MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH
HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN...............................................................5
1 1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản 5
1.2. Cơ sở, nguyên tắc của phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản...........12
1.3. Chủ thể phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản................................. 13
1.4. Các biện pháp phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản.......................14
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP
GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG...................24
2.1. Thực trạng đặc điểm tình hình có liên quan đến phòng ngừa tội cướp giật tài
sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng............................................................... 24
2.2. Thực trạng phòng ngừa............................................................................ 47
2.3. Nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài
sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.............................................................. 63
CHƯƠNG 3. DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA
TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG......................................................................................................68
3.1. Dự báo hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng..........................................................................................68
3.2. Giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng..........................................................................................71
KẾT LUẬN.................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLHS
thành phố. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển này, tình hình tội phạm có
nhiều diễn biến khó lường, trong đó tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng diễn ra hết sức phức tạp, khó lường về tính chất, mức độ hoạt
động của tội phạm. Phương thức thủ đoạn của tội cướp giật tài sản ngày càng
đa dạng, các đối tượng phạm tội thay đổi theo từng thời điểm, liên quan đến
nhiều địa bàn khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là các địa bàn trung tâm thành
phố, khu du lịch, khu nghỉ dưỡng...trên địa bàn thành phố, đáng lo ngại là sự
xuất hiện của các băng, nhóm chuyên nghiệp. Từ năm 2014 đến 06 tháng đầu
năm 2019, tổng số vụ án cướp giật tài sản xảy ra tại các địa bàn du lịch, khu
du lịch chiếm 9,21% trong tổng số các vụ phạm pháp hình sự xảy ra và đã ảnh
hưởng xấu đến môi trường du lịch của thành phố. Tuy nhiên, những thống kê
trên chỉ là những vụ cướp giật tài sản ở các địa bàn, khu du lịch mà nạn nhân
trình báo với cơ quan chức năng, trong thực tế số vụ án cướp giật tài sản tại
các địa bàn này xảy ra còn nhiều hơn, mà nạn nhân vì những lý do khác nhau
đã không trình báo với cơ quan chức năng.
Trước tình hình phức tạp của tình hình tội CGTS, Đảng bộ, các ban
ngành và Chính quyền thành phố đã ban hành các chủ trương, chính sách,
các kế hoạch, chuyên đề về đấu tranh, phòng ngừa đối với tình hình tội
phạm CGTS. Tuy nhiên, trong thực tế công tác phòng ngừa với loại tội
phạm này vẫn còn những hạn chế nhất định như chưa huy động được sức
mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia vào các hoạt động phòng ngừa đối
với loại tội phạm này, cơ chế phối hợp giữa các lực lượng còn nhiều bất cập,
trong công tác tuyên truyền nâng cao tinh thần cảnh giác trong nhân dân
chưa được thường xuyên, liên tục, chưa được chú trọng đúng mức đã ảnh
hưởng không nhỏ đến tình hình tội cướp giật tài sản tại trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng, đáng báo động phương thức, thủ đoạn hoạt động của loại tội
phạm này diễn biến ngày càng phức tạp về quy mô, tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội. Bên cạnh những nguyên nhân về khách quan, chủ
pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp
giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu luận văn cần giải
quyết các nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ cơ sở lý luận của phòng ngừa tội cướp giật tài sản và hoạt động
phòng ngừa tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
+ Làm rõ thực trạng hoạt động phòng ngừa tội cướp giật tài sản trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2014 đến 06 tháng đầu năm 2019.
+ Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phòng
ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tình hình, chủ thể, cơ sở và thực trạng hoạt động phòng ngừa tình hình
tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Phạm vi về thời gian: từ năm 2014 đến 06 tháng đầu năm 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà
nước ta về phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ ANQG và giữ
gìn TTATXH.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
+ Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp.
+ Phương pháp tọa đàm, trao đổi.
theo một kế hoạch nhất định của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội để chủ
động ngăn ngừa các hành vi phạm tội, loại trừ những nguyên nhân và điều
kiện phát sinh tội phạm.
Theo giáo trình Tội phạm học, Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Quang cho
rằng đấu tranh chống tội phạm bao hàm hai nội dung cơ bản: Thứ nhất, phát
hiện điều tra khám phá kịp thời mỗi khi tội phạm xảy ra nhằm đảm bảo tội
phạm không thể không bị phát hiện và điều tra xử lý kịp thời, không một
người phạm tội nào có thể tránh khỏi hình phạt của pháp luật. Đây là nội dung
quan trọng trong mọi thời kỳ của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.[11]
Thứ hai, bằng mọi biện pháp không cho tội phạm xảy ra, không để cho một
thành viên nào của xã hội phải chịu hình phạt của pháp luật, xã hội không
phải chịu hậu quả của tội phạm, các cơ quan bảo vệ pháp luật không phải có
những chi phí cần thiết cho việc điều tra, khám phá, xử lý người phạm tội và
điều quan trọng hơn là đảm bảo cuộc sống bình thường cho mọi công dân
trong xã hội, làm cơ sở cho mọi công dân có thể cống hiến sức lực của mình
vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Theo quan niệm này phòng ngừa tội
phạm khác với công tác điều tra khám phá, xử lý tội phạm.[11]
Theo giáo trình Tội phạm học của Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm
phòng ngừa tội phạm không chỉ bao gồm các hoạt động nhằm thủ tiêu nguyên
nhân và điều kiện phạm tội, không để cho tội phạm xảy ra mà còn bao gồm cả
những hoạt động ngăn chặn tội phạm, phát hiện điều tra khám phá tội phạm
và xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội nhằm trừng trị giáo dục người
phạm tội trở thành người công dân có ích cho xã hội [29]. Truy cứu trách
nhiệm hình sự cũng là một hình thức phòng ngừa tình hình tội phạm chủ động
và có hiệu quả. Thông qua hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và buộc kẻ phạm
tội phải chịu một hình phạt không những có ý nghĩa phòng ngừa cá biệt mà
còn có ý nghĩa phòng ngừa chung[29]. Việc trừng trị kẻ phạm tội và ngăn
chặn nó không phạm tội mới còn có ý nghĩa tác động đối với những người
nhanh chóng, công khai giật lấy tài sản rồi tìm cách tẩu thoát.
- Dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản
Điều 171 Bộ luật hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2015 quy định:
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến
năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến
mười năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000
đồng;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người
già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm
đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn
thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai
năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác.
Hành vi “công khai” về mặt khách quan, chủ tài sản có khả năng biết
ngay khi hành vi này xảy ra. Về ý thức chủ quan của người phạm tội, người
phạm tội khi thực hiện hành vi chiếm đoạt biết hành vi chiếm đoạt của mình
có tính chất công khai và hoàn toàn không có ý định che giấu hành vi đó. Đây
cũng là một dấu hiệu đặc trưng để phân biệt với các trường hợp phạm tội khác
như hành vi trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản…
“Nhanh chóng” là dấu hiệu phản ánh thủ đoạn của người phạm tội. Đó là
thủ đoạn nhanh chóng tiếp cận tài sản, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và
nhanh chóng tẩu thoát.
Để giật được tài sản, người phạm tội lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, sơ
hở này có thể sẵn có (như đeo dây chuyền lộ ra trên cổ, túi xách để ở giỏ xe,
sử dụng điện thoại di động khi đang chạy xe…) hoặc do người phạm tội chủ
động tạo ra (như giả vờ tiếp cận hỏi thăm chuyện với chủ tài sản, vào cửa
hàng giả vờ xem mua tài sản…) và nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm
đoạt và nhanh chóng tẩu thoát. Ví dụ, giật lấy túi xách của người đi đường và
nhanh chóng tẩu thoát…[37]
Thủ đoạn nhanh chóng này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau và phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản, cách thức giữ tài sản…, thông
thường đây là những tài sản gọn nhẹ, dễ giật lấy, dễ mang đi như: túi xách,
dây chuyền, máy ảnh, điện thoại di động…
Một số trường hợp, người phạm tội lúc đầu chỉ có ý định cướp giật tài
sản nhưng trong quá trình thực hiện hành vi bị chủ tài sản chống cự, giằng lấy
lại tài sản, người phạm tội đã có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực
ngay tức khắc để chiếm đoạt bằng được tài sản thì hành vi phạm tội này
không còn là hành vi cướp giật tài sản mà chuyển sang hành vi cướp tài sản.
Tuy nhiên, cũng được xem là hành vi cướp giật tài sản trong trường hợp
người phạm tội có tác động nhẹ đến người chiếm giữ tài sản, song không làm
nhà nước, tổ chức xã hội và công dân bằng nhiều biện pháp hướng đến việc
thủ tiêu những nguyên nhân, điều kiện của tội cướp giật tài sản, nhằm ngăn
chặn, làm hạn chế và từng bước loại trừ tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội
nói chung và nói riêng.
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là hoạt động rất
phức tạp, đa dạng với sự tham gia của đông đảo các lực lượng, tổ chức xã
hội…Vì vậy, để phòng ngừa tình hình tội phạm này cần phải giải quyết tốt các
nhiệm vụ như nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân, điều kiện của tình trạng
phạm tội cướp giật tài sản; soạn thảo các giải pháp, biện pháp phòng ngừa và
tổ chức tiến hành các hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản.
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là việc tiến hành
đồng bộ các biện pháp, sử dụng đồng bộ nhiều lực lượng nhằm khắc phục
những sơ hở thiếu sót trong các mặt công tác không để đối tượng phạm tội
cướp giật tài sản có thể lợi dụng hoạt động phạm tội. Cần phải nghiên cứu
những đặc điểm hình sự của tội cướp giật tài sản để thấy được những nguyên
nhân trực tiếp làm nảy sinh, phát triển loại tội phạm này, từ đó khắc phục
nhằm ngăn chặn không để cho chúng có thể xảy ra.
1.2. Cơ sở, nguyên tắc của phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Cơ sở pháp lý của hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
là toàn bộ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước nói chung
và của pháp luật tố tụng hình sự nói riêng quy định về các biện pháp, phương
tiện được sử dụng và những nội dung khác có liên quan đến hoạt động phòng
ngừa nhằm ngăn ngừa, hạn chế không để cho tội cướp giật giật tài sản xảy ra
trong cuộc đấu tranh phòng, chống đối với loại tội phạm này.
Cơ sở pháp lý quan trọng của hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp
giật tài sản là Hiến pháp, Bộ luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn
bản quy phạm pháp luật khác.
Điều 46, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có nhiệm vụ tuân
- Bộ luật hình sự năm 2015, tại Điều 4 quy định: “Cơ quan Công an, Viện kiểm
sát nhân dân, Tòa án nhân dân và cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thi
hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn,
giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, công dân đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng”.
- Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015: Tại khoản 2, Điều 5
quy định: Cơ quan điều tra của lực lượng CSND bao gồm Cơ quan CSĐT Bộ
Công an, Cơ quan CSĐT cấp tỉnh, Cơ quan CSĐT cấp huyện và tại khoản 4,
Điều 8 quy định Cơ quan điều tra tiến có nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân, điều
kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện
pháp khắc phục và ngăn ngừa.
1.3. Chủ thể phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Chủ thể hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là các cá
nhân, tổ chức có trách nhiệm và quyền hạn hoạt động đấu tranh phòng, chống
đối với loại tội phạm này. Ngoài ra sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, thì
việc mọi công dân cùng tham gia phòng, chống có ý nghĩa đặc biệt tích cực
trong việc phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản. Tuy nhiên, do mỗi lực
lượng, mỗi tổ chức, mỗi công dân khi tham gia phòng ngừa tình hình tội
phạm này lại có chức năng, nhiệm vụ, vị trí khác nhau cho nên cần phải xác
định rõ vai trò của từng lực lượng (chủ thể) tiến hành phòng ngừa tình hình
tội phạm.
Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản cũng chính là tiến hành phòng
ngừa đối với một hiện tượng xã hội tiêu cực. Do đó, tiến hành hoạt động
phòng ngừa phải phát huy mọi lực lượng của toàn xã hội, trong đó lực lượng
nòng cốt, chủ công là lực lượng CAND. Vai trò của lực lượng CAND đối với
hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản được thể hiện chung
nhất tại Điều 4 Luật Công an nhân dân năm 2014 quy định “CAND là lực
lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ
tố có thể trở thành nguyên nhân và điều kiện thực hiện tội phạm; phòng ngừa
xã hội được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tập
thể lao động cũng như bản thân từng công dân - cá nhân, thành viên của xã
hội, trong đó lực lượng CAND là nòng cốt thực hiện chức năng tham mưu,
hướng dẫn và trực tiếp tiến hành các mặt hoạt động đấu tranh phòng ngừa tình
hình tội phạm [38].
Để thực thi các biện pháp phòng ngừa xã hội, các lực lượng cần tiến
hành một số công tác cụ thể sau đây:
Thứ nhất, làm tốt công tác tham mưu, đề xuất với các cấp ủy Đảng,
chính quyền xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật có liên
quan đến việc quản lý con người, quản lý xã hội; công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng. Tổ chức thực
hiện tốt các chủ trương, chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước về
công tác phòng, chống tội phạm, đặc biệt là phòng chống tội cướp giật tài
sản . Tham mưu cho Đảng, chính quyền nhằm tích cực chủ động phòng ngừa
bằng các hoạt động: Đề ra chủ trương, biện pháp, giải pháp phòng ngừa tình
hình tội cướp giật tài sản phù hợp từng thời điểm, đồng thời có biện pháp tổ
chức sản xuất, phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương
để giải quyết việc làm hợp lý cho người dân; Huy động các cơ quan ban
ngành trong toàn xã hội làm tốt chức năng của mình góp phần xây dựng xã
hội mới về mọi mặt, chủ động đấu tranh bài trừ tệ nạn xã hội, cướp giật,
trộm cắp và các hiện tượng xã hội tiêu cực khác, kịp thời phát hiện xử lý
mọi hành vi vi phạm pháp luật [38] .
Thứ hai, phối hợp giữa các lực lượng hữu quan xây dựng kế hoạch tổ
chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để từng bước nâng cao ý thức
pháp luật cho người dân. Tuyên truyền giáo dục giúp cho quần chúng nhân
dân nhận thức rõ quy luật hoạt động và hậu quả tác hại của tội cướp giật tài
sản , từ đó có ý thức cảnh giác, tự bảo vệ mình, bảo vệ tài sản, tự giác tham
Đảng, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở; phát hiện nhiều vấn đề liên quan đến
ANTT nhất là các yếu tố có tính quy luật chi phối tình hình tội phạm, làm nền
tảng cho toàn bộ hoạt động nghiệp vụ của lực lượng Công an. ĐTCB được
tiến hành ở tất cả các đơn vị nghiệp vụ trong ngành Công an một cách thường
xuyên, liên tục và lâu dài.
Điều 3, Thông tư 18/2013/TT-BCA-C41, ngày 01/4/2013 của Bộ Công
an quy định đối tượng công tác ĐTCB gồm: địa bàn (xã, phường, thị trấn, cơ
quan doanh nghiệp…); tuyến, mục tiêu, lĩnh vực; hệ, loại đối tượng. Do vậy,
để phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản lực lượng CAND cần tiến hành
công tác ĐTCB những địa bàn tập trung đông và dễ có nhiều tài sản có thể
cướp giật được, như khu du lịch, tuyến du lịch nơi tập hợp các khu du lịch
hoặc các hoạt động dịch vụ du lịch liền kề tập trung nhiều khách sạn, nhà
nghỉ, dịch vụ ăn uống, mua sắn… mà khách du lịch, người dân thường xuyên
tụ tập, lui tới để thăm quan, du lịch và kinh doanh. Ngoài ra, công tác ĐTCB
cần được tiến hành đối với hệ loại những đối tượng có điều kiện, khả năng
tham gia, thực hiện tội cướp giật tài sản.
Hai là, công tác sưu tra: Công tác sưu tra của lực lượng CAND là một
quá trình điều tra, nghiên cứu về những người có điều kiện, khả năng phạm
tội hoặc đang có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội nhằm mục đích nắm
tình hình của các loại đối tượng, chủ động phát hiện và có biện pháp tác động
đấu tranh, ngăn chặn không để tội phạm xảy ra. Đây là một trong những công
tác NVCB đặc biệt quan trọng đối với lực lượng CAND trong phòng ngừa,
phát hiện, điều tra tội phạm nói chung và tội cướp giật nói riêng.
Tiến hành sưu tra phải nắm được diễn biến của các đối tượng sưu tra có
điều kiện, khả năng hoặc có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội cướp giật
tài sản nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng; nắm lai lịch, tiền án, tiền
sự, các mối quan hệ xã hội của đối tượng một cách có hệ thống, chính xác và
kịp thời. Trên cơ sở đó nghiên cứu phân loại đối tượng một cách chuẩn xác để
và phát triển của công tác sưu tra nhằm tập trung xác minh làm rõ những dấu
hiệu nghi vấn về hoạt động phạm tội cụ thể của đối tượng; những vấn đề nghi
vấn và đi đến kết luận vấn đề nghi vấn ấy có phải là tội phạm; có hành vi
phạm tội hay không. Xác định khi một người có hành vi giống với hành vi
của người đang chuẩn bị hoặc đang hoạt động phạm tội cướp giật tài sản nói
chung và nói riêng; có dấu hiệu nghi vấn che dấu tung tích, thay đổi nhận
dạng, chuẩn bị phương tiện, công cụ; trên người, tại chỗ ở hoặc nơi làm việc
có dấu vết, tài liệu hoặc tài sản nghi là vật chứng của vụ án, có công cụ,
phương tiện có liên quan đến hoạt động phạm tội... đặc biệt là biểu hiện che
giấu hoặc ngụy trang những bất minh về kinh tế và bất minh thời gian trước,
trong và sau khi gây án.[12]
Căn cứ xác định đối tượng hiềm nghi là dựa vào kinh nghiệm, kiến thức
hiểu biết pháp luật của cán bộ trinh sát; vào phương thức, thủ đoạn hoạt động
của loại tội phạm này và những tài liệu, chứng cứ thu thập được có khả năng
liên quan đến hành vi phạm tội của các đối tượng, những hành vi đó có đủ yếu
tố cấu thành mặt khách quan của tội cướp giật tài sản. Để có cơ sở xác lập,
xác minh hiềm nghi, cần tiến hành công tác sưu tra, quản lý đối tượng một
cách có hệ thống gắn với công tác ĐTCB ở các địa bàn khác nhau để nắm mọi
diễn biến hoạt động của các loại đối tượng có tiền án, tiền sự và đối tượng có
biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội cướp giật tài sản [12].
Việc xác lập, xác minh hiềm nghi là cần thiết nhằm tập trung vào đối
tượng “điểm” nổi cộm cần đấu tranh, tránh dàn trải và áp dụng các biện pháp
nghiệp vụ tràn lan, kém hiệu quả. Trên thực tế có nhiều vụ việc, hiện tượng
“nghiêm trọng” bước đầu mới có dấu hiệu nghi liên quan đến hoạt động phạm
tội cướp giật tài sản , nhưng chưa có đầy đủ căn cứ để kết luận, do vậy cần
thiết phải có bước xác lập hiềm nghi để áp dụng các biện pháp nghiệp vụ làm
rõ. Tuy nhiên, việc xác lập, xác minh hiềm nghi về người chỉ tiến hành đối với
các trường hợp đối tượng hoạt động nghiêm trọng, có phương thức thủ đoạn
thông tin, tài liệu liên quan đến hoạt động phạm tội, được tiến hành bằng các
lực lượng, phương pháp, chiến thuật, phương tiện bí mật trong khuôn khổ
pháp luật và theo các quy định của ngành, nhằm thực hiện chức năng quản lý
Nhà nước về ANTT và trực tiếp phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, điều tra
khám phá tội phạm.[12]
Xây dựng và sử dụng CTVBM trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật
tài sản là quá trình lực lượng CSND lựa chọn, xây dựng và sử dụng những
người ngoài biên chế của ngành Công an để phát hiện, thu thập thông tin tài
liệu liên quan đến hoạt động của tội cướp giật tài sản nói chung, nói riêng hoặc
tư vấn cho lực lượng CSND về những địa bàn du lịch, điểm du lịch, tuyến du
lịch mà đối tượng phạm tội cướp giật tài sản thường hoạt động, từ đó có biện
pháp chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm này.
Xây dựng và sử dụng có hiệu quả CTVBM, đặc biệt là mạng lưới đặc
tình, cơ sở bí mật ở các địa bàn, tuyến liên quan đến các khu tập trung đông
dân cư hoặc các khu có nhiều điều kiện để thực hiện hành vi tiếp cận và cướp
giật tài sản,… nhằm mục đích thu thập và phát hiện kịp thời những tin tức về
đối tượng gây án, các băng, nhóm, tổ chức tội cướp giật đang hình thành, phát
triển. Biện pháp này có tác dụng trong việc phát hiện những tin tức ban đầu về
hoạt động phạm tội, đồng thời còn có thể sử dụng phục vụ công tác điều tra
phát hiện tội phạm bằng các kế hoạch trinh sát cần thiết như đi sâu vào băng,
nhóm, tổ chức tội cướp giật.[12]
Ngoài ra, lực lượng CSND cần phải nâng cao hiệu quả công tác điều tra
giải quyết các vụ án cướp giật tài sản nói chung, nói riêng, xử lý triệt để các
đối tượng phạm tội sẽ góp phần phòng ngừa tích cực, bởi vì, nếu vụ án xảy ra
mà không điều tra khám phá được hoặc khám phá chậm trễ, để đối tượng trốn
tránh ngoài xã hội, thì đối tượng phạm tội lại tiếp tục hoạt động mạnh mẽ hơn,
táo bạo hơn. Do vậy, muốn phòng ngừa tích cực, không để tội phạm xảy ra,
lực lượng CSND cần tiến hành các chiến dịch truy quét, tiến công thường
Kết quả nghiên cứu trên, sẽ tạo cơ sở pháp lý quan trọng để tiếp tục
nghiên cứu thực trạng của hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài
sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.