh 6,6%, Cộng hòa
Séc 6,6%, Pháp 5.8%, Ý 4,7%, Hà Lan 4,3%, Nga 4,2% (2014). Tương tự kim ngạch
nhập khẩu đạt 208,1 tỷ USD năm 2012 tăng lên 215,0 tỷ USD năm 2014 sau đó lại giảm
xuống còn 187,5 tỷ USD năm 2015; Các mặt hàng nhập khẩu chính gồm: Máy móc,
thiết bị giao thông 38%, hàng hóa sản xuất trung gian 21%, hóa chất 15%, khoáng sản,
nhiên liệu, dầu nhờn, và các sản phẩm liên quan 9%; Các thị trường nhập khẩu chính của
Ba Lan gồm: Đức 28,0%, Nga 9,1%, Trung Quốc 6,5%, Hà Lan 5,9%, Ý 5,5%, Pháp
4,2%, Cộng hòa Séc 4.2% (2014).
- Cộng hòa Séc: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Cộng hòa Séc tăng nhanh trong
giai đoạn 2011 - 2016. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Cộng hòa Séc gồm: Máy
móc và thiết bị vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, hóa chất. Các quốc gia nhập khẩu
chính gồm: Đức 32,4%, Slo-va-kia 8,4%, Ba Lan 6%, Anh 5,1%, Pháp 5,1%, Áo
4,4% (2014). Kim ngạch nhập khẩu cũng tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 20112016, năm 2015 kim ngạch nhập khẩu đạt 124,0 tỷ USD; Các mặt hàng nhập khẩu
chính của Cộng hòa Séc gồm: Máy móc và thiết bị vận tải, nguyên liệu và nhiên liệu,
hóa chất; Các thị trường nhập khẩu chính gồm: Đức 30,2%, Ba Lan 8,5%, Slo-va-kia


- 11 -

Đông Âu đã tăng từ 698,6 triệu USD năm 2007 lên 1488,7 triệu USD năm 2011 và tăng
lên 5743,2 triệu USD năm 2016. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Slo-va-kia tăng từ
82,1 triệu USD năm 2007 lên 297,6 triệu USD năm 2011 và tăng lên 3.197,5 triệu USD
năm 2016; thị trường Ba Lan tăng từ 375,4 triệu USD năm 2007 lên 779,7 triệu USD
năm 2011 và tăng lên 1.650,0 triệu USD năm 2016; tiếp đến là thị trường Cộng hòa Séc
tăng từ 198,2 triệu USD năm 2007 lên 375,4 triệu USD năm 2011 và tăng lên 771,5 triệu


- 12 -

USD năm 2016 và thị trường Hung-ga-ri tăng từ 51,9 triệu USD năm 2007, giảm xuống
còn 36,0 triệu USD năm 2011 và tăng lên 124,3 triệu USD năm 2016.
- Về nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ các nước Đông Âu cũng
tăng từ 168,5 triệu USD năm 2007 lên 310,9 triệu USD năm 2011 và tăng lên 445,7
triệu USD năm 2016. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu từ thị trường Ba Lan tăng từ
68,3 triệu USD năm 2007 lên 130,3 triệu USD năm 2011 và tăng lên 236,0 triệu USD
năm 2016; thị trường Cộng hòa Séc từ 65,9 triệu USD năm 2007 giảm xuống còn 44,9
triệu USD năm 2011 và tăng lên 93,3 triệu USD năm 2016; tiếp đến là thị trường Cộng
hòa Slo-va-kia tăng từ 2,9 triệu USD năm 2007 lên 13,9 triệu USD năm 2011 và tăng
lên 40,5 triệu USD năm 2016 và thị trường Hung-ga-ri tăng từ 31,5 triệu USD năm
2007, tăng lên 45,6 triệu USD năm 2011 và tăng lên 76,1 triệu USD năm 2016.
2.2.2. Thực trạng một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
sang thị trường một số nước Đông Âu
2.2.2.1. Hội nhập khu vực và tham gia Hiệp định thương mại tự do Việt Nam
- EU (EVFTA)
Để tham gia vào xu thế phát triển chung của thời đại, đón bắt các cơ hội phát
triển mới, từ Đại hội VII (1991) đến nay Đảng ta đã đề ra các chủ trương nhất quán
về hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng chủ động, đa phương hóa, đa dạng hóa , chú
trọng đến các đối tác chiến lược và các nước có chung đường biên giới.
Về cơ bản, các FTA đã đóng góp tích cực vào quá trình thúc đẩy xuất khẩu, nâng

lý thuế năm 2016, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Ngoại thương,… Nghị định số
77/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về
điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, hóa chất, vật
liệu nổ công nghiệp, phân bón, kinh doanh khí, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi
quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.
- Về thủ tục hành chính và công tác kiểm tra chuyên ngành, Bộ Công Thương đã
ban hành Thông tư số 05/2016/TT-BCT ngày 06/6/2016 quy định về việc cung cấp
dịch vụ công trực tuyến của Bộ Công Thương; Thông tư số 23/2016/TT-BCT ngày
12/10/2016 bãi bỏ Thông tư số 37/2015/TT-BCT ngày 30/10/2015 của Bộ trưởng Bộ
Công Thương quy định về mức giới hạn và việc kiểm tra hàm lượng formaldehyt và
amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may; Quyết định số
3648/QĐ-BCT ngày 08/9/2016 công bố Danh mục sản phẩm hàng hóa nhập khẩu
phải kiểm tra việc bảo đảm chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm trước
khi thông quan thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương thay thế Quyết định
số 11039/QĐ-BCT; Thông tư số 27/2016/TT-BCT ngày 05/12/2016 sửa đổi, bổ sung,
bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh
trong một số lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương,…
- Đối với hoạt động thương mại biên giới, để khắc phục một số tồn tại, vướng
mắc tại Thông tư số 52/2015/TT-BCT, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số
34/2016/TT-BCT quy định chi tiết hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của
thương nhân tại Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng
Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung
đường biên giới, có hiệu lực từ ngày 15/02/2017, thay thế cho Thông tư số
52/2015/TT-BCT.


- 14 -

- Đối với lĩnh vực tiêu chuẩn quy chuẩn, chất lượng sản phẩm hàng hóa, để góp
phần tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu, xây dựng hệ thống tiêu

cơ quan hữu quan, đóng góp hiệu quả vào công tác giới thiệu, tuyên truyền và quảng
bá hình ảnh các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam mang tầm quốc gia.
2.3.1.2. Đối với chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng với tư cách là các biện


- 15 -

pháp góp phần thúc đẩy xuất khẩu
Về cơ bản, các quy định về chính sách tín dụng đầu tư của Chính phủ đã khắc
phục được những hạn chế, tồn tại trong chính sách cũng như những khó khăn, vướng
mắc trong quá trình triển khai chính sách trong giai đoạn trước. Cụ thể:
Một là, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách về tài chính, tín dụng hỗ trợ
cho thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu sang thị trường một số nước
Đông Âu nói riêng.
Hai là, cơ chế lãi suất được thực hiện theo nguyên tắc lãi suất cho vay không
thấp hơn lãi suất bình quân các nguồn vốn cộng với phí hoạt động của ngân hàng.
Ba là, danh mục dự án vay vốn đầu tư nhà nước được điều chỉnh tập trung vào
lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các ngành nghề định hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
Bốn là, chính sách tỷ giá đã được Chính phủ chỉ đạo NHNN điều chỉnh linh hoạt
theo diễn biến của thị trường, tạo điều kiện cho thúc đẩy xuất khẩu, kiềm chế lạm
phát, ổn định vĩ mô nền kinh tế.
2.3.1.3. Đối với việc thuận lợi hóa thương mại nhằm thúc đẩy xuất khẩu
Các Bộ/Ngành đã tích cực triển khai công tác cải cách thủ tục hành chính, tiến
hành rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính, công khai thủ tục trên website của các
đơn vị, triển khai tốt công tác tiếp nhận và trả hồ sơ theo cơ chế một cửa, một cửa liên
thông. Một số Bộ/Ngành đã thực hiện giải quyết thủ tục hành chính theo quy trình ISO,
tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất
nhập khẩu.
Việc cải cách thủ tục hành chính của các Bộ/Ngành đã tạo điều kiện thuận lợi cho

chính về Hải quan,...
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
2.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan (thuộc về nhà nước): Trước hết, hình thức
huy động vốn theo chiều sâu đối với các doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả. Triển khai
thực hiện đồng bộ các giải pháp của Chính phủ và chỉ đạo của NHNN về hỗ trợ DN
phát triển. Thứ hai, chính sách khuyến khích cho vay đồng ngoại tệ nhằm nâng cao
khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Thứ ba, mặc dù chính sách tỷ giá hối doái
chưa đóng vai trò tích cực trong việc bảo hộ một cách hợp lý các doanh nghiệp
trong nước, chưa hỗ trợ đấy mạnh hoạt động xuất khẩu các sản phẩm mà Việt Nam
có lợi thế so sánh. Thứ tư, hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của các ngân
hàng và các tổ chức tín dụng của Việt Nam còn nhiều hạn chế, tỷ trọng bảo hiểm tín
dụng xuất nhập khẩu còn rất thấp. Thứ năm, các chương trình xúc tiến thương mại
quốc gia còn đơn điệu, không có sự thay đổi nhiều về tổ chức và phương thức thực
hiện; không có nhiều hình thức xúc tiến thương mại mới. Thứ sáu, Chính phủ đã có
nhiều chỉ đạo tích cực, nhưng quá trình sửa đổi các văn bản pháp quy vẫn diễn ra
chậm (chưa đạt 30% trong 2016) trong khi lại phát sinh các nội dung bất cập mới.


- 17 -

Thứ bảy, các chính sách thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường một số nước Đông Âu
vẫn chưa thực sự tập trung. Thứ tám, vai trò lãnh đạo của các các tổ chức chính trị xã hội, xã hội - nghề nghiệp, các hiệp hội ngành nghề chưa thực sự hiệu quả, chậm
đổi mới theo yêu cầu thực tiễn; chưa làm tốt vai trò thúc đẩy xuất khẩu của doanh
nghiệp. Thứ chín, vai trò của đại diện thương mại và cộng đồng người Việt Nam tại
các nước Đông Âu trong việc hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang các thị
trường này còn hạn chế.
2.3.3.2. Nguyên nhân về phía doanh nghiệp: Thứ nhất, hầu hết các doanh
nghiệp hiện nay chưa chủ động xây dựng được chiến lược kinh doanh mang tầm dài
hạn sang thị trường các nước Đông Âu. Thứ hai, tiềm lực đầu tư cho hoạt động nghiên
cứu và xác định những mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng để xây dựng chiến lược thúc

các hiệp định của WTO. Ngoài các quy định SPS, doanh nghiệp cần đáp ứng các quy
định riêng của các hãng bán lẻ, bán buôn.
CHƯƠNG 3
QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC
ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỘT
SỐ NƯỚC ĐÔNG ÂU
3.1. BỐI CẢNH MỚI TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG THÚC ĐẨY XUẤT
KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỘT SỐ
NƯỚC ĐÔNG ÂU
3.1.1. Bối cảnh quốc tế
3.1.1.1. Triển vọng kinh tế thế giới: Nhìn chung, kinh tế thế giới đang tiếp tục đà
hồi phục mang tính chu kỳ đang diễn ra kể từ giữa năm 2016 và đã tiếp tục được đà
tăng trưởng trong năm 2017 và duy trì đà này trong quý 1 của năm 2018. Toàn cầu hóa
và khu vực hóa đã thúc đẩy mạnh mẽ tự do hóa thương mại với việc cắt giảm các hàng
rào thuế quan và phi thuế quan, thuận lợi hóa việc lưu chuyển các dòng hàng hóa, dịch
vụ, thông tin cùng các yếu tố đầu vào của sản xuất như vốn, lao động,... mở ra khả năng
tiếp cận thị trường rộng lớn, giúp tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, do đó
tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ.
3.1.1.2. Triển vọng thương mại và giá cả thế giới: Dự báo của Ngân hàng Thế
giới, thương mại hàng hóa và dịch vụ thế giới sẽ tăng trưởng 4,9% năm 2017 và tiếp
tục được cải thiện lên mức cao 5,1% vào năm 2018 và đạt 4,7% trong năm. Đồng
thời, trị giá xuất khẩu của thế giới, cả hàng hóa và dịch vụ tính bằng USD sẽ tăng từ
22.654 tỷ USD năm 2017 lên 25.273 tỷ USD vào năm 2018 và đạt 26.701 tỷ USD
năm 2019, trong đó xuất khẩu hàng hóa tăng từ tăng từ 17.422 tỷ USD năm 2017 lên
19.474 tỷ USD vào năm 2018 và đạt 20.515 tỷ USD năm 2019.
3.1.2.3. Hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia các FTA của Việt Nam: Hiệp
định Đối tác và Hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và EU (PCA) đã chính thức có hiệu
lực từ ngày 01/10/2016 đóng vai trò cơ sở, khung pháp lý cho các thỏa thuận hợp tác



Thứ tư, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang thị trường các nước Đông Âu phải
trên cơ sở tạo điều kiện và phát huy tối đa được tính năng động của các doanh nghiệp,
trong đó có doanh nghiệp xuất khẩu.


- 20 -

3.2.2. Định hướng
Thứ nhất, vận dụng một cách đồng bộ và có hiệu quả các công cụ, chính sách
của Nhà nước; đồng thời kết hợp nhịp nhàng giữa các chính sách của Nhà nước với
các biện pháp thúc đẩy của doanh nghiệp nhằm đảm bảo thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
của Việt Nam sang thị trường một số nước Đông Âu một cách có hiệu quả.
Thứ hai, kết hợp XTTM và xúc tiến đầu tư hiệu quả tại thị trường các nước Đông
Âu, có chiến lược phù hợp và hiệu quả đầu tư vào các nước Đông Âu, tăng cường liên
doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh và đầu tư phù hợp khác để thúc đẩy xuất khẩu sang
các nước Đông Âu thời gian tới tương xứng với tiềm năng và lợi thế của Việt Nam.
Thứ ba, chủ động và có chiến lược lâu dài thâm nhập mạng lưới sản xuất, phân
phối trên thị trường các nước Đông Âu, phát triển nhanh hệ thống phân phối các sản
phẩm có lợi thế cạnh tranh, kết nối với hệ thống phân phối của Việt kiều tại các nước
Đông Âu, xây dựng thương hiệu hàng hóa Việt Nam,...
Thứ tư, với vị trí nằm trong khu vực Cộng đồng châu Âu, khu vực có trình độ
kinh tế phát triển cao và năng động nhất thế giới, định hướng thúc đẩy xuất khẩu
hàng hóa sang các nước Đông Âu còn với mục tiêu tạo điều kiện cho hàng hóa của
Việt Nam có cơ hội tiếp cận và mở rộng thị trường xuất khẩu sang các thị trường
khác của châu Âu.
Thứ năm, tăng cường công tác ngoại giao và tận dụng tốt được cơ hội từ việc
triển khai các cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã và đang
đàm phán, ký kết như: Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và EU (EVFTA), Hiệp
định thương mại tự do giữa Việt Nam với Liên minh Kinh tế Á - Âu nhằm thúc đẩy
xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường một số nước Đông Âu.

tệ liên ngân hàng, điều kiện cần thiết để qua đó nhà nước có thể nắm được mối quan
hệ cung cầu về ngoại tệ, đồng thời qua đó thực hiện biện pháp can thiệp của nhà nước
khi cần thiết; Năm là, hoàn thiện cơ chế điều chỉnh TGHĐ Việt Nam. Để đảm bảo cho
tỷ giá phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường nên từng bước loại bỏ
dần việc qui định khung tỷ giá với biên độ quá chặt của Ngân hàng nhà nước đối với
các giao dịch của các NHTM và các giao dịch quốc tế; Sáu là, thực hiện chính sách đa
ngoại tệ. Chúng ta nên lựa chọn những ngoại tệ mạnh để thanh toán và dự trữ, bao
gồm một số đồng tiền của những nước mà chúng ta có quan hệ thanh toán, thương
mại và có quan hệ đối ngoại chặt chẽ nhất để làm cơ sở cho việc điều chỉnh tỷ giá của
VND; Bảy là, nâng cao vị thế đồng tiền Việt Nam.
3.3.1.4. Tăng cường hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu (BHTDXK): (1)
BHTDXK cần được phát triển theo mô hình phù hợp với chiến lược phát triển kinh
tế, phương thức kinh doanh quốc tế và nguyên tắc WTO, đảm bảo sự cạnh tranh lành
mạnh và chịu sự điều chỉnh của luật pháp về bảo hiểm và thương mại. (2) BHTDXK


- 22 -

mang tính chuyên môn cao, đòi hỏi đầu tư lớn về vốn, công nghệ thông tin, nghiệp vụ
đánh giá rủi ro, thu hồi nợ, giải quyết khiếu nại minh bạch, công bằng; phân tán rủi ro
thông qua hoạt động tái bảo hiểm và (hoặc) đồng bảo hiểm. (3) Cần có khung pháp lý
điều chỉnh và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp BHTDXK phát triển, có chính sách
cụ thể cho việc cấp tín dụng của các ngân hàng cho các doanh nghiệp xuất khẩu có
hợp đồng BHTDXK.
3.3.1.5. Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại: (1) Hỗ trợ các doanh nghiệp
Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh như xây dựng các chương trình phát triển các ngành
hàng xuất khẩu có lợi thế để xuất khẩu sang thị trường một số nước Đông Âu. (2) Tăng
cường các hoạt động nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại. (3) Tăng cường trao
đổi thông tin, phối hợp thực hiện đầy đủ các nội dung cam kết trong Hiệp định thương
mại tự do Việt Nam - EAEU và các nội dung hợp tác khác vào mục tiêu phát triển và

mang tầm dài hạn sang thị trường các nước Đông Âu; (2) Nghiên cứu và xác định những
mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng để xây dựng chiến lược thúc đẩy xuất khẩu sang các
nước Đông Âu; (3) Doanh nghiệp cần chủ động tăng cường hoạt động xúc tiến thương
mại và marketing; (4) Chủ động đàm phán, khắc phục những khó khăn trong thanh toán;
(5) Đẩy mạnh ứng dụng linh hoạt các phương thức kinh doanh hiện đại và phù hợp để
phát triển thương mại với các nước Đông Âu; (6) Tăng cường đầu tư, đổi mới nhằm cải
thiện năng lực cạnh tranh cho sản phẩm và doanh nghiệp và (7) Chủ động, tích cực tham
gia phân phối trực tiếp các mạng phân phối nước ngoài để đẩy mạnh xuất khẩu, tăng kim
ngạch, đa dạng chủng loại hàng Việt tại các hệ thống phân phối nước ngoài
3.3.3. Một số giải pháp khác
3.3.3.1. Thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường một số
nước Đông Âu (Thị trường Cộng hòa Ba Lan, Thị trường Cộng hòa Séc, Thị trường
Cộng hòa Slo-va-kia và Thị trường Hung-ga-ri).
3.3.3.2. Giải pháp về phía Hiệp hội ngành hàng: Tăng cường cung cấp thông
tin giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành hàng; Nghiên cứu và tổ chức các chương
trình xúc tiến thương mại hỗ trợ doanh nghiệp trong ngành hàng thâm nhập thị trường
các nước Đông Âu; Các hiệp hội ngành hàng trong nước cần phối hợp với các cơ quan
chức năng tuyên truyền, quảng bá hàng Việt tại thị trường các nước Đông Âu.
KẾT LUẬN
Với kết cấu 3 chương, luận án đã tập trung làm rõ (i) tác động của chính sách
thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa đến xuất khẩu của Việt Nam nói chung và xuất khẩu
sang thị trường một số nước Đông Âu nói riêng; (ii) Lựa chọn một số chính sách và
đề xuất giải pháp hoàn thiện nhằm hướng tới mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa


- 24 -

của Việt Nam sang thị trường một số nước Đông Âu. Cụ thể:
Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
sang thị trường một số nước Đông Âu, khái quát hóa được vai trò của thúc đẩy xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status