Luận văn thạc sĩ Sử dụng câu đố trong dạy học tiếng Việt - Pdf 58

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
-------------

SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN NGÔ QUYỀN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC

Chuyên ngành: giáo dục Tiểu Học
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Lê Phương Nga

HẢI PHÒNG, NĂM 2017


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số

Tác giả


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................ii
MỤC LỤC .....................................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................... v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ .....................................................................................vi
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG
DẠY HỌC TIẾNG VIỆT ............................................................................................. 8
1.1. Giới thuyết về câu đố và phân loại câu đố ........................................................... 8
1.1.1. Khái niệm câu đố ................................................................................................. 8
1.1.2. Đặc trƣng của câu đố ........................................................................................... 9
1.1.3. Phân loại câu đố .................................................................................................16
1.2. Khả năng dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học...........................18
1.2.1. Câu đố phù hợp với mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học ......................19
1.2.2. Câu đố phù hợp với hứng thú và đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học ...22
1.3. Nhận xét về việc sử dụng câu đố trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học....................24
1.4. Tiểu kết chƣơng 1 .................................................................................................30
CHƢƠNG 2 SỬ DỤNG NGÂN HÀNG CÂU ĐỐ ĐỂ DẠY HỌC TIẾNG
VIỆT Ở TIỂU HỌC ...................................................................................................31
2.1. Nguyên tắc lựa chọn câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học ...............31
2.1.1. Lựa chọn câu đố phải phù hợp với mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở Tiểu
học .................................................................................................................................31
2.1.2. Lựa chọn câu đố đảm bảo yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu
học. ................................................................................................................................32

3.5.1. Đo đạc kết quả thực nghiệm .............................................................................66
3.5.2. Kết quả thực nghiệm .........................................................................................66
3.6. Tiểu kết chƣơng 3 .................................................................................................68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ....................................................................................70
1. Kết luận.....................................................................................................................70
2. Kiến nghị...................................................................................................................70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................72
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 73


v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng
3.1

3.2

3.3

Kết quả kiểm tra về kiến thức - kĩ năng của học sinh trƣớc
khi thực nghiệm
Kết quả kiểm tra về kiến thức - kĩ năng của học
sinh sau khi thực nghiệm
Mức độ hứng thú của học sinh lớp thực nghiệm và
lớp đối chứng


Trang

63

64

65


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
1.1. Câu đố là một thể loại của văn học dân gian, chiếm một vị trí rất
đáng kể, là một món ăn tinh thần không thể thiếu đƣợc trong đời sống sinh
hoạt của ngƣời dân Việt Nam. Câu đố ra đời trong sinh hoạt của ngƣời dân, bà
con thƣờng đố nhau khi sinh hoạt tập thể nhƣ khi cấy hái, cùng nhau đắp đê,
tát nƣớc... Cũng nhƣ mọi loại hình văn học khác, câu đố không chỉ có giá trị
về mặt nhận thức mà nó còn hấp dẫn ngƣời đọc ở tính chất trữ tình, truyền
cảm. Có lẽ nhờ vậy mà câu đố đã đi vào từng ngõ ngách của gia đình Việt
Nam, vào trong tƣ duy của các em bé thơ ngây đến cụ già đầu bạc. Câu đố trở
thành một bộ phận quan trọng, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của
nhân dân ta, đóng vai trò là một phƣơng tiện nhận thức đặc biệt, rất linh hoạt
và tinh tế. Chắc hẳn ai ai cũng biết vài ba câu đố và không ít lần tham gia vào
các trò chơi đố giải.
1.2. Câu đố không chỉ đơn thuần là một trò chơi giải trí thông thƣờng
mà là một sân chơi trí tuệ bổ ích bằng ngôn từ,đóng góp một vai trò đặc biệt
và rất quan trọng trong đời sống xã hội.Bằng việc giải câu đố, ngƣời chơi
đƣợc nâng cao năng lực tƣ duy, óc phán đoán đồng thời đƣợc rèn luyện khả

học sinh Tiểu học. Bởi vậy, mỗi giáo viên Tiểu học cần phải xác định và hiểu
rõ giá trị này của câu đố. Từ đó vận dụng và nâng cao hiệu quả việc sử dụng
câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học. Đã có không ít công trình nghiên
cứu về câu đố, song phần lớn các công trình này chỉ dừng lại ở việc sƣu tầm
các câu đố rồi đƣa ra giải đáp. Cũng có một số tài liệu nghiên cứu câu đố
nhƣng ở mức khái quát. Có một số tác giả đi sâu vào việc nghiên cứu câu đố
đƣợc sử dụng trong các trƣờng học phổ thông nhƣng ở cấp trung học cơ sở và
trung học phổ thông, chƣa có nghiên cứu nào đi sâu vào việc sử dụng câu đố
trong dạy học ở Tiểu học.
Hơn nữa, trong dạy học Tiếng Việt ở trƣờng Tiểu học, việc sử dụng câu
đố còn hạn chế. Trong sách giáo khoa, câu đố đƣợc dạy nhƣ một đối tƣợng
cần tiếp nhận trong các bài học làm giàu vốn từ và một số bài tập đọc.
Ở các phân môn Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu... khi câu đố đƣợc
sử dụng nhƣ một ngữ liệu để thực hiện các mục tiêu dạy học thì nhiều trƣờng


3

hợp, việc lựa chọn câu đố chƣa phù hợp do đó chƣa khai thác hết các lợi thế
của câu đố nên hiệu quả dạy học chƣa cao... Có nhiều lí do dẫn đến hạn chế
trên, nhƣng theo chúng tôi, nguyên nhân cơ bản là do việc dạy câu đố chƣa
đƣợc hoạch định cụ thể, chƣa tính toán đầy đủ mục đích sử dụng chúng.
Chúng tôi thiết nghĩ, việc đầu tiên của công việc này là phải tập trung
đi từ những căn cứ để lựa chọn câu đố và bƣớc đầu xây dựng ngân hàng ngữ
liệu câu đố để chỉ ra những khả năng sử dụng chúng trong dạy học Tiếng
Việt.Vì lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu việc " Sử dụng câu đố
trong dạy học Tiếng Việt ở một số trường Tiểu học trên địa bàn Quận Ngô
Quyền – Thành phố Hải Phòng".
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Câu đố ra đời từ rất sớm, việc xác định chính xác nguồn gốc của câu đố

Minh,1986.
- Câu đố ngƣời Việt (Triều Nguyên biên soạn), Nxb Thuận Hoá, 2007.
Các công trình này chủ yếu chọn lọc những kiến thức cơ bản, giới thiệu
về xuất xứ, nguồn gốc; hoàn cảnh sử dụng, mục đích, chức năng câu đố, cách
cấu tạo câu đố về mặt ngữ pháp, ngữ điệu, ngữ nghĩa... đồng thời sƣu tầm và
phân loại câu đố thành hai mảng : tự nhiên và văn hóa.Một số tài liệu có bàn
đến câu đố nhƣng hết sức sơ lƣợc dƣới dạng chƣơng, mục, ví dụ:
1) Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh (chủ biên)), NXB
Giáo dục, Hà Nội ( 2002).
2) Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian của Đỗ Bình
Trị
3) Văn học dân gian Việt Nam của Hoàng Tiến Tựu
4) Tổng tập văn học dân gian ngƣời Việt (tập 3) do Viện Khoa học Xã
hội Việt Nam biên soạn .
Ngoài ra cũng thấy đây đó một số bài nghiên cứu về câu đố nhƣ:
1) ―Hiện tƣợng đồng dạng khác nghĩa và đồng nghĩa khác dạng của câu
đố‖ của tác giả Phạm Văn Tình
2)―Các hình thức chơi chữ trong câu đố‖- tác giả Triều Nguyên
3)―Câu đố và tƣ duy nghệ thuật‖ của Hồ Quốc Hùng


5

4) ―Câu đố và văn chƣơng bình dân‖ của Phạm Văn Đang
Bên cạnh đó, chúng tôi còn đƣợc biết những khoá luận, luận văn hay
luận án tiến sĩ nghiên cứu về câu đố có số lƣợng rất ít.Nhìn chung, các công
trình nghiên cứu về câu đố thƣờng nặng về sƣu tầm, tuy đƣa ra nhận xét song
đó chỉ là những gợi ý đối với ngƣời đọc. Có những công trình nghiên cứu chỉ
chọn một số câu đố tiêu biểu để tìm hiểu, phân tích về một phƣơng diện nào
đó. Với luận văn thạc sĩ nhƣ “ Một số vấn đề về bản chất thể loại câu đố Việt

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu và khảo sát thực trạng tại một số trƣờng
Tiểu học trên địa bàn Quần Ngô Quyền, gồm :Trƣờng Tiểu học Lê Hồng
Phong, trƣờng Tiểu học Chu Văn An.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thống kê phân loại
Sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu này để thống kê các kiểu câu đố theo
các tiêu chí đã định trƣớc.
5.2. Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phƣơng pháp nghiên cứu này đƣợc vận dụng để phân tích tƣ liệu thống
kê và tổng kết lại các kết quả phân tích. Phân tích những ƣu điểm và hạn chế
của thực trạng sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt hiện nay để làm cơ sở
đề xuất các biện pháp hiệu quả trong việc sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng
Việt.
5.3. Phương pháp khảo sát, điều tra
Khảo sát thực trạng về khả năng sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng
Việt ở một số trƣờng Tiểu học bằng việc dùng phiếu khảo sát, trao đổi trực
tiếp với Giáo viên và Học sinh, dự giờ một số tiết học.
5.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để tiến hành dạy học thử nghiệm tại
một trƣờng Tiểu học tại quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng nhằm kiểm
nghiệm và đánh giá tính khả thi cũng nhƣ hiệu quả của các biện pháp tổ chức
việc sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học mà luận văn đã xây
dựng.


7

6. Những đóng góp mới của luận văn.
- Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của sử dụng câu đố, những hiểu biết
xung quanh về vấn đề câu đố.

Theo tác giả Vũ Ngọc Phan:‖ Câu đố là một loại hình sáng tác phản
ánh các sự vật, hiện tƣợng của thế giới khách quan theo lối nói chệch‖ ( nói
một đằng hiểu một nẻo).
Theo tác giả Triều Nguyên : ― Câu đố là một thể loại văn học dân gian,
gồm hai bộ phận, bộ phận lời đố và bộ phận lời giải vật đố bằng văn vần,
nhằm miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp lý nhƣng làm lạ hóa để khó đoán
nhận lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tƣợng phổ biến, ai cũng
từng biết, từng hay‖ .
Theo G.S Nguyễn Văn Trung, quan niệm về câu đố của tác giả dựa trên
hai mặt: mặt cấu tạo và mặt xã hội. Về mặt cấu tạo, câu đố có cấu trúc của
một đối thoại gồm hai phần: lời đố và lời giải.
Theo từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học thì ―
Câu đố là câu văn vần mô tả ngƣời, vật, hiện tƣợng một cách lắt léo hoặc úp
mở, dùng để đố nhau.‖


9

Khái niệm câu đố mới trong sách Giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học thì:
― Câu đố mới là câu văn vần miêu tả ngƣời, vật, hiện tƣợng một cách
lắt léo,mô tả một cách xác thực, gần gũi với học sinh Tiểu học do một số nhà
biên soạn sách soạn nhằm phát triển tƣ duy của trẻ, làm nền tảng cho việc học
câu đố dân gian sau này‖.
Nhƣ vậy, có rất nhiều định nghĩa về câu đố, nhƣng chung quy lại, câu
đố là lời nói có tính nghệ thuật, mô tả sự vật, hiện tƣợng bằng lối nói ám chỉ,
giấu không cho biết sự vật, hiện tƣợng mà để cho ngƣời đọc tự đoán ra.
1.1.2. Đặc trưng của câu đố
1.1.2.1. Câu đố là một trò chơi trí tuệ bằng ngôn từ
a) Câu đố cung cấp cho con ngƣời vốn tri thức phong phú và đa dạng
về thế giới khách quan

" Chặt đuôi, xâu hông, bỏ xuống sông vẫn sống"
Câu đố còn đem đến cho chúng ta một khía cạnh nữa đó chính là tính
sinh động của nó. Thế giới sự vật, hiện tƣợng trong câu đố trở nên có hồn,các
sự vật, hiện tƣợng đó đều mang một màu sắc mới, sinh động nhƣng cũng rất
chân thực. Vì vậy, thế giới sự vật, hiện tƣợng trong câu đố không hiện lên một
cách cô lập, tĩnh tại mà luôn luôn có sự vận động và phát triển. Nếu nhƣ thế
giới sự vật, hiện tƣợng này đến với trẻ em thì các em không chỉ đƣợc làm giàu
về nhận thức mà còn đƣợc làm phong phú về tâm hồn.
b) Câu đố tạo cho con ngƣời một khả năng suy luận logic và tƣởng
tƣợng
Nếu nhƣ ca dao dân ca giúp cho tâm hồn con ngƣời bay bổng, những
phán đoán logic nhiều khi không cần thiết thì câu đố đòi hỏi một sự suy luận
khách quan có căn cứ. Ngƣời giải đố phải biện minh căn cứ của mình.Quá
trình tìm ra vật đố lời giải là quá trình vận động của tƣ duy logic kết hợp với
tƣ duy hình tƣợng. Tƣ duy logic đi từ hình ảnh để so sánh, đối chiếu và tìm ra
vật đố. Tƣ duy hình tƣợng theo chiều ngƣợc lại, cố hình dung vật đố gần với
hình ảnh, hình tƣợng. Đây là sự phối hợp tuyệt vời nhất để con ngƣời đặc biệt
là trẻ em có đƣợc một bộ não phát triển toàn diện.


11

Ví dụ: Cùng nói về hạt mƣa:
Ca dao :

― Thân em nhƣ hạt mƣa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vƣờn hoa
Thân em nhƣ hạt mƣa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày‖


Nhƣ vậy, câu đố vừa là mục đích, vừa là phƣơng tiện phát triển nhận
thức, tƣ duy con ngƣời. Mỗi lần giải đố là mỗi lần con ngƣời phải tiến hành
một loạt các hoạt động tƣ duy và mỗi khi giải đƣợc câu đố, con ngƣời lại có
thêm một nhận thức mới. Đối tƣợng nhận thức chủ yếu của câu đố là trẻ em.
Đƣa câu đố đến cho trẻ em là cách tốt để chúng có điều kiện phát triển nhanh
về trí tuệ.
1.1.2.2. Câu đố là một bài toán đặc biệt
Câu đố đƣợc ví nhƣ " bài toán bằng văn học", đƣợc thể hiện qua yếu tố
dữ kiện và lời giải. Dữ kiện là những yếu tố cho trƣớc có thể gần, có thể xa so
với đặc điểm của vật đố nhƣng luôn bảo đảm hợp lí để có thể giải đố đƣợc.
Những đặc điểm khác nhau đó có khi đƣợc thể hiện đồng thời, có khi chỉ là
một trong số đó.Với hát đố không cần một câu trả lời chính xác, không lấy
mục đích giải đố làm trọng. Ngƣời giải có thể đƣa ra những lời giải bâng quơ,
có thể tự do đi chệch hƣớng của ngƣời đố để nói về việc khác. Ví dụ:
- Đố:
Trong chùa chi chua hơn chanh
Chi vàng hơn nghệ, chi xanh hơn chàm?
- Giải:
Trong chùa khế chua hơn chanh
Anh nhớ em vàng hơn nghệ, anh sầu xanh hơn chàm.
Bản thân lời đố trong ví dụ trên không tạo ra dữ kiện để hƣớng tới một
vật cụ thể. Vì thế, ngƣời giải có thể trả lời tự do theo của mình. Câu đố thì
khác, nó không phải phƣơng tiện để trao đổi tâm tình. Điều đáng quan tâm
trong câu đố là tìm đƣợc lời giải hợp lí. Câu đố giống nhƣ một bài toán có thể
chỉ có một đáp số, cũng có thể có một vài ba đáp số tƣơng đƣơng, phù hợp
với những dữ kiện đã nêu. Thêm vào đó, đối tƣợng mà hát đố hƣớng tới là
ngƣời lớn, còn đối tƣợng mà câu đố hƣớng tới là trẻ em. Mục đích của câu đố


13



14

thống hình tƣợng. Bài toán câu đố là bài toán về hình tƣợng nghệ thuật. Vật
đố đƣợc thay thế bằng những hình tƣợng phong phú, đa dạng và cực kì sinh
động. Câu đố đƣa con ngƣời vào thế giới của hình tƣợng đầy sức hấp dẫn.Hệ
thống hình tƣợng trong câu đố có một đặc điểm riêng, tạo nên sự độc đáo nhờ
tính chất kì lạ, phi lí. Có thể nhìn bề ngoài chúng ta không thấy sự hợp lí của
câu đố song trong câu đố , cái phi lí và các hợp lý lại quan hệ với nhau mật
thiết và có sự chuyển hóa tài tình. Cái kì lạ, phi lí trong câu đố tạo nên giá trị
nghệ thuật độc đáo, đƣa con ngƣời vào một thế giới khác, có thể gây những
cảm xúc chân thành:
Nắng ba năm ta không bỏ bạn
Mƣa một ngày bạn nỡ bỏ ta.
( Người và bóng)
Ngoài ra câu đố còn có những đặc trƣng sau:
a, Tính giải trí
Nếu nghỉ ngơi, giải trí, thƣ giãn đƣợc coi là một trong những nhu cầu
cần thiết và chính đáng của con ngƣời trong cuộc sống thƣờng nhật, thì xét
trên phƣơng diện này, đố đƣợc coi là một phƣơng tiện giải trí tích cực. Không
phải ngẫu nhiên mà các câu đố đƣợc truyền tụng trong dân gian rất đƣợc mọi
ngƣời say mê, thích thú.
Trƣớc hết, đố là dịp để những ngƣời tham gia đƣợc thử sức mình. Giải
đƣợc các câu đố, nhất là các câu đố khó, bao giờ cũng mang lại cho ngƣời ta
niềm vui - niềm vui của sự tự khẳng định. Niềm vui ấy sẽ giúp cho họ quên đi
những lo toan, căng thẳng, bực bội trong cuộc sống thƣờng nhật.
Hai là, đố kích thích tính tò mò, khám phá của ngƣời chơi. Tham gia
các trò đố vui cũng giống nhƣ trò chơi trốn - tìm, trò chơi đuổi - bắt của trẻ
em mỗi khi nhàn rỗi.

khác của văn học dân gian, có sức sống mãnh liệt, đƣợc truyền tụng qua nhiều
thế hệ . Đến ngày nay, câu đố vẫn còn cảm hóa đƣợc nhiều ngƣời và vẫn giữ
đƣợc vai trò tích cực của mình đối với trẻ em.


16

1.1.3. Phân loại câu đố
1.1.3.1. Phân loại câu đố theo chủ đề
Nội dung căn bản của câu đố là tri thức mọi mặt của cuộc sống vì thế
cách phân loại thƣờng áp dụng cho thể loại này là cách phân loại theo đề tài.
Muốn xác định chủ đè, phải căn cứ vào vật đố. Mỗi nhóm vật đố sẽ tạo ra một
chủ đề.
- Câu đố về các thực thể và hiện tƣợng tự nhiên, vũ trụ
- Câu đố về công cụ sản xuất và các loại đồ dùng
- Câu đố về thực vật, động vật
- Câu đố về con ngƣời và hoạt động của con ngƣời
1.1.3.2. Phân loại câu đố theo đối tượng và hình thức diễn tả
Căn cứ vào hình thức diễn tả chia ra hai loại nhỏ :
- Câu đố trực tiếp : Câu đố trực tiếp là loại câu đố không sử dụng đến
kĩ thuật so sánh, ẩn dụ hay bất kì phƣơng tiện tu từ nào khác ngoài việc miêu
tả đúng với những gì nó có.
Ví dụ :
Lá xanh, cành đỏ, hoa vàng
Hạt đen, rễ trắng, đố chàng biết chi?
( Rau sam)
Câu đố về trạng thái đang hoạt động của con chuồn chuồn:
Con gì cánh mỏng đuôi dài
Lúc bay, lúc đậu cánh thời đều giƣơng
( Con chuồn chuồn)

tác giả lại phân thành câu đố dành cho ngƣời lớn và câu đố dành cho trẻ
em.Câu đố cho ngƣời lớn thƣờng có những ẩn dụ phức tạp mang mối quan hệ
giữa vật đố và vật thay thế là rất mong manh. Do vậy, câu đố cho ngƣời lớn
thƣờng là những câu đố làm theo phƣơng pháp gián tiếp, còn những câu đố
dành cho trẻ em làm theo phƣơng pháp miêu tả trực tiếp.


18

Chẳng hạn: Cùng đố về trăng ( mặt trăng) , song câu đố sau có thể dành
cho ngƣời lớn:
Thuở bé em có hai sừng
Đến tuổi nửa chừng mặt đẹp nhƣ hoa
Ngoài hai mƣơi tuổi đã già
Gần ba mƣơi lại mọc ra hai sừng
Còn câu đố dành cho trẻ em nhƣ sau:
Mặt gì mát dịu đêm nay
Cây đa, chú Cuội đứng đây rõ ràng?
Hay cùng đố về con ruồi, câu đố dành cho ngƣời lớn:
Cô kia nho nhỏ rứa mà khôn
Đã từng ăn ở chốn công đƣờng
Cao lƣơng mĩ vị thƣờng đƣợc nếm
Trai hiền, gái đẹp đã từng hôn
Đối với trẻ em, câu đố về con ruồi nhƣ sau:
Vừa bằng hạt đỗ, ăn dỗ cả làng.
Tuy nhiên, giữa câu đố ngƣời lớn và câu đố trẻ em, gianh giới giữa hai
loại câu đố này chỉ mang tính chất tƣơng đối bởi có những câu đố dành cho cả
trẻ em và ngƣời lớn.Ngày nay, khi cuộc sống vật chất và tinh thần của con
ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao thì ngoài sự tồn tại của câu đố cổ truyền thì
còn có sự ra đời của câu đố hiện đại phù hợp với sự phát triển của xã hội ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status